Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NHTM : Ngân hàng thương mại
NTHMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
NHHH (MSB) : Ngân hàng Hàng Hải
NHNN : Ngân hàng nhà nước
T&DH : Trung và dài hạn
KH DN : Khách hàng doanh nghiệp
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Năm 2006 là năm thứ 20 của công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế ở
nước ta. Trải qua biết bao khó khăn và thử thách ở chính nội tại đất nước và từ
môi trường thế giới đem lại. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta bước đầu đã tạo
dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với hệ thống công
– nông nghiệp - dịch vụ ngày càng phát triển, từng bước rút ngắn khoảng cách
với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Để có được những thành tựu kinh tế như hiện nay trước tiên phải kể đến
sự đóng góp vô cùng quan trọng của hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ
chức tài chính tín dụng của nước ta. Cũng như các ngân hàng thương mại và tổ
chức tài chính trên thế giới, hoạt động kinh doanh của những tổ chức này vốn dĩ
là loại hình hoạt động rất nhạy cảm, mang tính năng động và rủi ro hơn nhiều so
với hoạt động của các lĩnh vực khác, đồng thời cũng giữ vai trò quan trọng trong
việc định hướng cho hoạt động của các lĩnh vực khác, bởi đây là ngành tạo và
cung cấp vốn cho nền kinh tế. Vì vậy trong xu thế quốc tế hoá ngày nay vấn đề
đặt ra là các ngân hàng thương mại nước ta phải luôn luôn giữ thế phát triển dẫn
đầu cho nền kinh tế, không ngừng mở rộng và nâng cao chất lượng sản phẩm
dịch vụ của mình, sớm bắt kịp với nhịp điệu trong khu vực và trên thế giới. Thực
tế các ngân hàng đã có nhiều cố gắng nỗ lực phấn đấu, nhưng do sự phát triển
còn thiếu đồng bộ về con người, môi trường và kỹ thuật trong nước nên vẫn
trong luận văn của mình.
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG
THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG
CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NHTM.
1.1 Hoạt động cho vay của NHTM.
1.1.1 Những vấn đề chung về hoạt động cho vay của NHTM
Trải qua nhiều thế kỉ từ khi xuất hiện đến nay hệ thống các ngân hàng
thương mại với hàng ngàn chi nhánh ở khắp năm châu đã không ngừng thể hiện
tầm quan trọng không thể thiếu của mình đối với sự phát triển nền kinh tế thế
giới nói chung, cũng như đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia riêng
biệt. Chính hệ thống Ngân hàng với những phương tiện giao dịch hiện đại (Ngân
hàng điện tử) đang từng bước xoá bỏ sự ngăn cách về địa lý, không gian và thời
gian làm cho các lục địa xích lại gần nhau hơn.
Ngày nay sản phẩm của ngân hàng không còn chỉ đơn điệu với nhận tiền
gửi, đổi tiền, giữ tiền hộ…mà đã trở nên vô cùng phong phú đa dạng với thẻ
ngân hàng, chuyển tiền điện tử, bao thanh toán, phonebanking,….Tuy nhiên
những dịch vụ hiện đại này mới chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng cơ cấu tài
sản của ngân hàng, còn phần tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản của ngân hàng vẫn
là các dịch vụ cho vay. Ở hầu hết các nước khả năng cho vay đối với khách hàng
chính là lý do cơ bản để ngân hàng được các cơ quan quản lý có thẩm quyền cấp
phép hoạt động. Mọi người mong muốn các ngân hàng hỗ trợ cho sự phát triển
của cộng đồng địa phương thông qua các hoạt động cho vay đáp ứng nhu cầu tài
chính của doanh nghiệp và của người tiêu dùng với một mức lãi suất hợp lý. Do
đó, cho vay được coi là chức năng kinh tế hàng đầu của các ngân hàng. Hoạt
động cho vay cũng có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế tại
khu vực ngân hàng phục vụ, bởi cho vay thúc đẩy tăng trưởng của các doanh
nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế. Không những vậy thông qua các khoản
thiết bị sau đó cấp tín dụng cho khách hàng thông qua việc cho thuê những tài
sản này. Trong suốt thời hạn thuê ngân hàng sẽ nhận được tiền từ người thuê và
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
đến cuối thời hạn có thể bán lại tài sản cho khách hàng theo hợp đồng thuê mua
đã kí kết.
Nếu dựa vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng cho vay lại được chia
làm hai loại:
- Cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay mà ngân hàng không cần
sự thế chấp, cầm cố hay sự bảo lãnh của bên thứ ba.
- Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay mà ngân hàng chỉ cho vay khi
khách hàng có tài sản đủ tiêu chuẩn để thế chấp, cầm cố, hay có sự bảo lãnh của
bên thứ ba.
Nếu dựa vào thời hạn cho vay thì bao gồm:
- Cho vay ngắn hạn;
- Cho vay trung hạn;
- Cho vay dài hạn
Ngoài những căn cứ trên thì còn nhiều cách phân chia nữa của hoạt động
cho vay. Trong đó đối với những ngân hàng phân chia hoạt động cho vay theo
tiêu thức thời gian thì phần cho vay trung và dài hạn thường chiếm tỷ trọng khá
cao trong cơ cấu cho vay
1.1.2 Hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM
* Khái niệm về cho vay trung và dài hạn của NHTM
Hiện nay giữa các nước khác nhau trên thế giới quan niệm về cho vay
trung và dài hạn không hoàn toàn giống nhau. Tại thị trường tài chính Việt Nam
cho vay trung và dài hạn vẫn được coi là các khoản cho vay có thời hạn trên 1
năm. Trong đó theo qui định cách đây vài năm thì cho vay trung hạn là các
khoản cho vay có thời hạn từ 1 đến 3 năm và cho vay dài hạn là những khoản
cho vay có thời hạn trên 3 năm. Nhưng hai năm trở lại đây NHNN Việt Nam đã
qui định thời hạn của khoản cho vay trung hạn là từ 1 đến 5 năm và dài hạn là
Thứ ba là, trong nhiều trường hợp doanh nghiệp không muốn phát hành
chứng khoán để thu hút vốn vì ngại phải công bố thông tin về mình hoặc đang ở
trong điều kiện thị trường không thuận lợi cho việc phát hành.
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Và thứ tư đó là, cho vay trung dài hạn sẽ buộc các doanh nghiệp nhỏ
phải tích luỹ vốn từ lợi nhuận để lại, cho dù doanh nghiệp có quan hệ mật thiết
với ngân hàng. Điều này sẽ có lợi cho doanh nghiệp về sau này.
Với những lý do trên cho thấy đi vay trung dài hạn tại các tổ chức tài
chính thực sự là một kênh không thể thiếu của các khách hàng doanh nghiệp.
Nhu cầu lớn nên loại hình cho vay này cũng có nhiều hình thức khác nhau cho
khách hàng lựa chọn để phù hợp với mình. Như:
Cho vay mua sắm thiết bị trả góp
Cho vay kỳ hạn
Tài trợ theo dự án
Cho vay hợp vốn
Cho thuê tài chính
Forfaiting (một hình thức cấp tín dụng người bán trong các giao dịch
mua bán hàng trả chậm và không truy đòi đối với người bán mà thu tiền thẳng từ
người mua).
1.2 Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn
của NHTM.
1.2.1 Khái niệm về thẩm định tài chính dự án.
Đối với bất kỳ một dự án nào khi được đưa vào xem xét để thực hiện thì
vấn đề được quan tâm hàng đầu là tính khả thi của dự án. Tính khả thi của dự án
sẽ được thể hiện thông qua sự phù hợp về mặt kỹ thuật, mặt kinh tế và tài chính
của dự án đối với nền kinh tế, với sự quản lý của nhà nước, với nhà đầu tư và với
chủ dự án. Trong đó tuỳ theo từng dự án được thiết kế phục vụ cho các mục đích
khác nhau (như dự án vì cộng đồng, dự án đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh,
dự án xây dựng nhà máy mới...) mà những tiêu chí về kinh tế, về kĩ thuật hay về
hàng, nhất là khi đó là các dự án lớn.
Đối với xã hội, mỗi một dự án khi thực hiện không chỉ có ảnh hưởng
đến chủ dự án, ngân hàng (hay các nhà đầu tư khác) mà còn chứa đựng cả những
ảnh hưởng đối với người dân nơi thực hiện dự án, đến nguồn tài nguyên đất
nước sẽ được sử dụng, đến các ngành nghề khác liên quan….Vì vậy ngân hàng
cần phải tiến hành thẩm định lại dự án để xem xét một cách toàn diện khi có chi
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
phí xã hội dự án, hiệu quả tài chính của dự án còn được đảm bảo không, có phù
hợp với mục tiêu và chiến lược phát triển của vùng, của địa phương hay không.
Đối với chủ dự án, khi ngân hàng tiến hành thẩm định lại dự án chính
là dịp để khẳng định tính đúng đắn trong quyết định đầu tư của chủ dự án. Đồng
thời giúp chủ dự án tránh được những sai sót có thể không nhận thấy khi tiến
hành lập dự án, làm cho dự án hoàn thiện hơn, tránh lãng phí vốn của chính chủ
dự án.
Với sự cần thiết như vậy thì khi thực hiện nội dung thẩm định tài chính dự án sẽ
bao gồm những nội dung cơ bản sau.
1.3 Nội dung công tác thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay
trung và dài hạn của NHTM.
1.3.1 Thẩm định dự toán đầu tư và nguồn tài trợ.
Mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp và nhà đầu tư về ngắn hạn là tối đa
hoá vốn chủ sở hữu, còn về dài hạn chính là tối đa hoá giá trị doanh nghiệp. Để
đạt được mục tiêu này thì vấn đề quan trọng đưa ra đối với doanh nghiệp là
không ngừng đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Và để đầu tư được người ta đưa ra
câu hỏi về vốn đầu tư. Dưới giác độ của dự án thì vốn đầu tư chính là tổng số
tiền được chi tiêu để hình thành nên các tài sản cố định, tài sản lưu động cần
thiết và vốn dự phòng.
Trong đó vốn đầu tư vào tài sản cố định thường chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng vốn đầu tư của dự án, đặc biệt là các dự án sản xuất. Và là phần để mua
sắm, cải tạo, mở rộng tài sản cố định (như: máy móc thiết bị sản xuất, nhà
nào? Đây là câu hỏi không chỉ nhà thẩm định mà chính chủ thực hiện dự án sẽ
đặt ra đầu tiên. Về mặt lý thuyết và cả thực tế thì mỗi dự án có nhiều hình thức
tài trợ vốn khác nhau:
Trước hết dự án có thể được tài trợ bằng vốn tự có: Loại vốn này có
được từ bốn nguồn: từ phát hành cổ phiếu thường, từ thặng dư vốn và từ lợi
nhuận giữ lại, phát hành cổ phiếu ưu đãi.
Cổ phiếu thường có nhiều ưu thế trong việc phát hành ra công chúng và
trong quá trình lưu hành trên thị trường chứng khoán. Như sau khi phát hành
doanh nghiệp có thể tạm thời mua lại, doanh nghiệp có thể dễ dàng phát hành
thêm khi cần thiết….Nên loại này cũng được sử dụng để tài trợ cho dự án, đặc
biệt là các dự án qui mô lớn.
Nguồn thặng dư vốn: Đây chính là phần vốn có được từ chênh lệch giữa
giá thị trường của cổ phiếu thường và mệnh giá của nó tại thời điểm phát hành.
Tuỳ theo sự đánh giá của thị trường về trị giá của cổ phiếu của doanh nghiệp mà
phần vốn này thu được là lớn hay nhỏ so với phần vốn doanh nghiệp dự tính có
được từ phát hành cổ phiếu thường.
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nguồn vốn từ thu nhập giữ lại được tài trợ cho dự án chỉ khi quá trình
hoạt động sản xuất của doanh nghiệp có hiệu quả. Tài trợ bằng thu nhập giữ lại
là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các
doanh nghiệp do doanh nghiệp giảm được chi phí, giảm được sự phụ thuộc vào
bên ngoài.
Tài trợ cho dự án bằng nợ: phần vốn này doanh nghiệp có thể có từ
nguồn tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại và vay thông qua phát hành trái
phiếu. Trái phiếu thực chất là một loại giấy vay nợ trung và dài hạn. Trên thị
trường thường lưu hành nhiều loại trái phiếu doanh nghiệp khác nhau (trái phiếu
có lãi suất cố định, trái phiếu có lãi suất thay đổi, trái phíếu có thể thu hồi, trái
phiếu có thể chuyển đổi). Việc doanh nghiệp lựa chọn loại trái phiếu nào để tài
trợ cho dự án còn tuỳ thuộc vào những vấn đề liên quan đến chi phí trả lãi, cách
.k
e
+ W
d
.(1 – T).k
d
Nhiệm vụ của nhà thẩm định trong giai đoạn này là xác định xem nguồn vốn của
dự án được tài trợ bằng hình thức nào, cơ cấu như thế nào, có hợp lý so với thực
tế không, chi phí vốn dự tính có phù hợp không…. Chẳng hạn như khách hàng
cơ cấu dự định 50% vốn của dự án là vốn chủ sở hữu, thì cán bộ thẩm định phải
xác định xem khách hàng có đủ khả năng để cung cấp vốn đúng như vậy không -
hay nói cách khác là phải xem xét năng lực tài chính của khách hàng.
1.3.2 Thẩm định kế hoạch doanh thu – chi phí – lợi nhuận hàng năm của
dự án.
Khi thực hiện công tác thẩm định về doanh thu của dự án điểm xuất phát
đầu tiên của nhà thẩm định là tìm hiểu về thị trường sản phẩm của dự án. Cán bộ
thẩm định sẽ phải thu thập thông tin về giá cả sản phẩm đã có hay sản phẩm
tương tự của đối thủ cạnh tranh trên thị trường hiện tại là bao nhiêu? Nhu cầu về
sản phẩm này hiện tại và xu hướng trong tương lai. Rồi đặc tính sản phẩm của
dự án có khả năng chiếm lĩnh thị trường hay không? Công suất dự tính của dự án
sẽ là bao nhiêu …. Từ đó dự tính doanh thu hàng năm của dự án.
Về chi phí của dự án: Thông thường phần vốn cố định chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng vốn của dự án. Nên những phần vốn chi cho xây dựng cơ sở vật
chất, mua sắm máy móc thiết bị sản xuất thường được thẩm định kĩ lưỡng. Cán
bộ thẩm định phải xem xét giá cả nguyên – nhiên vật liệu cho phần xây dựng
cũng như giá cả máy móc sản xuất của dự án bao nhiêu là phù hợp với thị trường
của khu vực, chất lượng máy móc ra sao…nhằm đánh giá chính xác cho phần
13
Doanh thu mỗi
năm của dự án
và thẩm định có những nguyên tắc nhất định.
Nguyên tắc xác định dòng tiền:
Loại bỏ chi phí chìm ra khỏi phân tích: Chi phí chìm là những chi phi mà
doanh nghiệp - chủ dự án vẫn phải bỏ ra cho dù dự án có được chấp nhận và
thực hiện hay không (chẳng hạn như chi phí tư vấn về dự án, chi phí thiết kế dự
án, …). Chi phí này là một khoản chi tất yếu do đó không được đưa vào phần chi
đầu tư của dự án.
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chi phí cơ hội sẽ được đưa vào để phân tích chi phí của dự án: Có những
dự án được thiết kế trong đó có sử dụng một số yếu tố đầu vào sẵn có của doanh
nghiệp. Mà đáng lẽ ra nếu không sử dụng vào dự án thì nó sẽ được sử dụng vào
việc khác và đem lại nguồn thu cho doanh nghiệp. Khi sử dụng vào dự án doanh
nghiệp đã bỏ mất phần nguồn thu đó. Bởi vậy khoản chi phí này cần được đưa
vào nhằm đánh giá chính xác chi phí thực của dự án.
Ngoài hai khoản mục trên phần tài sản lưu động ròng đối với hầu hết các
dự án cũng được đầu tư và được chi thực tại năm đầu đi vào hoạt động của dự
án. Tài sản lưu động ròng là phần chênh lệch giữa tổng tài sản lưu động trừ đi nợ
ngắn hạn. Đặc tính của tài sản lưu động ròng là không được khấu hao và thường
được thu hồi vào giai đoạn kết thúc của dự án. Do vậy khi tiến hành dự án mới
tài sản lưu động ròng cần được tài trợ ở năm đầu của dự án.
Những tác động đối với dự án khác: có những dự án mới khi ra đời sẽ có
tác động tăng (hoặc giảm) thu nhập của các dự án khác của doanh nghiệp. Thực
chất khoản tăng giảm này chỉ là sự chuyển dịch thu nhập của doanh nghiệp nên
dòng tiền thu được của doanh nghiệp từ những sự tăng thêm (hoặc giảm đi) đó
cũng phải đưa vào dự án mới.
Tác động của thuế: Thuế có những ảnh hưởng rất đáng ghi nhận đối với
dòng tiền của dự án. Thông qua chi phí khấu hao của tài sản cố định thuế doanh
nghiệp phải nộp từ dự án sẽ giảm làm cho dòng tiền tăng. Hay đối với chi phí lãi
vay - một khoản chi phí phân bổ trước khi xác định thu nhập ròng, chi phí này
(Riêng năm cuối cùng của dự án còn có thêm phần vốn lưu động ròng
được thu hồi và phần thu nhập sau thuế từ thanh lý tài sản cố định, nên
NCF
nc
= LNST
nc
+ KH
nc
+ VLĐR thu hồi +
Thu nhập từ
thanh lý TSCĐ
Tổng hợp những dòng tiền này cho ta kết quả dòng tiền dòng của dự án.
Nhưng do tiền có giá trị về thời gian nên nhà thẩm định, nhà phân tích không thể
so sánh những dòng tiền xuất hiện tại các mốc thời gian khác nhau mà sẽ quy
chúng về một mốc để so sánh. Bởi vậy vấn đề về lãi xuất chiết khấu đặc biệt
được cán bộ thẩm định quan tâm khi xác định hiệu quả của dự án. Lãi suất chiết
khấu là tỷ lệ sinh lời cần thiết của một dự án mà nhà đầu tư mong đợi. Nó chính
là tỷ lệ mà nhờ đó các dòng tiền của dự án được quy về hiện tại để xác định giá
trị hiện tại ròng của dự án – NPV. Việc lựa chọn lãi suất chiết khấu phụ thuộc
vào kết quả phân tích rủi ro, khả năng sinh lời của dự án và cơ cấu vốn.
Rủi ro của dự án càng cao thì tỷ lệ lãi suất chiết khấu đòi hỏi càng cao.
Cơ cấu vốn tài trợ cho dự án có chi phí vốn càng cao thì đòi hỏi lãi suất
chiết khấu tối thiểu phải bằng với tỷ lệ chi phí đó.
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Từ trên cho thấy xác định dòng tiền là vô cùng quan trọng và việc thẩm
định dòng tiền của dự án là yếu tố cốt yếu để đưa đến những kết luận cho công
tác thẩm định tài chính dự án.
1.3.4 Thẩm định hiệu quả tài chính dự án.
Việc nhà đầu tư ra quyết định có hay không thực hiện dự án chủ yếu dựa
+
=
+
−
=
n
t
n
t
n
t
ttt
k
Ct
k
Bt
k
CtBt
NPV
0 0 0
111
NPV: giá trị hiện tại dòng của dự án
CF
t
: Dòng tiền xuất hiện ở năm thứ t của dự án ( t = 1n)
CF
0
: Vốn đầu tư bỏ ra ở thời điểm ban đầu (giả định vốn bỏ ra một lần ở
năm đầu tiên của dự án)
n : số năm thực hiện dự án.
Chỉ tiêu tỷ lệ hoàn vốn nội bộ - IRR:
Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ là tỷ lệ mà tại đó tổng dòng thu bằng tổng dòng
chi của dự án khi quy đổi về hiện tại hay đó chính là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó
giá trị hiện tại ròng của dự án bằng 0 (NPV = 0).
( ) ( )
0
IR R1IRR1
00
=
+
−
+
=
∑∑
==
n
t
t
n
t
t
CtBt
NPV
IRR thường được tính bằng phương pháp nội suy. Hai giá trị của lãi suất chiết
khấu k
1,
k
2
(k
2
Đối với các dự án hay phương án loại trừ nhau thì lựa chọn phương án có IRR
≥
Chi phí vốn và IRR max.
* Ưu nhược điểm:
Cũng giống như NPV chỉ tiêu IRR có khá nhiều ưu điểm, như:
- Chỉ tiêu này có xét đến sự biến động của yếu tố thời gian, tính đến hiệu
quả cả đời dự án và có tính đến giá trị thời gian của tiền.
- Cho biết được khả năng sinh lời của dự án, dễ dàng so sánh với một
mức hiệu quả cho phép (bằng cách so sánh với chỉ tiêu k).
- IRR không phụ thuộc vào tỷ lệ chiết khấu do nó được xác định từ nội
bộ phương án. Đồng thời có thể sử dụng để so sánh các dự án - phương án khác
nhau .
Song song với những ưu điểm trên chỉ tiêu IRR còn có một số nhược điểm:
- Chỉ tiêu này chỉ cho biết lợi nhuận tương đối, không cho biết được giá
trị tuyệt đối dẫn đến có thể lựa chọn dự án có khả năng sinh lời cao nhưng lợi
nhuận tạo ra thấp.
- Không đề cập đến quy mô và độ lớn của dự án. Đặc biệt không xác
định được một tỷ suất hoàn vốn nội bộ trong trường hợp dòng tiền có sự thay đổi
nhiều lần từ (-) sang (+) và ngược lại, khi đó cán bộ thẩm định – phân tích cần
dùng NPV để đánh giá.
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Trong những trường hợp kết quả đánh giá bằng NPV và IRR ngược
nhau thì chỉ tiêu NPV là chỉ tiêu tốt hơn cho việc đánh giá dự án vì do chỉ tiêu
IIR không đề cập đến quy mô vốn và chúng được giả định rằng dòng tiền được
tái đầu tư bằng tỷ lệ sinh lời của dự án.
Chỉ tiêu tỷ số thu chi - B/C( hay BCR):
Tỷ số thu - chi (B/C) là tỷ số giữa giá trị hiện tại của dòng thu trên giá trị
hiện tại của dòng chi phí bỏ ra. Chỉ tiêu này thể hiện hiệu quả của đồng vốn bỏ
ra khi quy về giá trị hiện tại.
tính toán trên toàn bộ đời sống của dự án; Đồng thời đánh giá được hiệu quả
tương đối của dự án và có thể dùng để so sánh các dự án – phương án khác nhau.
Tuy vậy chỉ tiêu này cũng có khá nhiều nhược điểm. Đó là việc đòi hỏi
phải xác định rõ ràng dòng thu và dòng chi của dự án. Đây lại là một công việc
không phải là dễ dàng đối với nhà phân tích và thẩm định.
Chỉ tiêu này có sự phụ thuộc vào tỷ lệ chiết khấu, trong khi tỷ lệ chiết khấu trên
thị trường lại luôn có sự thay đổi. Đây chỉ là một chỉ tiêu tương đối nên dễ có thể
dẫn đến sai lầm khi lựa chọn các phương án khác nhau.
Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn - PP:
20
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Thời gian hoàn vốn đầu tư là thời gian để chủ đầu tư thu hồi được số vốn
đã đầu tư ban đầu vào dự án. Chỉ tiêu này cho biết sau khi thực hiện dự án bao
lâu thì thu hồi đủ vốn đầu tư. Được xác định theo công thức:
PP = n +
Với n là số năm ngay trước năm thu hồi đủ vốn đầu tư.
Dự án có PP càng nhỏ sẽ càng tốt. Bởi khi đó nhà đầu tư sẽ thu hồi được
vốn sớm. Do đó nếu có nhiều dự án để lựa chọn thì dự án có PP nhỏ nhất sẽ
được chọn.
*Ưu nhược điểm:
Chỉ tiêu này có ưu điểm là cho biết rõ được thời gian vốn sẽ được thu hồi
và có thể dùng để so sánh các dự án – các phương án khác nhau. Nhưng bên
cạnh đó chỉ tiêu này cũng có một số nhược điểm: Nhiều khi sử dụng chỉ tiêu này
dễ dẫn đến việc quá chú trọng chọn phương án có thời gian thu hồi vốn nhỏ nhất
mà bỏ qua mất phương án có lợi nhuận cao nhất (mục đích của nhà đầu tư).
Không tính tới giá trị thời gian của tiền, bỏ qua phần thu nhập sau thời gian hoàn
vốn mà đôi khi có những dự án những năm sau mới có lợi nhuận cao.
Mỗi chỉ tiêu trên chỉ tiêu nào cũng có những ưu nhược điểm riêng không
chỉ tiêu nào là hoàn hảo nên khi thẩm định các cán bộ thẩm định thường sử dụng
kết hợp một số chỉ tiêu có thể để có được kết quả chính xác nhất.
tính sai lầm và ảnh hưởng của chúng đến NPV. Mặc dù vậy thì việc sử dụng
phương pháp này cũng có một số hạn chế nhất định. Đó là:
- Các biến số đưa ra dựa trên những phán đoán chủ quan rất cao. Có
những biến đầu vào như giá bán, mức bán...trên thực tế có thể được cố định bằng
hợp đồng với nhà cung cấp. Nhưng khi phân tích những yếu tố này lại cho thấy
ảnh hưởng rất lớn đến NPV và IRR, như vậy việc đánh giá rủi ro trở nên kém
chính xác.
- Bỏ qua sự tác động lẫn nhau của các biến số đầu vào, mà chỉ xét đến
tác động của những biến số đầu vào này đối với biến số đầu ra.
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
- Thêm nữa là kết quả về phân tích độ nhạy không đem lại cho người ra
quyết định một giải pháp rõ ràng đối với việc lựa chọn dự án. Ý nghĩa của
phương pháp này là đưa lại cho người phân tích ý tưởng về một số điều không
chắc chắn và độ nhạy.
Nhưng cho dù thế nào thì thực tế phương pháp này vẫn là một công cụ rất hữu
ích khi sử dụng kết hợp với một số hình thức phân tích rủi ro khác.
Phương pháp phân tích giả định tình huống:
Phương pháp này thường được áp dụng khi đánh giá rủi ro của những dự
án lớn, bởi đây là một qui trình đánh giá lợi nhuận và rủi ro của những dự án
phức tạp.
Bước đầu của phương pháp này là tạo ra một mẫu dòng tiền bằng cách
xác định những yếu tố ảnh hưởng đến nó và các mối quan hệ cụ thể giữa các yếu
tố thành phần của dòng tiền với nhau, và cả những ảnh hưởng của những yếu tố
này đến dòng tiền.
Dòng tiền = (doanh thu – chi phí)x(1 - thuế suất) + (thuế suất x khấu hao)
Mỗi thành phần chủ yếu của dòng tiền có thể chỉ ra những yếu tố quyết
định của nó. Khi các mối quan hệ của dòng tiền đã được nhận diện, các nhà phân
tích có thể dễ dàng đánh giá được phân phối xác suất của mỗi thành phần của nó.
Và khi tất cả những phân phối xác suất cũng như các mỗi quan hệ giữa các thành
khoa học để giúp ngân hàng đưa ra quyết định cho vay. Trong những giai đoạn
tiếp theo của quy trình cho vay thì chất lượng thẩm định tài chính tốt tức là thu
nhập dòng hàng năm của dự án tăng đều và không lệch nhiều so với dự kiến,
ngân hàng thu được nợ gốc và lãi đầy đủ đúng hạn, chủ đầu tư có được lợi
nhuận, những rủi ro xảy ra không nằm ngoài dự tính của nhà lập - nhà thẩm định
dự án; Còn chất lượng thẩm định tài chính dự án sẽ là thấp nếu dựa vào đó để
ngân hàng ra quyết định cho vay nhưng sau này không thu hồi được nợ (gốc và
lãi vay), hay ngân hàng không cho vay nhưng tổ chức tín dụng khác cho vay thì
dự án hoạt động tốt và thu hồi được nợ. Điều đó gây ra thiệt hại cho ngân hàng
và làm giảm thu nhập của ngân hàng. Thực tế cho thấy chất lượng thẩm định tài
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
chính dự án là một khái niệm mang nhiều yếu tố định tính, chính bản thân các
nhà thẩm định – các nhà phân tích hiệu quả tài chính dự án cũng khó có thể biết
ngay được chất lượng công tác của mình, nó đòi hỏi phải có khoảng thời gian dài
để khẳng định.
Như vậy một cách tổng quát nhất thì chất lượng thẩm định tài chính dự
án được coi là tốt khi từ kết quả thẩm định ngân hàng quyết định cấp tín dụng và
khoản tín dụng đó đem lại thu nhập cho ngân hàng, hay khi ngân hàng từ chối
cấp thì cũng không làm giảm thu nhập của ngân hàng.
1.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thẩm định tài chính dự án.
Mặc dù khó đưa ra một khái niệm chính xác nhưng không phải là các
ngân hàng không có cách để xác định được chất lượng thẩm định tài chính dự
án. Dưới đây là một số chỉ tiêu để đánh giá chất lượng thẩm định tài chính dự án.
Một là mức độ khách quan, khoa học, toàn diện của kết quả quá trình
thẩm định tài chính của dự án và tầm quan trọng của những kết quả này trong
quyết định cho vay của ngân hàng.
Hai là độ chính xác giữa kết quả thẩm định với thực tế thực hiện dự án.
Bao gồm sự chính xác về số vốn bỏ ra dự tính cho từng giai đoạn của dự án với
lượng vốn chi ra ở từng giai đoạn, doanh thu dự tính thu được với doanh thu