Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại hội sở Ngân hàng thương mại CP Kỹ Thương VN - Pdf 29

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Gần 20 năm sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đất nớc ta đã có những
chuyển biến sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính trị ổn
định, kinh tế tăng trởng bền vững đã thúc đẩy các hoạt động đầu t, xây dựng,
kinh doanh, buôn bán phát triển, tạo tiền đề cho việc tăng việc làm, thu nhập
và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho ngời dân. Cùng với sự phát triển của
nền kinh tế thị trờng, hàng hoá tiêu dùng trở nên phong phú và đa dạng với nhiều
chủng loại, mẫu mã khác nhau phù hợp với nhu cầu ngời mua. Tuy nhiên, với
mức thu nhập hiện nay, phần lớn ngời tiêu dùng không thể chi trả cho tất cả các
nhu cầu mua sắm cùng lúc, đặc biệt là với những vật dụng đắt tiền. Nắm bắt đợc
thực tế đó, các ngân hàng đã thực hiện cung cấp các khoản cho vay tiêu dùng dới
nhiều hình thức nhằm tạo điều kiện cho khách hàng có thể thoả mãn nhu cầu của
mình trớc khi có khả năng thanh toán. Và chỉ trong một thời gian ngắn sau khi
sản phẩm này ra đời, số lợng khách hàng tìm đến ngân hàng tăng lên không
ngừng đã tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho ngân hàng. Mặc dù vậy, so với hoạt
động tín dụng thì cho vay tiêu dùng vẫn chiếm một tỷ trọng vô cùng nhỏ bé cả về
doanh số cho vay lẫn d nợ và cha thực sự phát huy vai trò vốn có của nó. Với t
cách là trung gian quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế, các ngân hàng phải làm
gì để đẩy mạnh hơn nữa hoạt động cho vay tiêu dùng, trở thành kênh kết nối hiệu
quả giữa nguồn vốn huy động đợc với nhu cầu bị giới hạn bởi khả năng thanh
toán từ đó tạo ra lợi nhuận cho mình và cho sự phát triển chung của toàn xã hội.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của hoạt động cho vay tiêu dùng trong đời sống
xã hội nói chung và đối với ngân hàng nói riêng, sau thời gian thực tập tại Hội sở
ngân hàng thơng mại cổ phần Kỹ Thơng Việt Nam kết hợp với những kiến thức
thu thập đợc trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình, em đã chọn Giải
pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại hội sở Ngân hàng thơng mại
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cổ phần Kỹ Thơng Việt Nam làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp
và luận văn của mình. Kết cấu của chuyên đề tốt nghiệp ngoài phần Lời nói đầu,

phơng diện, từ sự ra đời của các sản phẩm dịch vụ mới cho đến sự xuất hiện
của các tập đoàn ngân hàng quy mô lớn có thể cho vay đối với hàng triệu ngời
tiêu dùng và số lợng lớn các cơ quan, chính quyền địa phơng.
Trong mọi thời kỳ, ngân hàng là một trong những thành viên quan trọng
nhất trên thị trờng trái phiếu và tín phiếu do chính quyền địa phơng phát hành
để tài trợ cho các công trình công cộng từ hội trờng, sân bóng cho đến sân bay,
đờng cao tốc
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Có thể nói rằng, mỗi chủ thể trong nền kinh tế dù trực tiếp hay gián tiếp
đều ít nhất một lần đợc hởng những lợi ích do hoạt động của ngân hàng mang
lại. Vậy ngân hàng là gì?
Do hoạt động ngân hàng có liên quan đến hầu hết các lĩnh vực trong nền
kinh tế nên khó có thể đa ra một khái niệm thống nhất về ngân hàng mà tuỳ
thuộc mục đích và khía cạnh nghiên cứu. Khi xét trên phơng diện những loại
hình dịch vụ cung cấp, ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một
danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và
dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ
một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Song dới giác độ nghiên cứu của một nhà quản lý, chúng ta có thể đa ra
một khái niệm chung nhất về ngân hàng nh sau Ngân hàng là loại hình tổ
chức tín dụng đợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động
kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các
loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thơng mại, ngân hàng phát triển, ngân
hàng đầu t, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân
hàng khác .
1.1.2.Khái niệm tín dụng ngân hàng
1.1.2.1.Tín dụng là gì?
Khó có thể đa ra một định nghĩa rõ ràng về tín dụng, vì vậy tuỳ thuộc góc
độ nghiên cứu mà chúng ta có thể xác định nội dung của thuật ngữ này.

thực hiện đợc nguyên tắc này phải xác định lãi xuất danh nghĩa lớn
hơn tỷ lệ lạm phát, hay nói cách khác phải xác định lãi xuất thực d-
ơng.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay đợc cấp trên cơ sở cam
kết hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác
định quan hệ tín dụng nh hợp đồng tín dụng, khế ớc Thực chất là
lệnh phiếu, trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho
bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
1.1.2.2. Các loại hình cho vay của ngân hàng.
Hoạt động cấp tín dụng giữ vai trò quan trọng đối với bản thân ngân hàng
bởi thu nhập từ hoạt động này không những chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu
nhập của ngân hàng mà còn đảm bảo cho việc trả lãi các nguồn vốn huy động.
Việc cấp tín dụng đợc thực hiện trên cơ sở nguồn vốn huy động đợc và nhu
cầu về vốn của khách hàng. Hoạt động cấp tín dụng có thể hiểu là việc mua
bán quyền sử dụng vốn tệ trong đó ngời mua là các chủ thể kinh tế có nhu
cầu về vốn để tài trợ cho các hoạt động nh: Sản xuất kinh doanh, mua sắm,
dự trữ còn ng ời bán chính là ngân hàng.
Để hiểu rõ hơn về hoạt động này, chúng ta cần phân loại chúng theo những
tiêu thức nhất định:
- Căn cứ theo thời hạn cho vay
+ Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cấp tín dụng thờng có thời hạn dới một
năm và mục đích sử dụng chủ yếu là để bù đắp sự thiếu hụt vốn tạm thời nh
phục vụ cho thanh toán tiền hàng hoá, tài trợ vốn lu động hay thanh toán ngoại
thơng
+ Cho vay trung hạn: Đây là hình thức cấp tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5
năm và thờng sử dụng để đổi mới trang thiết bị, mua sắm máy móc mà thời
gian khấu hao thờng không quá dài để có thể hoàn trả vốn đúng hạn cho ngân
hàng.

định một khối lợng tiêu dùng mà khách hàng đợc phép vay của ngân hàng
trong một thời gian nhất định, hết thời gian này thì số còn lại mà khách hàng
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
không sử dụng sẽ không còn giá trị nữa. Trong hợp đồng hạn mức có thể bao
gồm các điều khoản nh việc sử dụng vốn vay, lãi suất, kỳ hạn trả nợ, cung cấp
các báo cáo tài chính và các dữ liệu về tình hình sản xuất- kinh doanh khác, tài
sản đảm bảo, và trong trờng hợp vỡ nợ, các điều khoản liên quan đến việc
chấm dứt hợp đồng chi trả những khoản vay còn tồn đọng. Trong thời gian của
hợp đồng hạn mức, khi khách hàng có nhu cầu vay vốn mà không vợt quá hạn
mức đã ký thì chỉ cần nộp đơn xin vay và lập hợp đồng vay là đợc ngân hàng
xem xét với những điều kiện vay vốn đã đợc thoả thuận trớc trong hợp đồng
hạn mức tín dụng.
+ Cho vay từng lần: Đây là hình thức cấp tín dụng mà ngân hàng và ng-
ời vay sẽ ký kết hợp đồng riêng đối với mỗi khoản vay khi khách hàng có nhu
cầu. Mỗi lần khách hàng có nhu cầu vay vốn thì việc ký kết hợp đồng đợc thực
hiện từ đầu, khách hàng và ngân hàng sẽ thoả thuận riêng cho từng lần đó về
số lợng tín dụng, thời hạn khoản vay, lãi suất áp dụng, tài sản đảm bảo, báo
cáo tài chính
1.2. Lý luận tổng quan về cho vay tiêu dùng
1.2.1. Sự hình thành và phát triển của cho vay tiêu dùng
Cho vy tiêu dùng đợc hình thành và phát triển từ việc giải quyết hai mâu
thuẫn. Đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu tiêu dùng và khả năng thanh toán của các
cá nhân ngời tiêu dùng và mâu thuẫn giữa sản xuất hàng hoá và tiêu thụ hàng
hoá tiêu dùng.
Với mâu thuẫn thứ nhất, ngời tiêu dùng hay còn gọi là ngời nhận tài trợ, là
những ngời thuộc mọi tầng lớp dân c, không phân biệt màu da, lứa tuổi, nghề
nghiệp, trình độ học vấn là những ng ời có công việc và thu nhập ổn định, có
nhu cầu mua sắm nhằm nâng cao chất lợng cuộc sống khi cha có đủ tiền để
thực hiện những mong muốn trên. Thuật ngữ nhu cầu ở đây đợc hiểu theo ba

- Phân theo mức thu nhập
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Những ngời có thu nhập thấp: Nhu cầu tín dụng của nhóm ngời này
thờng rất hạn chế do nguồn thu nhập không đủ để thoả mãn những nhu cầu đa
dạng của họ. Tuy nhiên, họ cũng có những mong muốn chi tiêu không khác
mấy so với với những ngời có thu nhập cao hơn. Do đó, nếu có biện pháp phù
hợp cũng có thể hình thành đợc các khoản vay hợp lý đến các nhóm đối tợng
này.
+ Những cá nhân có thu nhập trung bình: Nhu cầu tín dụng của nhóm
này có xu hớng tăng trởng ngày càng mạnh bởi khoản tích luỹ của nhóm này
tuy ít song thu nhập trong tơng lai của họ có phần ổn định có thể chi trả cho
những nhu cầu tiêu dùng hiện tại.
+ Những cá nhân có thu nhập cao: Những ngời này thờng cần tới những
khoản vay với t cách là những khoản phụ trợ linh hoạt, trợ giúp thêm cho khả
năng thanh toán đặc biệt khi tiền của họ đã bị trói chặt vào những khoản đầu t
dài hạn. Mặc dù việc vay mợn nhằm mục đích tiêu dùng của họ chỉ thể hiện
một tỷ trọng nhỏ trong tổng số tài sản mà họ sở hữu nhng lại là những món
tiền lớn so với các nhóm khách hàng khác nên các ngân hàng tỏ ra đặc biệt
quan tâm đến nhóm khách hàng này.
- Phân theo tình trạng công tác hay lao động: Nhu cầu tiêu dùng của các
cá nhân còn phụ thuộc vào tính chất công việc, nghề nghiệp hoặc nơi công tác.
Xét theo khía cạnh này, chúng ta có các nhóm khách hàng sau:
+ Những ngời làm công ăn lơng.
+ Những ngời có công việc kinh doanh riêng.
+ Những ngời hành nghề chuyên nghiệp (Bác sĩ, ca sĩ, t vấn ).
+ Những ngời lao động tự do.
Trên thực tế, những ngời thuộc 3 nhóm đầu có thu nhập cao và ổn định hơn
so với những ngời thuộc nhóm cuối nên nhu cầu vay tiêu dùng cũng chủ yếu
phát sinh từ 3 nhóm trên.

11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thơng mại thì ngày nay họ đã mở rộng thêm hoạt động cho vay tiêu dùng đặc
biệt là sau cuộc khủng hoảng vào những năm 1930.
Cải cách lớn nhất trong lĩnh vực tài chính trong thời gian này là việc các
qui định về kiểm soát tiền tệ và các qui định khác đối với các tổ chức tài chính
làm nhiệm vụ ký thác đã đợc ban hành thành luật. Sắc luật này cho phép các
ngân hàng tiết kiệm công cộng liên bang đợc kinh doanh, hợp tác và có các
quan hệ cho vay với các doanh nghiệp nhận tiền ký thác, đơc tiến hành cho
vay tiêu dùng và cung ứng các dịch vụ khác.
Nh vậy hệ thống ngân hàng Mỹ đã có sự cải tổ để nâng cao tính cạnh tranh
không chỉ với các tổ chức tài chính trong nớc mà với cả các tổ chức nớc ngoài.
Từ đó cho vay tiêu dùng đã ra đời và chính thức đợc công nhận nh một nghiệp
vụ của ngân hàng. Đến năm 1987, sau khoảng 7 năm ban hành luật này, các
ngân hàng Mỹ đã cung cấp 80% khối lợng tín dụng tiêu dùng, trong đó 45%
dựa trên cơ sở cho vay trả góp. Ngày nay cho vay tiêu dùng đã phát triển mạnh
theo xu thế chung của nền kinh tế thế giới.
Một yếu tố khách quan nữa thúc đẩy hoạt động cho vay tiêu dùng là xuất
phát từ mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng. Thông qua mối quan hệ
này, ngân hàng thấy đợc các nhu cầu từ cả phía ngời sản xuất lẫn ngời tiêu
dùng: Các nhà sản xuất cần có sự hỗ trợ để gia tăng tiêu thụ hàng hoá còn ngời
tiêu dùng cần tìm nguồn tài trợ cho các nhu cầu của mình.
1.2.4. Khái niệm cho vay tiêu dùng
1.2.4.1. Khái niệm
Có nhiều quan điểm khác nhau về cho vay tiêu dùng, có ngời cho rằng:
Cho vay tiêu dùng là hình thức cấp tín dụng đối với ngời tiêu dùng nhằm tài
trợ cho chính sự tiêu dùng, ngời khác lại nói: Tín dụng tiêu dùng là quan hệ
kinh tế giữa một bên là ngân hàng và một bên là cá nhân ngời tiêu dùng, trong
đó ngân hàng chuyển giao tiền cho khách hàng với nguyên tắc ngời đi vay
(khách hàng) sẽ hoàn trả cả gốc lẫn lãi tại một thời điểm xác định trong tơng

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Vì đối tợng của hoạt động cho vay tiêu dùng là các cá nhân, hộ gia đình
nên bên cạnh các yếu tố khách quan từ bên ngoài còn có các yéu tố chủ quan
từ chính ngời tiêu dùng. Các yếu tố khách quan nh thiên tai, bệnh tật, mất
mùa, thất nghiệp và chu kỳ kinh tế. Thời kỳ nền kinh tế mở rộng và mọi ngời
dân đều lạc quan tin tởng vào tơng lai thì nhu cầu tiêu dùng sẽ tăng lên nhng
khi nền kinh tế suy thoái, các cá nhân, hộ gia đình thờng có t tởng phòng bị
cho tơng lai, họ sẽ hạn chế tiêu dùng và tăng cờng tích luỹ. Đây là thời kỳ khó
khăn cho các nhà sản xuất và các ngân hàng trong việc phát triển các sản
phẩm, dịch vụ. Ngoài ra, cho vay tiêu dùng còn chịu ảnh hởng bởi các yếu tố
chủ quan từ phía ngời tiêu dùng khi họ muốn vay mợn để chi tiêu nhng không
muốn trả. Trong những trờng hợp nh vậythì dù có nắm giữ tài sản đảm bảo hay
không thì các ngân hàng vẫn phải đối mặt với rủi ro giảm thu nhập. Mặt khác,
do các khoản vay tiêu dùng có lãi suất cứng nhắc nên khi chi phí huy động
tăng lên, ngân hàng phải đối mặt với rủi ro lãi suất.
- Các khoản cho vay tiêu dùng có chi phí khá lớn
Đặc điểm của các khoản cho vay tiêu dùng là qui mô mỗi khoản vay nhỏ,
thời gian vay thờng không dài trong khi tâm lý ngời đi vay là không muốn
công khai tình hình tài chính nên việc thẩm định trớc khi cho vay tốn nhiều
thời gian và chi phí. Đồng thời, số lợng các khoản vay tiêu dùng lớn nên ngoài
các chi phí trên ngân hàng còn phải chịu các chi phí khác nh chi phí quản lý
khoản vay, theo dõi và kiểm tra khách hàng thờng xuyên
- Cho vay tiêu dùng là một trong những khoản mục tín dụng có khả năng
sinh lời cao nhất mà ngân hàng thực hiện, do các khoản cho vay tiêu dùng đợc
định giá rất cao (bao hàm cả một phần rủi ro lãi suất) đến mức mà bản thân lãi
suất vay vốn trên thị trờng lẫn tỷ lệ tổn thất tín dụng phải tăng lên đáng kể thì
hầu hết các khoản cho vay tiêu dùng mới không mang lại lợi nhuận. Việc định
giá cao là do cho vay tiêu dùng là khoản mục cho vay có chi phí lớn và đọ rủi
ro cao. Hơn nữa khi vay tiền, ngời tiêu dùng dờng nh kém nhạy cảm với lãi
14

ngời đi vay trả nợ (gồm cả gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ
hạn nhất định trong thời hạn cho vay, phơng thức này thờng áp dụng cho các
khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập từng kỳ của ngời đi vay không đủ để
thanh toán hết một lần số nợ vay.
Đối với loại cho vay tiêu dùng này, các ngân hàng thờng chú ý đến một số
vấn đề cơ bản, có tính nguyên tắc sau:
+ Loại tài sản đợc tài trợ:
Thực tế cho thấy thiện chí trả nợ của ngời vay sẽ tốt hơn rất nhiều nếu tài
sản đợc hình thành từ tiền vay đáp ứng nhu cầu cấp thiết của họ lâu dài trong t-
ơng lai. Khi lựa chọn tài sản để tài trợ, ngân hàng thờng chú ý đến điều này
nên chỉ muốn tài trợ cho nhu cầu mua sắm đối với tài sản có thời hạn sử dụng
lâu bền và có giá trị lớn vì với những tài sản này, ngời tiêu dùng sẽ đợc hởng
những tiện ích từ chúng trong một thời gian dài.
+ Số tiền phải trả trớc:
Ngân hàng yêu cầu ngời đi vay phải thanh toán trớc một phần giá trị tài sản
cần mua sắm- số tiền này đợc gọi là số tiền phải trả trớc, phần còn lại ngân
hàng sẽ cho vay, số tiền trả trớc cần phải đủ lớn để một mặt làm cho ngời vay
nghĩ rằng họ chính là chủ sở hữu của tài sản, mặt khác có tác dụng hạn chế rủi
ro cho ngân hàng. Một khi không cảm nhận đợc rằng mình là chủ sở hữu của
tài sản hình thành từ tiền vay thì ngời vay có thái độ miễn cỡng trong việc trả
nợ. Ngoài ra, khi khách hàng không trả nợ trong nhiều trờng hợp ngân hàng
đành phải bán và thanh lý tài sản để thu hồi nợ.
Số tiền phải trả trớc thờng phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Loại tài sản: Đối với các tài sản có mức độ giảm giá nhanh thì số
tiền phải trả trớc nhiều và ngợc lại, đối với các tài sản có mức độ giảm giá
chậm. Thì số tiền phải trả trớc ít.
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thị trờng tiêu thụ tài sản sau khi đã sử dụng: nếu hàng hoá đó đợc
tiêu thụ một cách nhanh chóng và dễ dàng sau khi sử dụng thì số tiền trả tr-

Số tiền khách hàng phải thanh toán cho ngân hàng mỗi kỳ hạn trả nợ
có thể đợc tính theo một trong các cách sau đây:
Phơng pháp gộp: Đây là phơng pháp thờng đợc áp dụng trong cho
vay tiêu dùng trả góp, do tính chất đơn giản và dễ hiểu của nó. Theo phơng
pháp này, trớc hết lãi đợc tính bằng cách lấy vốn gốc nhân với lãi suất và thời
hạn vay, sau đó cộng gộp vào vốn gốc rồi chia cho số kỳ hạn phải thanh toán
để tìm số tiền phải thanh toán ở mỗi kỳ trả.
Phơng pháp lãi đơn: Theo phơng pháp này, vốn gốc ngời đivay phải
trả từng kỳ hạn trả nợ đợc tính đều nhau bằng cách lấy vốn vay ban đầu chia
cho số kỳ hạn thanh toán, còn lãi phải trả mỗi kỳ đợc tính trên số tiền mà
khách hàng thực sự còn thiếu đối với ngân hàng.
+ Vấn đề phân bổ lãi cho vay theo thời gian:
Khi sử dụng phơng pháp gộp để tính lãi, các ngân hàng thờng tiến hành
phân bổ phần lái cho vay đã đợc tính. Việc phân bổ có thể đợc thực hiện theo
định kỳ gắn liền với các kỳ hạn thanh toán hoặc cũng có thể đợc thực hiện
theo quí hoặc theo năm tài chính.
+ Vấn đề trả nợ trớc hạn:
Thông thờng ngời đi vay đợc quyền thanh toán tiền vay trớc hạn mà không
bị phạt. Nếu tiền trả góp tính theo phơng pháp lãi đơn thì vấn đề rất đơn giản,
ngời vay phải thanh toán toàn bộ vốn gốc còn thiếu và lãi vay của kỳ hạn hiện
tại (nếu có) cho ngân hàng. Tuy nhiên, nếu tiền trả góp đợc tính theo phơng
pháp gộp thì sẽ phức tạp hơn. Vì theo phơng pháp này, lãi đợc tính dựa trên cơ
sở giả định rằng tiền vay sẽ đợc sử dụng cho đến lúc kết thúc hợp đồng, cho
nên nếu khách hàng trả trớc hạn thì thời hạn trả nợ thực tế sẽ khác thời hạn đã
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
giả định ban đầu và nh vậy số tiền lãi phải trả cũng có sự thay đổi. Khi đó ngời
ta phải sử dụng phơng pháp phân bổ lãi cho vay theo thời gian.
- Cho vay tiêu dùng phi trả góp: Đây là hình thức cho vay mà
tiền vay đợc khách hàng thanh toán chỉ một lần khi đến hạn. Thờng thì các

(5): Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ.
(6): Ngời tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng.
+ Cho vay tiêu dùng gián tiếp có u điểm:
Cho phép ngân hàng dễ dàng tăng doanh số cho vay tiêu dùng.
Cho phép ngân hàng tiết kiệm đợc chi phí trong cho vay.
Là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt
động khác.
Trong trờng hợp có quan hệ với những công ty bán lẻ tốt, cho vay
tiêu dùng gián tiếp an toàn hơn cho vay tiêu dùng trực tiếp.
+ Bên cạnh những u điểm trên, cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số
nhợc điểm sau:
Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với ngời tiêu dùng đã đợc bán
chịu.
Thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc
bán chịu hàng hoá.
20
Ngời tiêu
dùng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Kỹ thuật nghiệp vụ cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp cao.
- Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Là các khoản cho vay tiêu dùng
trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng nh trực tiếp
thu nợ từ những ngời này. Cho vay tiêu dùng trực tiếp thờng đợc thực hiện
theo sơ đồ sau:
(1): Ngân hàng và ngời tiêu dùng ký kết hợp đồng vay.
(2): Ngời tiêu dùng tả trớc một phần số tiền mua tài sản cho công ty bán
lẻ.
(3): Ngân hàng thanh toán số tiền mua tài sản còn thiếu cho công ty bán
lẻ.
(4): Công ty bán lẻ giao tài sản cho ngời tiêu dùng.

mãn nhu cầu của họ hơn.
1.2.5. Sự khác nhau giữa cho vay tiêu dùng và cho vay kinh doanh của
ngân hàng thơng mại
Mặc dù cho vay tiêu dùng và cho vay kinh doanh đều là hình thức cấp tín
dụng của ngân hàng song giữa chúng vẫn có những điểm khác biệt lớn.
Cho vay tiêu dùng Cho vay kinh doanh
Đối tợng Các cá nhân và hộ gia đình Gồm cả các cá nhân, hộ gia
đình và các hãng kinh doanh
Mục đích sử dụng vốn
vay
Nhằm mục đích phục vụ đời
sống nh mua sắm các hàng hoá,
dịch vụ, xây dung và sửa chữa
Nhằm tài trợ cho việc xây
dựng nhà xởng, mua sắm
trang thiết bị máy móc,
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhà cửa nguyên vật liệu phục vụ
cho sản xuất kinh doanh
Đặc điểm - Các khoản cho vay tiêu dùng
thờng có lãi suất cứng nhắc.
- Các khoản cho vay tiêu dùng
có độ rủi ro cao.
- Quy mô mỗi khoản vay tiêu
dùng nhỏ nhng số lợng các
khoản vay tiêu dùng lớn.
- Các khoản cho vay tiêu dùng
mang lại lợi nhuận cao cho
ngân hàng.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.4. Các nguồn cho vay tiêu dùng
1.2.4.1. Các công ty tài chính
Công ty tài chính là tổ chức cung ứng tín dụng tiêu dùng quan trọng nhất,
xét trong bối cảnh cho vay tiêu dùng đã đợc phát triển đáng kể. Những hình
thức tín dụng tiêu dùng mà công ty tài chính cung cấp là cho thuê, các khoản
vay mua bất động sản.
Phần lớn quỹ của công ty tài chínhđợc hình thành từ tiền gửi của khách
hàng, ngoài ra là các khoản vay của chính công ty, vốn góp và lợi nhuận để lại.
1.2.4.2. Ngân hàng thơng mại
Các ngân hàng thơng mại có vai trò khá quan trọng trong cho vay tiêu
dùng. Các hình thức cho vay tiêu dùng của ngân hàng thơng mại cúng khá đa
dạng nh cho vay để mua xe, mua nhà, đi du học, du lịch, mua sắm vạt dụng
gia đình . Khác với các n ớc đang phát triển, nơi mà việc đánh giá tài sản thế
chấp còn nhiều phức tạp và các ngân hàng còn hạn chế cho vay tiêu dùng, ở
các nớc đang phát triển, cho vay tiêu dùng là một loại hình tài sản có khá phổ
biến, có khả năng sinh lời cao nhất mà ngân hàng thực hiện.
1.2.4.3. Hiệu cầm đồ
Đối với ngời tiêu dùng, các hiệu cầm đồ có khả năng cung cấp các khoản
cho vay quy mô nhỏ, phù hợp với nhu cầu vốn không lớn của khách hàng,
đồng thời đây là những nhu cầu mang tính ngắn hạn, việc mà các ngân hàng
không mấy a thích.
Phần lớn khách hàng của hiệu cầm đồ thuộc nhóm có thu nhập thấp, những
ngời gặp khó khăn khi vay ngân hàng hoặc công ty tài chính do chỉ đa ra
những đảm bảo không chắc chắn, bởi uy tín và t cách không rõ ràng
Mô hình hoạt động của một hiệu cầm đồ khá đơn giản. Các cá nhân đem
các vật có gía trị đến hiệu cầm đồ để vay một khoản tiền. Lợng tiền có đợc
phụ thuộc vào giá trị của vật đem cầm cố, thị trờng của tài sản đó, thời gian sử
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status