LỜI MỞ ĐẦU
Có một ngôi nhà riêng mua bằng vốn tích góp hiện là một giấc mơ khá
xa với các gia đình công nhân viên chức, đặc biệt là các cặp vợ chồng trẻ.
Nhu cầu ngày một nhiều, tình trạng đầu cơ khiến cho thị trường nhiều lúc bị
lũng đoạn, giá bị đẩy lên cao chóng mặt.
Tuy nhiên, theo quy luật thị trường, có cầu ắt có cung. Nắm bắt nhu cầu
người dân, các ngân hàng bắt đầu khai thác dịch vụ cho vay mua nhà trả góp.
Từ năm 2005, một số ngân hàng đã đưa ra thị trường sản phẩm này trong đó
có Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội – HABUBANK.
Cho vay mua nhà trả góp không chỉ là nghiệp vụ làm đa dạng hoá hoạt
động, mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng mà nó còn góp phần nâng cao
chất lượng cuộc sống cho người dân, giúp đất nước ngày càng phồn thịnh
hơn.
Chuyên đề : “Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay mua nhà trả góp tại
Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội - HABUBANK” sẽ cung cấp
một số thông tin xung quanh vấn đề cho vay mua nhà trả góp và đề xuất các
giải pháp phát triển hoạt động này tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà
Nội – HABUBANK.
Bài viết này gồm 3 chương:
Chương I: Tổng quan về hoạt động cho vay mua nhà trả góp của NHTM
Chương II: Thực trạng hoạt động cho vay mua nhà trả góp tại Ngân hàng
TMCP Nhà Hà Nội (HABUBANK)
Chương III: Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay mua nhà trả góp tại
HABUBANK
1
Do trải nghiệm thực tế ít ỏi và nhận thức còn hạn hẹp nên bài viết này
của em chắc chắn không tránh khỏi sai sót, em kính mong cô giáo hướng dẫn
và chỉ bảo cho em để em có nhìn nhận đúng đắn hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
của Nhà nước, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, mọi người được tự do kinh doanh theo pháp
luật, đựợc bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp. Các hình thức sở hữu
có thể hỗn hợp, đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng.
Các doanh nghiệp, không phân biệt quan hệ sở hữu đểu tự chủ kinh doanh,
hợp tác và cạnh tranh với nhau, bình đẳng trước pháp luật.
Theo hướng đó, nền kinh tế hàng hóa phát triển tất yếu sẽ tạo ra những
tiền đề cần thiết và đòi hỏi sự ra đời của nhiều loại hình ngân hàng và các tổ
chức tín dụng khác. Vì vậy, để tăng cường quản lý, hướng dẫn hoạt động của
các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, tạo thuận lợi cho sự phát triển
nền kinh tế đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân.
Theo điều 20 Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam có nêu: “ Tổ chức tín
dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy
định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân
hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng
các dịch vụ thanh toán”.
Từ định nghĩa chung đó, căn cứ vào tính chất và mục tiêu hoạt động, luật
còn chỉ rõ các loại hình ngân hàng gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng
phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các
loại hình ngân hàng khác.
Ngày nay, trong thế giới hiện đại, hoạt động của các tổ chức tài chính là
môi giới trên thị trường tài chính càng phát triển về số lượng và quy mô hoạt
động, đa dạng và phong phú, hoạt động đan xen lẫn nhau. Người ta phân biệt
4
ngân hàng thương mại với các tổ chức trung gian tài chính khác là ở chỗ
NHTM là ngân hàng kinh doanh tiền gửi, chủ yếu là tiền gửi không kỳ hạn.
Chính từ hoạt động đó đã tạo cơ hội cho NHTM có thể làm tăng bội số tiền
gửi của khách hàng trong hệ thống ngân hàng của mình. Đó là đặc trưng cơ
bản để phân biệt NHTM với các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.
khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn.
+ Cho vay trực tiếp từng lần
Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các
khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được
cấp hạn mức thấu chi. Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu là chủ yếu,
chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng,
tức vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ
sản xuất kinh doanh.
Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử
dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và ký hợp đồng cho vay,
xác định quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu
cầu đảm bảo nếu cần. Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ (khế
ước nhận nợ) khác nhau.
Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong
quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và
hiệu quả. Nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ thu nợ trước
6
hạn hoặc chuyển nợ quá hạn. Lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời
điểm tính lãi.
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản. Ngân hàng có thể kiểm
soát từng món vay tách biệt.
+ Cho vay theo hạn mức
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách
hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ.
Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính.
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh,
nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Trong khi khách hàng có thể thực hiện vay – trả nhiều lần, song dư nợ
không được vượt quá hạn mức tín dụng. Một số trường hợp ngân hàng quy
dòng ngân quỹ trong thời gian tới.
Người vay cam kết các khoản vay sẽ được trả cho người bán và mọi
khoản thu bán hàng đều dùng để trả vào tài khoản tiền vay trước khi được
trích trả lại tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng.
Khi vay, khách hàng chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hóa đơn
nhập hàng và số tiền cần vay. Ngân hàng cho vay và trả tiền cho người bán.
Theo hình thức này, giá trị hàng hóa mua vào (có hoát đơn, hợp pháp, hợp lệ,
đúng đối tượng) đều là đối tượng được ngân hàng cho vay. Thu nhập bán
hàng đều là nguồn chi trả cho ngân hàng. Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ
nhất định tùy theo khối lượng và chất lượng quan hệ nợ nần của người vay.
8
Các khoản phải thu và cả hàng hóa trong kho trở thành vật đảm bảo cho
khoản cho vay.
Cho vay luân chuyển thường áp dụng đối với các doanh nghiệp thương
nghiệp hoặc các doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan
hệ vay – trả thường xuyên với ngân hàng.
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các khách hàng. Thủ tục vay chỉ
cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay. Khách hàng được đáp ứng nhu cầu
vốn kịp thời, vì vậy, việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn.
Nếu doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ (hàng hóa tồn đọng…) thì
ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay
không được quy định rõ ràng.
+ Cho vay trả góp
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép
khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Cho
vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài
trợ cho tài sản cố định hoặc hàng lâu bền. Số tiền trả mỗi lần được tính toán
sao cho phù hợp với khả năng trả nợ (thường là từ khấu hao và thu nhập sau
thuế của dự án, hoặc từ thu nhập hàng kỳ của người tiêu dùng).
Cho vay gián tiếp thường áp dụng với thị trường có nhiều món vay nhỏ,
người vay phân tán, cách xa ngân hàng. Trong trường hợp như vậy, cho vay
qua trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho vay (phân tích, giám sát, thu nợ…).
10
Cho vay qua trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro, chi phí của ngân hàng.
Tuy nhiên, nó cũng bộc lộ các khiếm khuyết. Nhiều trung gia đã lợi dụng vị
thế của mình và nếu ngân hàng khôg kiểm soát tốt sẽ tăng lãi suất để cho vay
lại, hoặc giữ lấy số tiền của các thành viên khác cho riêng mình. Các nhà bán
lẻ có thể lợi dụng để bán hàng kém chất lượng hoặc với giá đắt cho người vay
vốn.
1.2 Hoạt động cho vay mua nhà trả góp
1.2.1 Khái niệm cho vay mua nhà trả góp
Cho vay mua nhà là một trong những hình thức cho vay tiêu dùng đang
ngày càng phát triển của ngân hàng thương mại. Cho vay tiêu dùng là khoản
cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng (bao gồm cá
nhân và hộ gia đình). Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp những
người này trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình, xe cộ và những chi tiêu
cho nhu cầu giáo dục, y tế, du lịch…
Cho vay mua nhà trả góp là việc NHTM cho khách hàng sử dụng một số
tiền của ngân hàng vào mục đích mua sắm, xây dựng nhà ở, với cam kết
khách hàng trả nợ (gồm tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo từng kỳ
hạn nhất định trong thời hạn cho vay.
1.2.2 Đặc điểm hoạt động cho vay mua nhà trả góp
* Về đối tượng vay tiền
Đối tượng vay chủ yếu là các cá nhân, hộ gia đình muốn mua nhà phục
vụ cho nhu cầu ở, sinh hoạt, để mở rộng diện tích kinh doanh. Thường là các
gia đình có nguồn thu nhập ổn định, từ khá đến cao. Hiện nay có rất nhiều gia
đình trẻ muốn vay tiền trả góp mua nhà. Họ thường là những lao động có chất
11
Số tiền khách hàng phải trả cho Ngân hàng mỗi kỳ theo phương thức trả
góp có thể tính theo một trong các phương pháp sau:
+ Trả đều: Ngân hàng căn cứ vào mức lãi suất, giá trị khoản vay, thời
gian cho vay để tính toán đưa ra số tiền cụ thể mà hàng kỳ khách hàng phải
trả. Số tiền này là cố định mà khách hàng phải thanh toán cho Ngân hàng từ
lần trả đầu tiên đến lần trả cuối cùng trong thời gian cho vay.
+ Trả không đều: Tùy theo thỏa thuận giữa Ngân hàng và khách hàng sao
cho phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng mà có các hình thức thanh
toán khác nhau như: thanh toán nợ gốc từng kỳ, trả lãi hàng tháng; trả đều
nhưng lãi thanh toán vào đầu mỗi thời kỳ….
1.2.3 Quy trình cho vay mua nhà trả góp
* Quy trình cho vay thông thường
(2) (1)
(3)
(1) Người mua và người bán ký Hợp đồng mua bán nhà, trả trước một số
tiền, nợ phần còn lại
(2) Người mua đến xin vay và được chấp nhận, Ngân hàng làm thủ tục,
cho vay, giải ngân, người vay trả tiền nốt cho người bán
(3) Khách hàng trả tiền cho ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng
* Quy trình cho vay mua nhà 3 bên
13
Ngân hàng Bên mua Bên bán
(1) Bên mua và bên bán cùng mở tài khoản tại Ngân hàng. Bên mua nộp
số tiền chênh lệch vào tài khoản
(2) Bên mua, bên bán cùng nhân viên Ngân hàng làm thủ tục mua bán
nhà tại phòng công chứng Nhà nước. Ngân hàng giữ giấy tờ hợp pháp về chủ
sở hữu căn nhà.
(3) Ký Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và bên mua
(4) Ngân hàng trả tiền cho bên bán
Nam lĩnh vực này còn rất nhiều tiềm năng mà các ngân hàng có thể khai
thác…
Hoạt động cho vay mua nhà trả góp sẽ mang lại cho ngân hàng một
khoản lợi nhuận không nhỏ do nhu cầu mua nhà của người dân ngày càng
cao. Rủi ro của hoạt động này cũng nhiều do khoản tiền vay lớn và trong thời
gian dài. Tuy nhiên những rủi ro này sẽ được phân tán cho ngân hàng do số
lượng các món vay mua nhà trả góp tương đối lớn và tài sản đảm bảo cho
khoản vay lại chính là giá trị của ngôi nhà.
Thông qua việc cho vay mua nhà trả góp, ngân hàng có thể mở rộng mối
quan hệ với các Công ty kinh doanh nhà. Đây là một cơ hội tốt để ngân hàng
có được một hệ thống thông tin phong phú và đa dạng về khách hàng.
Thêm vào đó, cho vay mua nhà trả góp tạo thói quen cho người dân khi
tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng. Đây là cơ hội giúp ngân hàng mở rộng
mối quan hệ, nâng cao uy tín, tạo dựng hình ảnh của mình trong mắt khách
hàng.
15
1.2.4.2 Đối với khách hàng
Với mức thu nhập thông thường từ lương tháng, để có đủ tiền mua nhà,
không ít gia đình sẽ phải mất một khoảng thời gian dài. Vậy, phải làm thế nào
để mua được một căn hộ khi chỉ có 20% - 30% số tiền? Đó là vấn đề đặt ra
đối với những người muốn mua nhà.
Nhờ có dịch vụ cho vay mua nhà trả góp mà những gia đình trẻ, những
đối tượng có thu nhập ổn định nhưng chưa có đủ tiền mua nhà vẫn có thể đạt
được ước mơ của mình. Như vậy, thay vì phải tiết kiệm trong một thời gian
dài, mỗi tháng họ chỉ cần trích một phần số tiền thu nhập của gia đình để tích
lũy trả góp cho ngân hàng.
Có được ngôi nhà mơ ước, ổn định nơi ăn ở, sinh hoạt, khách hàng mới
yên tâm lao động và làm việc, có động lực để tiếp tục sản xuất ra của cải xã
hội, để nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân và gia đình.
ngân hàng qua các thời kỳ
* Dư nợ cho vay mua nhà trả góp
Dư nợ cho vay là chỉ tiêu tích lũy qua các thời kỳ, đó là số tiền mà ngân
hàng hiện đang cho vay tính đến một thời điểm cụ thể.
Dư nợ cho vay mua nhà trả góp được hiểu là số tiền mà ngân hàng hiện
đang còn cho khách hàng vay theo phương thức trả góp nhằm mục đích mua
mua nhà tính đến một thời điểm cụ thể.
Ngân hàng tính lãi cho vay dựa trên dư nợ cho vay đến thời tính lãi, tức
là lợi nhuận của ngân hàng có được từ hoạt động cho vay trong kỳ phụ thuộc
17
vào dư nợ chứ không phải là doanh số cho vay trong kỳ đó. Vì vậy, số dư nợ
càng lớn và dư nợ kỳ sau tăng hơn so với kỳ trước là chỉ tiêu đúng nhất phản
ánh mức độ mở rộng cho vay càng cao.
Dư nợ cho
vay trả
mua nhà
trả góp kỳ
này
=
Dư nợ cho
vay mua nhà
trả góp kỳ
trước
+
Doanh số cho
vay mua nhà
trả góp trong
kỳ
= Số lượng khách
hàng
x Giá trị trung bình của các
món vay mua nhà trả góp
Dư nợ cho vay mua nhà trả góp kỳ này tăng lên so với kỳ trước là do số
lượng khách hàng kỳ này cao hơn kỳ trước hoặc giá trị trung bình của các
món vay mua nhà trả góp kỳ này cao hơn kỳ trước.
Số lượng khách hàng là chỉ tiêu đánh giá mức độ mở rộng cho vay về
mặt quy mô. Số lượng khách hàng của hoạt động cho vay mua nhà trả góp
càng nhiều nghĩa là ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu cho vay mua nhà trả
góp của nhiều người.
Giá trị trung bình của các món vay mua nhà nhả góp càng cao có nghĩa
là số khách hàng vay những món vay có giá trị lớn ngày càng nhiều.
Vì vậy, nếu số lượng khách hàng và giá trị trung bình của các món vay
mua nhà trả góp cùng tăng, làm dư nợ cho vay mua nhà trả góp tăng thì ta
được sự mở rộng cho vay cả về số lượng khách hàng và số tiền của mỗi món
vay.
* Tỷ trọng dư nợ cho vay mua nhà trả góp
Đây là chỉ tiêu tương đối phản ánh quy mô các món vay mua nhà trả góp
trong tổng số các món vay được ngân hàng giải ngân. Sự tăng trưởng của chỉ
tiêu này cho ta thấy sự mở rộng của hoạt động cho vay mua nhà trả góp.
19
Tỷ trọng dư nợ
cho vay mua nhà
trả góp
=
Dư nợ cho vay mua nhà trả góp
Tổng dư nợ
bằng kỳ trước. Nhìn chung, trong trường hợp này NHTM không mở rộng cho
vay mua nhà trả góp. Tuy nhiên, nếu tỷ trọng dư nợ cho vay mua nhà trả góp
tăng thì vẫn có sự mở rộng cho vay mua nhà trả góp.
* Thị phần cho vay mua nhà trả góp của ngân hàng
Khi nghiên cứu về thị phần cho vay mua nhà trả góp cần phải nghiên cứu
thị phần của ngân hàng để có được đánh giá bao quát. Trên cùng địa bàn hoạt
động, có rất nhiều ngân hàng cung ứng những sản phẩm dịch vụ tương tự
nhau.Vì vậy, cạnh tranh giữa các ngân hàng là điều tất yếu. Nếu một ngân
hàng có sự gia tăng về dư nợ và doanh số cho vay mua nhà trả góp, tăng
trưởng dư nợ hay số lượng khách hàng, nhưng có thể thị phần cho vay mua
nhà trả góp của ngân hàng đó lại không hề gia tăng, thậm chí có thể giảm thì
đó không phải là sự mở rộng cho vay mua nhà trả góp hoàn toàn. Điều này
chứng tỏ tốc độ mở rộng cho vay mua nhà trả góp của các ngân hàng khác
diễn ra nhanh hơn.
* Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn
Nợ quá hạn là toàn bộ số dư nợ (cả gốc và lãi) của khách hàng vay vốn
đã đến hạn thanh toán với ngân hàng nhưng các khách hàng này không thanh
toán được mà vẫn chưa được ngân hàng xử lý cho điều chỉnh kỳ hạn nợ, gia
hạn nợ, xóa nợ… sẽ bị chuyển thành nợ quá hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn
=
Dư nợ quá hạn cho vay mua nhà trả góp
Tổng dư nợ cho vay mua nhà trả góp
X 100%
Chỉ tiêu nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn không trực tiếp phản ánh việc
mở rộng cho vay mua nhà trả góp, nhưng đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh
21
giá chất lượng của hoạt động cho vay mua nhà trả góp. Hoạt động cho vay
cả các yếu tố đó tạo nên đặc tính cho sản phẩm cho vay mua nhà trả góp của
ngân hàng, quyết định đến sự thu hút khách hàng, mở rộng hoạt động cho vay
mua nhà trả góp.
* Quy trình cho vay mua nhà trả góp
Quy trình tín dụng quy định các bước cần thiết từ khâu lập hồ sơ xin cấp
tín dụng đến khâu quản lý và thu hồi nợ, nhằm đảm bảo thu hồi được cả gốc
và lãi của khoản tín dụng. Nó ảnh hưởng không nhỏ đến việc thu hút khách
hàng. Các bước trong quy trình tín dụng cần được kết hợp nhịp nhàng, linh
hoạt, nhanh gọn, gây được cảm tình với khách hàng mà vẫn đảm bảo nắm
được diễn biến của khoản tín dụng để có những can thiệp kịp thời đối với
những rủi ro có thể xảy ra.
* Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và đội ngũ nhân viên ngân hàng
Đây là những nhân tố phản ánh bộ mặt của ngân hàng. Cơ sở khang
trang, trang thiết bị hiện đại phản ánh vị thế của ngân hàng và tạo cho khách
hàng sự tin tưởng vào ngân hàng.
Đội ngũ cán bộ nhân viên, đặc biệt là nhân viên tín dụng là những người
trực tiếp tiếp xúc với khách hàng. Một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, phục
vụ tận tình, chu đáo sẽ gây được thiện cảm với khách hàng. Đặc biệt với đạo
đức nghề nghiệp, trình độ nghiệp vụ cao, am hiểu luật pháp, có khả năng phân
tích, đánh giá năng lực khách hàng và quản lý các khoản vay… các nhân viên
tín dụng sẽ đưa ra được các quyết định đúng đắn. Từ đó nâng cao hiệu quả
trong mở rộng hoạt động cho vay mua nhà trả góp.
23
* Mạng lưới chi nhánh ngân hàng
Mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch, điểm giao dịch… của khách hàng
là nơi đầu tiên khách hàng đến tiếp xúc với ngân hàng. Ngân hàng có mạng
lưới chi nhánh rộng lớn sẽ dễ dàng tiếp cận hơn với nhiều đối tượng khách
hàng. Và nếu ngân hàng kết hợp với các cấp chính quyền địa phương, bộ máy
công an thì ngân hàng sẽ càng dễ dàng nắm rõ tình hình hoạt động của khách
* Tài sản đảm bảo
Do khách hàng luôn đối mặt với rủi ro trong kinh doanh, có thể mất khả
năng trả nợ cho ngân hàng do thu nhập giảm sút mạnh. Hoặc do rủi ro đạo
đức và nhiều biến cố khác có thể gây cho ngân hàng các tổn thất lớn. Chính vì
vậy, tài sản đảm bảo chính là nguồn trả nợ thứ hai cho ngân hàng khi nguồn
thứ nhất là thu nhập không đảm bảo trả nợ.
Đối với cho vay mua nhà trả góp, tài sản đảm bảo thường là chính căn
nhà mới hình thành từ món vay hoặc các tài sản khác có thể dùng để thế chấp.
Ngân hàng cần có các biện pháp thẩm định và quản lý tài sản đảm bảo chặt
chẽ để kịp thời phát hiện xử lý các vấn đề phát sinh như mất mát, hư hỏng,
giảm giá trị, tránh bị các cá nhân cấu kết lừa gạt ngân hàng...
1.2.6.3 Nhóm nhân tố từ bên ngoài
* Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế bao gồm những yếu tố như tăng trưởng kinh tế, chính
sách kinh tế của quốc gia, chu kỳ kinh doanh… Bất kỳ sự thay đổi nào của
25