Lời nói đầu
Gần 20 năm sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đất nớc ta đã có
những chuyển biến sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính trị
ổn định, kinh tế tăng trởng bền vững đã thúc đẩy các hoạt động đầu t, xây dựng,
kinh doanh, buôn bán phát triển, tạo tiền đề cho việc tăng việc làm, thu nhập
và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho ngời dân. Cùng với sự phát triển của
nền kinh tế thị trờng, hàng hoá tiêu dùng trở nên phong phú và đa dạng với nhiều
chủng loại, mẫu mã khác nhau phù hợp với nhu cầu ngời mua. Tuy nhiên, với
mức thu nhập hiện nay, phần lớn ngời tiêu dùng không thể chi trả cho tất cả các
nhu cầu mua sắm cùng lúc, đặc biệt là với những vật dụng đắt tiền. Nắm bắt đợc
thực tế đó, các ngân hàng đã thực hiện cung cấp các khoản cho vay tiêu dùng dới
nhiều hình thức nhằm tạo điều kiện cho khách hàng có thể thoả mãn nhu cầu của
mình trớc khi có khả năng thanh toán. Và chỉ trong một thời gian ngắn sau khi
sản phẩm này ra đời, số lợng khách hàng tìm đến ngân hàng tăng lên không
ngừng đã tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho ngân hàng. Mặc dù vậy, so với hoạt
động tín dụng thì cho vay tiêu dùng vẫn chiếm một tỷ trọng vô cùng nhỏ bé cả về
doanh số cho vay lẫn d nợ và cha thực sự phát huy vai trò vốn có của nó. Với t
cách là trung gian quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế, các ngân hàng phải làm
gì để đẩy mạnh hơn nữa hoạt động cho vay tiêu dùng, trở thành kênh kết nối hiệu
quả giữa nguồn vốn huy động đợc với nhu cầu bị giới hạn bởi khả năng thanh
toán từ đó tạo ra lợi nhuận cho mình và cho sự phát triển chung của toàn xã hội.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của hoạt động cho vay tiêu dùng trong đời
sống xã hội nói chung và đối với ngân hàng nói riêng, sau thời gian thực tập tại
Hội sở ngân hàng thơng mại cổ phần Kỹ Thơng Việt Nam kết hợp với những
kiến thức thu thập đợc trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình, em đã
chọn Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại hội sở Ngân
1
hàng thơng mại cổ phần Kỹ Thơng Việt Nam làm đề tài nghiên cứu cho
chuyên đề tốt nghiệp và luận văn của mình. Kết cấu của chuyên đề tốt nghiệp
ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo gồm 3 chơng:
Chơng I: Lý luận tổng quan về hoạt động cho vay tiêu dùng
Trong mọi thời kỳ, ngân hàng là một trong những thành viên quan trọng
nhất trên thị trờng trái phiếu và tín phiếu do chính quyền địa phơng phát hành
để tài trợ cho các công trình công cộng từ hội trờng, sân bóng cho đến sân bay,
đờng cao tốc
3
Có thể nói rằng, mỗi chủ thể trong nền kinh tế dù trực tiếp hay gián tiếp
đều ít nhất một lần đợc hởng những lợi ích do hoạt động của ngân hàng mang
lại. Vậy ngân hàng là gì?
Do hoạt động ngân hàng có liên quan đến hầu hết các lĩnh vực trong nền
kinh tế nên khó có thể đa ra một khái niệm thống nhất về ngân hàng mà tuỳ
thuộc mục đích và khía cạnh nghiên cứu. Khi xét trên phơng diện những loại
hình dịch vụ cung cấp, ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một
danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và
dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ
một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Song dới giác độ nghiên cứu của một nhà quản lý, chúng ta có thể đa ra
một khái niệm chung nhất về ngân hàng nh sau Ngân hàng là loại hình tổ
chức tín dụng đợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động
kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các
loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thơng mại, ngân hàng phát triển, ngân
hàng đầu t, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân
hàng khác .
1.1.2.Khái niệm tín dụng ngân hàng
1.1.2.1.Tín dụng là gì?
Khó có thể đa ra một định nghĩa rõ ràng về tín dụng, vì vậy tuỳ thuộc góc
độ nghiên cứu mà chúng ta có thể xác định nội dung của thuật ngữ này.
Tuy nhiên, khi xem xét tín dụng nh là một chức năng cơ bản của ngân hàng
thì tín dụng đợc hiểu là: Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc
hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và
bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho
kết hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác
định quan hệ tín dụng nh hợp đồng tín dụng, khế ớc Thực chất là
lệnh phiếu, trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho
bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
1.1.2.2. Các loại hình cho vay của ngân hàng.
Hoạt động cấp tín dụng giữ vai trò quan trọng đối với bản thân ngân hàng
bởi thu nhập từ hoạt động này không những chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu
nhập của ngân hàng mà còn đảm bảo cho việc trả lãi các nguồn vốn huy động.
Việc cấp tín dụng đợc thực hiện trên cơ sở nguồn vốn huy động đợc và nhu
cầu về vốn của khách hàng. Hoạt động cấp tín dụng có thể hiểu là việc mua
bán quyền sử dụng vốn tệ trong đó ngời mua là các chủ thể kinh tế có nhu
cầu về vốn để tài trợ cho các hoạt động nh: Sản xuất kinh doanh, mua sắm,
dự trữ còn ng ời bán chính là ngân hàng.
Để hiểu rõ hơn về hoạt động này, chúng ta cần phân loại chúng theo những
tiêu thức nhất định:
- Căn cứ theo thời hạn cho vay
+ Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cấp tín dụng thờng có thời hạn dới một
năm và mục đích sử dụng chủ yếu là để bù đắp sự thiếu hụt vốn tạm thời nh
phục vụ cho thanh toán tiền hàng hoá, tài trợ vốn lu động hay thanh toán ngoại
thơng
+ Cho vay trung hạn: Đây là hình thức cấp tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5
năm và thờng sử dụng để đổi mới trang thiết bị, mua sắm máy móc mà thời
gian khấu hao thờng không quá dài để có thể hoàn trả vốn đúng hạn cho ngân
hàng.
+ Cho vay dài hạn: Là khoản cấp tín dụng có thời hạn trên 5 năm và th-
ờng sử dụng để xây nhà xởng, đầu t dây chuyền công nghệ với những dự án
6
sản xuất lớn có thời gian thu hồi vốn dài. Các khoản vay này thờng đòi hỏi thế
chấp và chịu nhiều rủi ro.
- Căn cứ theo khách hàng vay vốn
chấm dứt hợp đồng chi trả những khoản vay còn tồn đọng. Trong thời gian của
hợp đồng hạn mức, khi khách hàng có nhu cầu vay vốn mà không vợt quá hạn
mức đã ký thì chỉ cần nộp đơn xin vay và lập hợp đồng vay là đợc ngân hàng
xem xét với những điều kiện vay vốn đã đợc thoả thuận trớc trong hợp đồng
hạn mức tín dụng.
+ Cho vay từng lần: Đây là hình thức cấp tín dụng mà ngân hàng và ng-
ời vay sẽ ký kết hợp đồng riêng đối với mỗi khoản vay khi khách hàng có nhu
cầu. Mỗi lần khách hàng có nhu cầu vay vốn thì việc ký kết hợp đồng đợc thực
hiện từ đầu, khách hàng và ngân hàng sẽ thoả thuận riêng cho từng lần đó về
số lợng tín dụng, thời hạn khoản vay, lãi suất áp dụng, tài sản đảm bảo, báo
cáo tài chính
1.2. Lý luận tổng quan về cho vay tiêu dùng
1.2.1. Sự hình thành và phát triển của cho vay tiêu dùng
Cho vy tiêu dùng đợc hình thành và phát triển từ việc giải quyết hai mâu
thuẫn. Đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu tiêu dùng và khả năng thanh toán của các
cá nhân ngời tiêu dùng và mâu thuẫn giữa sản xuất hàng hoá và tiêu thụ hàng
hoá tiêu dùng.
Với mâu thuẫn thứ nhất, ngời tiêu dùng hay còn gọi là ngời nhận tài trợ, là
những ngời thuộc mọi tầng lớp dân c, không phân biệt màu da, lứa tuổi, nghề
nghiệp, trình độ học vấn là những ng ời có công việc và thu nhập ổn định, có
nhu cầu mua sắm nhằm nâng cao chất lợng cuộc sống khi cha có đủ tiền để
thực hiện những mong muốn trên. Thuật ngữ nhu cầu ở đây đợc hiểu theo ba
mức độ khác nhau là nhu cầu tự nhiên, mong muốn và yêu cầu.
8
Nhu cầu tự nhiên là vốn có, là một mặt gắn liền với quá trình tồn tại của
con ngời nh những đòi hỏi về ăn, ở, mặc
Mong muốn là nhu cầu có dạng đặc thù, tơng ứng với trình độ văn hoá và
nhân cách của mỗi cá nhân. Mong muốn thì có nhiều nhng khả năng đáp ứng
mong muốn là có hạn.
Yêu cầu là mong muốn gắn liền với khả năng thanh toán. Ngời ta lựa chọn
này có xu hớng tăng trởng ngày càng mạnh bởi khoản tích luỹ của nhóm này
tuy ít song thu nhập trong tơng lai của họ có phần ổn định có thể chi trả cho
những nhu cầu tiêu dùng hiện tại.
+ Những cá nhân có thu nhập cao: Những ngời này thờng cần tới những
khoản vay với t cách là những khoản phụ trợ linh hoạt, trợ giúp thêm cho khả
năng thanh toán đặc biệt khi tiền của họ đã bị trói chặt vào những khoản đầu t
dài hạn. Mặc dù việc vay mợn nhằm mục đích tiêu dùng của họ chỉ thể hiện
một tỷ trọng nhỏ trong tổng số tài sản mà họ sở hữu nhng lại là những món
tiền lớn so với các nhóm khách hàng khác nên các ngân hàng tỏ ra đặc biệt
quan tâm đến nhóm khách hàng này.
- Phân theo tình trạng công tác hay lao động: Nhu cầu tiêu dùng của các
cá nhân còn phụ thuộc vào tính chất công việc, nghề nghiệp hoặc nơi công tác.
Xét theo khía cạnh này, chúng ta có các nhóm khách hàng sau:
+ Những ngời làm công ăn lơng.
+ Những ngời có công việc kinh doanh riêng.
+ Những ngời hành nghề chuyên nghiệp (Bác sĩ, ca sĩ, t vấn ).
+ Những ngời lao động tự do.
Trên thực tế, những ngời thuộc 3 nhóm đầu có thu nhập cao và ổn định hơn
so với những ngời thuộc nhóm cuối nên nhu cầu vay tiêu dùng cũng chủ yếu
phát sinh từ 3 nhóm trên.
1.2.3. Lịch sử phát triển của cho vay tiêu dùng trên thế giới
10
Vào những năm 1980, hệ thống ngân hàng thơng mại của Mỹ phải tiến
hành cải cách với lý do dới sức ép của cạnh tranh, việc thực hiện nghiệp vụ của
các ngân hàng thơng mại gặp nhiều bất lợi. Trong thực tế, sức mạnh cạnh
tranh đã tạo ra những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ, dân số học, luật pháp
và chính nó cũng góp phần vào sự thay đổi về dịch vụ mà ngân hàng cung ứng,
đồng thời cũng làm giảm vai trò của các ngân hàng thơng mại trong hệ thống
tài chính dẫn đến sự thay đổi cơ cấu trong các ngân hàng . Môi trờng cạnh
tranh thay đổi một cách nhanh chóng, cùng với nó là việc các ngân hàng
Từ đó cho vay tiêu dùng đã ra đời và chính thức đợc công nhận nh một nghiệp
vụ của ngân hàng. Đến năm 1987, sau khoảng 7 năm ban hành luật này, các
ngân hàng Mỹ đã cung cấp 80% khối lợng tín dụng tiêu dùng, trong đó 45%
dựa trên cơ sở cho vay trả góp. Ngày nay cho vay tiêu dùng đã phát triển mạnh
theo xu thế chung của nền kinh tế thế giới.
Một yếu tố khách quan nữa thúc đẩy hoạt động cho vay tiêu dùng là xuất
phát từ mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng. Thông qua mối quan hệ
này, ngân hàng thấy đợc các nhu cầu từ cả phía ngời sản xuất lẫn ngời tiêu
dùng: Các nhà sản xuất cần có sự hỗ trợ để gia tăng tiêu thụ hàng hoá còn ngời
tiêu dùng cần tìm nguồn tài trợ cho các nhu cầu của mình.
1.2.4. Khái niệm cho vay tiêu dùng
1.2.4.1. Khái niệm
Có nhiều quan điểm khác nhau về cho vay tiêu dùng, có ngời cho rằng:
Cho vay tiêu dùng là hình thức cấp tín dụng đối với ngời tiêu dùng nhằm tài
trợ cho chính sự tiêu dùng, ngời khác lại nói: Tín dụng tiêu dùng là quan hệ
kinh tế giữa một bên là ngân hàng và một bên là cá nhân ngời tiêu dùng, trong
đó ngân hàng chuyển giao tiền cho khách hàng với nguyên tắc ngời đi vay
(khách hàng) sẽ hoàn trả cả gốc lẫn lãi tại một thời điểm xác định trong tơng
12
lai .Nh ng tựu chung lại, chúng ta có thể hiểu cho vay tiêu dùng là hình
thức cấp tín dụng trong đó ngân hàng thoả thuận để khách hàng là cá nhân
hay hộ gia đình sử dụng một khoản tiền với mục đích tiêu dùng với nguyên
tắc có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định .
Cho vay tiêu dùng là hình thức cấp tiêu dùng rất hữu ích nhằm tài trợ cho
nhu cầu chi tiêu, mua sắm, sửa chữa nhà cửa của các cá nhân, hộ gia đình.
Các khoản vay này giúp ngời tiêu dùng có thể sử dụng hàng hoá, dịch vụ trớc
khi họ có khả năng chi trả, tạo cho họ có đợc một cuộc sống với chất lợng cao
hơn nh mua xe, mua nhà, nghỉ ngơi, du lịch
1.2.4.2. Đặc điểm cho vay tiêu dùng
- Qui mô mỗi khoản vay nhỏ nhng số lợng các khoản vay lớn
tăng lên, ngân hàng phải đối mặt với rủi ro lãi suất.
- Các khoản cho vay tiêu dùng có chi phí khá lớn
Đặc điểm của các khoản cho vay tiêu dùng là qui mô mỗi khoản vay nhỏ,
thời gian vay thờng không dài trong khi tâm lý ngời đi vay là không muốn
công khai tình hình tài chính nên việc thẩm định trớc khi cho vay tốn nhiều
thời gian và chi phí. Đồng thời, số lợng các khoản vay tiêu dùng lớn nên ngoài
các chi phí trên ngân hàng còn phải chịu các chi phí khác nh chi phí quản lý
khoản vay, theo dõi và kiểm tra khách hàng thờng xuyên
- Cho vay tiêu dùng là một trong những khoản mục tín dụng có khả năng
sinh lời cao nhất mà ngân hàng thực hiện, do các khoản cho vay tiêu dùng đợc
định giá rất cao (bao hàm cả một phần rủi ro lãi suất) đến mức mà bản thân lãi
suất vay vốn trên thị trờng lẫn tỷ lệ tổn thất tín dụng phải tăng lên đáng kể thì
hầu hết các khoản cho vay tiêu dùng mới không mang lại lợi nhuận. Việc định
giá cao là do cho vay tiêu dùng là khoản mục cho vay có chi phí lớn và đọ rủi
ro cao. Hơn nữa khi vay tiền, ngời tiêu dùng dờng nh kém nhạy cảm với lãi
14
suất. Ngời tiêu dùng thờng quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là
lãi suất (mặc dù rõ ràng là lãi suất ghi trên hợp đồngảnh hởng đến qui mô số
tiền phải trả). Trong khi lãi suất không phải là một trong những yếu tố quan
trọng mà hộ gia đình quan tâm thì mức thu nhập và trình độ dân trí lại tác
động rất lớn đến việc sử dụng các khoản tiền vay của ngời tiêu dùng. Những
ngời có thu nhập ổn định thờng có xu hớng chi tiêu nhiều hơn thu nhập vì họ
cho rằng thu nhập trong tơng lai sẽ có thể đảm bảo chi trả cho những nhu cầu
hiện tại. Mặt khác, nếu nh trong kinh doanh ngời ta thờng phải hạch toán lỗ,
lãi thì trong tiêu dùng ngời ta đặt yếu tố thoả mãn lên hàng đầu dù có phải trả
chi phí lớn hơn.
Chính vì triển vọng về lợi nhuận do hoạt động cho vay tiêu dùng mang lại
mà dù phải đối mặt với khá nhiều thách thức nhng các ngân hàng trên toàn thế
giới hiện nay đều hớng sự quan tâm vào hoạt động này, coi nó nh một trong
những lĩnh vực có vai trò chủ đạo trong dịch vụ ngân hàng cũng nh trong quản
hàng sẽ cho vay, số tiền trả trớc cần phải đủ lớn để một mặt làm cho ngời vay
nghĩ rằng họ chính là chủ sở hữu của tài sản, mặt khác có tác dụng hạn chế rủi
ro cho ngân hàng. Một khi không cảm nhận đợc rằng mình là chủ sở hữu của
tài sản hình thành từ tiền vay thì ngời vay có thái độ miễn cỡng trong việc trả
nợ. Ngoài ra, khi khách hàng không trả nợ trong nhiều trờng hợp ngân hàng
đành phải bán và thanh lý tài sản để thu hồi nợ.
Số tiền phải trả trớc thờng phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Loại tài sản: Đối với các tài sản có mức độ giảm giá nhanh thì số
tiền phải trả trớc nhiều và ngợc lại, đối với các tài sản có mức độ
giảm giá chậm. Thì số tiền phải trả trớc ít.
16
Thị trờng tiêu thụ tài sản sau khi đã sử dụng: nếu hàng hoá đó đợc
tiêu thụ một cách nhanh chóng và dễ dàng sau khi sử dụng thì số
tiền trả trớcsẽ ít hơn là trong trờng hợp ngợc lại.
Môi trờng kinh tế: nếu môi trờng kinh tế ổn định thì thiện chí của
ngân hàng trong việc cho vay sẽ tốt hơn và có thể yêu cầu một mức
trả trớc thấp hơn.
Năng lực tài chính của ngời đi vay: Ngời vay có năng lực tài chính
tốt đã là một trong những đảm bảo cho việc thu hồi nợ của ngân
hàng nên ngân hàng có thể yêu cầu ngời vay một mức trả trớc thấp
hơn nếu ngay lúc đó ngời vay cha có đủ.
+ Chi phí tài trợ:
Chi phí tài trợ là chi phí mà ngời đi vay phải trả cho ngân hàng trong việc
sử dụng vốn. Chi phí tài trợ chủ yếu bao gồm lãi vay và các chi phí khác có
liên quan. Chi phí tài trợ phải đủ trang trải cho chi phí huy động, chi phí hoạt
động, rủi ro đồng thời phải mang lại một phần lợi nhuận cho ngân hàng.
+ Điều khoản thanh toán:
Khi xác định điều khoản liên quan đến việc thanh toán nợ của khách hàng,
ngân hàng thờng chú ý đén các vấn đề sau:
Số tiền thanh toán mỗi định kỳ phải phù hợp với khả năng và thu
Thông thờng ngời đi vay đợc quyền thanh toán tiền vay trớc hạn mà không
bị phạt. Nếu tiền trả góp tính theo phơng pháp lãi đơn thì vấn đề rất đơn giản,
ngời vay phải thanh toán toàn bộ vốn gốc còn thiếu và lãi vay của kỳ hạn hiện
tại (nếu có) cho ngân hàng. Tuy nhiên, nếu tiền trả góp đợc tính theo phơng
pháp gộp thì sẽ phức tạp hơn. Vì theo phơng pháp này, lãi đợc tính dựa trên cơ
sở giả định rằng tiền vay sẽ đợc sử dụng cho đến lúc kết thúc hợp đồng, cho
18
nên nếu khách hàng trả trớc hạn thì thời hạn trả nợ thực tế sẽ khác thời hạn đã
giả định ban đầu và nh vậy số tiền lãi phải trả cũng có sự thay đổi. Khi đó ngời
ta phải sử dụng phơng pháp phân bổ lãi cho vay theo thời gian.
- Cho vay tiêu dùng phi trả góp: Đây là hình thức cho vay mà
tiền vay đợc khách hàng thanh toán chỉ một lần khi đến hạn. Thờng
thì các khoản vay tiêu dùng phi trả góp đợc cấp cho các nhu cầu vay
nhỏ và thời hạn không dài.
- Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Là khoản vay trong đó ngân
hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc ngân hàng phát
hành loại séc cho phép thấu chi dựa trên số tiền trên tài khoản vãng
lai. Theo phơng thức này, trong thời hạn tín dụng đợc thoả thuận tr-
ớc, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm đợc từng kỳ, khách
hàng đợc ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ
một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng.
Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ:
- Cho vay tiêu dùng gián tiếp: Là hình thức cho vay trong đó
ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu
hàng hoá hay dịch vụ cho ngời tiêu dùng.
19
Ngân
hàng
Công ty
bán lẻ
Kỹ thuật nghiệp vụ cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp cao.
- Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Là các khoản cho vay tiêu dùng
trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng
nh trực tiếp thu nợ từ những ngời này. Cho vay tiêu dùng trực tiếp th-
ờng đợc thực hiện theo sơ đồ sau:
(1): Ngân hàng và ngời tiêu dùng ký kết hợp đồng vay.
(2): Ngời tiêu dùng tả trớc một phần số tiền mua tài sản cho công ty bán
lẻ.
(3): Ngân hàng thanh toán số tiền mua tài sản còn thiếu cho công ty bán
lẻ.
(4): Công ty bán lẻ giao tài sản cho ngời tiêu dùng.
(5): Ngời tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng.
21
Ngân hàng Công ty
bán lẻ
Ngời tiêu
dùng
(3)
(1)
(5)
(2)
(3)
+ So với cho vay tiêu dùng gián tiếp, cho vay tiêu dùng trực tiếp có
những u điểm sau:
Trong cho vay tiêu dùng trực tiếp ngân hàng có thể tận dụng đợc sở
trờng của nhân viên tín dụng. Những ngời này thờng đợc đào tạo
chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng cho
nên các quyết định tín dụng trực tiếp của ngân hàng thờng có chất l-
ợng cao hơn so với trờng hợp chúng đợc quyết định bởi những công
ty bán lẻ hoặc nhân viên tín dụng của công ty bán lẻ. Ngoài ra, trong
cho sản xuất kinh doanh
Đặc điểm - Các khoản cho vay tiêu dùng
thờng có lãi suất cứng nhắc.
- Các khoản cho vay tiêu dùng
có độ rủi ro cao.
- Quy mô mỗi khoản vay tiêu
dùng nhỏ nhng số lợng các
khoản vay tiêu dùng lớn.
- Các khoản cho vay tiêu dùng
mang lại lợi nhuận cao cho
ngân hàng.
- Chi phí của các khoản vay
tiêu dùng thờng lớn.
- Các khoản cho vay kinh
doanh thờng có lãi suất thay
đổi theo điều kiện thị trờng.
- Các khoản cho vay kinh
doanh có độ rủi ro thấp hơn.
- Quy mô mỗi khoản vay
lớn hơn song số lợng các
khoản vay nhỏ hơn.
- Các khoản cho vay kinh
doanh có độ rủi ro thấp hơn
song nó cũng mang lại thu
nhập thấp hơn cho ngân
hàng.
- Các khoản vay kinh doanh
thờng có chi phí thấp hơn
Về qui trình cho vay, cả hai hình thức cho vay này đều phải qua các bớc
đồng thời đây là những nhu cầu mang tính ngắn hạn, việc mà các ngân hàng
không mấy a thích.
24
Phần lớn khách hàng của hiệu cầm đồ thuộc nhóm có thu nhập thấp, những
ngời gặp khó khăn khi vay ngân hàng hoặc công ty tài chính do chỉ đa ra
những đảm bảo không chắc chắn, bởi uy tín và t cách không rõ ràng
Mô hình hoạt động của một hiệu cầm đồ khá đơn giản. Các cá nhân đem
các vật có gía trị đến hiệu cầm đồ để vay một khoản tiền. Lợng tiền có đợc
phụ thuộc vào giá trị của vật đem cầm cố, thị trờng của tài sản đó, thời gian sử
dụng thông th ờng lãi suất quy định đối với các khoản vay từ việc cầm đồ
lớn, tài sản khấu hao nhanh.
1.2.4.4. Công ty bảo hiểm
Ngành bảo hiểm có vai trò bổ sung trong việc huy động quỹ để cho vay
tiêu dùng. Các công ty bảo hiểm cho vay chủ yếu tới những ngời nắm giữ hợp
đồng bảo hiểm. Các bảo hiểm thờng là tài sản cầm cố, thế chấp và hợp đồng
bảo hiểm. Đồng thời các công ty bảo hiểm có một số chiến lợc kinh doanh hỗ
trợ cho tiêu dùng nh bảo hiểm nhân thọ. Bảo hiểm sự mất giá của tài sản cầm
cố thế chấp.
Nguồn vốn chính của công ty bảo hiểm là vốn tự có, thu nhập từ phí bảo
hiểm, đầu t đúng hạn, lợi tức từ các khoản cho vay
1.2.4.5. Ngân hàng tiết kiệm bu điện.
Tuỳ thuộc vào từng quốc gia, ngân hàng tiết kiệm bu điện có thể có các chi
nhánh của tổng cục bu điện hoặc là một ngân hàng độc lập. Nó cũng tham gia
ứng vốn, tham gia vào thị trờng chiết khấu. Phơng thức cấp tín dụng cho ngời
tiêu dùng là:cho vay mua nhà, sửa chữa nhà, cho vay mua sắm tiện nghi sinh
hoạt.
Thông thờng để vay thì khách hàng phải có tài khoản gửi tại ngân hàng số
d tài khoản phải đạt đến mức nhất định.
1.2.4.6. Hợp tác x .ã
Hợp tác xã là một hình thức kinh tế tự chủ do những ngời lao động có nhu