Giải pháp đảm bảo an toàn trong hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam - Pdf 27

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ luận văn “Giải pháp đảm bảo an toàn trong
hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” là công
trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi; các số liệu, trích dẫn trong luận văn đều
có nguồn gốc rõ ràng. Kết quả của luận văn là trung thực và chưa được công bố
trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào.
Hà Nội, ngày 11 tháng 12 năm 2012
HỌC VIÊN
ĐỖ CẨM HIỀN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTW : Ngân hàng trung ương
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
TCTD : Tổ chức tín dụng
BHTG : Bảo hiểm tiền gửi
BHTGVN : Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
HĐQT : Hội đồng quản trị
BKS : Ban kiểm soát
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
BẢNG
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 2
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ 3
MỤC LỤC 4
4
LỜI MỞ ĐẦU 6

2.1.1. Giai đoạn từ năm 1990 trở về trước 28
2.1.2. Giai đoạn từ 1990 đến nay 29
2.2. Thực trạng về khả năng đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của hệ
thống NHTMCP Việt Nam 35
2.2.1. Về năng lực tài chính 35
2.2.2. Về giới hạn cấp tín dụng 39
2.2.3. Về giới hạn đầu tư tài chính 40
2.2.4. Về các tỉ lệ thanh khoản 41
2.2.5. Về khả năng sinh lời 42
2.2.6. Về năng lực tự kiểm soát của các NHTMCP 49
2.3. Thực trạng công tác thanh tra, giám sát của NHNN về sự an toàn của hệ thống
NHTMCP 52
2.3.1. Việc xây dựng chính sách thanh tra, giám sát 52
2.3.2. Việc thanh tra tại chỗ 55
2.3.3. Việc giám sát từ xa 59
2.4. Đánh giá thực trạng đảm bảo an toàn hệ thống NHTMCP Việt Nam 62
2.4.1. Những kết quả đạt được 62
2.4.2. Những hạn chế, tồn tại 64
CHƯƠNG 3 68
CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG HOẠT ĐỘNG 68
HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 68
3.1. Định hướng phát triển hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 68
3.1.1. Định hướng phát triển hệ thống NHTM Việt Nam 68
3.1.2. Định hướng chính sách 70
3.1.3. Định hướng đổi mới hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng 70
3.2. Đề xuất các giải pháp đảm bảo an toàn của hệ thống NHTMCP Việt Nam 72
3.2.1. Các giải pháp về chính sách ngân hàng 72
3.2.2. Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTMCP 81
3.2.3. Các giải pháp đối với cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng 83
LỜI MỞ ĐẦU

Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các NHTMCP hoạt động tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Để đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng cần thực
hiện đồng bộ các giải pháp: ổn định chính trị xã hội, phát triển và ổn định nền
kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng (sức mạnh về tài
chính, hoạt động kinh doanh, công nghệ, quản lý ), chính sách tiền tệ (chính
sách lãi suất, tỷ giá ). Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chủ
yếu tập trung kiến nghị các giải pháp hoàn thiện quy chế về các tỉ lệ đảm bảo an
toàn trong hoạt động, phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng,
nâng cao hiệu quả của hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng và tăng cường
năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu từ duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử, phương pháp tiếp cận hệ thống đến phương pháp khảo nghiệm tổng kết thực
tiễn, phương pháp nghiên cứu dữ liệu, phương pháp phân tích, so sánh thống kê
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các bảng số liệu chứng minh và minh họa.
Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các
bảng số liệu, biểu đồ, nội dung chính của đề tài được thể hiện trong 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về đảm bảo an toàn của hệ thống ngân
hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng về đảm bảo an toàn của hệ thống ngân hàng
thương mại cổ phần Việt Nam.
Chương 3: Các giải pháp đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng thương
mại cổ phần Việt Nam.

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN
CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Vai trò của NHTM đối với nền kinh tế
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và

mại) đối với nền kinh tế, có khả năng hạn chế hoặc xử lý các rủi ro trước khi các
rủi ro này đe dọa đến hệ thống tài chính - ngân hàng. Theo một số nhà kinh tế
khác thì một hệ thống ngân hàng an toàn là hệ thống mà trong đó các cú “sốc” với
quy mô bình thường phát sinh từ khu vực sản suất, kinh doanh hoặc khu vực tài
chính đều không thể tạo ra cuộc khủng hoảng tài chính - ngân hàng cho hệ thống
ngân hàng.
Một trong những quan điểm mang tính thực tiễn về khái niệm “đảm bảo an
toàn hệ thống ngân hàng” mà được phần đông các chuyên gia ngân hàng nhìn
nhận là “đảm bảo cho hệ thống ngân hàng không xảy ra khủng hoảng, đổ vỡ
ngân hàng mang tính hệ thống”.
1.2.2. Sự cần thiết phải đảm bảo an toàn trong hệ thống NHTM mỗi quốc gia
Hệ thống ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh
tế của hầu hết các quốc gia, nó không chỉ là kênh cơ bản cung ứng vốn cho mọi
hoạt động của nền kinh tế mà còn giữ vai trò thiết yếu trong việc truyền dẫn
chính sách tiền tệ, góp phần thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế.
Hệ thống ngân hàng là một bộ phận tối quan trọng và không thể tách rời của hệ
thống tài chính. Hệ thống ngân hàng có quan hệ “sống còn” với các khu vực và thị
trường bộ phận khác của nền kinh tế. Sự sụp đổ hàng loạt ngân hàng sẽ luôn gây
bất ổn lớn cho hệ thống tài chính và các thị trường bộ phận khác, từ đó đe dọa đến
sự ổn định của nền kinh tế. Với vai trò quan trọng không thể thay thế của hệ thống
ngân hàng đối với nền kinh tế đã đặt ra yêu cầu phải đảm bảo sự phát triển an
toàn, bền vững của từng ngân hàng nói riêng và toàn hệ thống nói chung.
1.3. Các tiêu chí đánh giá sự an toàn trong hoạt động của NHTM và của hệ
thống NHTM
1.3.1. Tiêu chí về vốn và mức độ đủ vốn
1.3.1.1. Vốn điều lệ
Vốn điều lệ là số vốn ban đầu của một NHTM, là tiêu chuẩn được thành lập
và đi vào hoạt động của NHTM. Vốn điều lệ được ghi trong điều lệ hoạt động của
NHTM. Vốn này có thể khác nhau giữa các ngân hàng, phụ thuộc vào mỗi hình
2

Capital Adequacy Ratio)
“Tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu” là tỉ lệ giữa Vốn tự có của ngân hàng so với
3
Tổng tài sản “Có” rủi ro.
Đây là một tỉ lệ có tính chuẩn mực quốc tế, bất cứ NHTM của nước nào
cũng phải tuân thủ nhằm đảm bảo quan hệ giữa vốn tự có và tài sản mà ngân
hàng sử dụng để đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng hay nói cách khác
đảm bảo đủ vốn để bù đắp các tổn thất không định trước.
Tại điều 4, quyết định số 457, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
quy định “Tổ chức tín dụng, trừ chi nhánh Ngân hàng nước ngoài phải duy trì tỉ
lệ tối thiểu 8% giữa vốn tự có so với tổn tài sản “Có” rủi ro”.
Tuy nhiên, do tình hình diễn biến phức tạp của nền kinh tế nói chung cũng
như về hoạt động tiền tệ - tín dụng và để tăng cường khả năng kiểm soát đối với
hoạt động của các tổ chức tín dụng, ngày 20/5/2010, Thống đốc đã ban hành thông
tư số 13/TT-NHNN quy định tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu đối với các NHTM là 9%.
Hệ số CAR (%) =
Vốn tự có (*)

9%
Tổng tài sản “Có” rủi ro (**)
Hệ số này được hiểu về phương diện chủ quan trong việc điều hành và bố
trí nguồn vốn của NHTM, bảo đảm sự cân đối với việc sử dụng vốn. Hệ số này
càng cao thì sự an toàn càng lớn.
(*)Vốn tự có: một trong những điểm mới lớn nhất của Quyết định số
457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005 là đưa ra một định nghĩa tương đối đầy đủ
và cụ thể về “vốn tự có” của các tổ chức tín dụng. Theo quy định của Luật Các
Tổ Chức Tín Dụng, vốn tự có được định nghĩa bao gồm “giá trị thực có của vốn
điều lệ, các quỹ dự trữ, một số tài sản “Nợ” khác của tổ chức tín dụng theo quy
định của Ngân Hàng Nhà Nước” và vốn tự có là căn cứ để tính toán các Tỉ lệ bảo
đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng. Mặc dù vậy, Luật Các Tổ Chức Tín

giá trị giảm đi của các tài sản cố định hay chứng khoán đầu tư do định giá lại,
tổng số vốn góp hoặc cổ phần trong tổ chức tín dụng khác, phần góp vốn, liên
doanh, mua cổ phần của quỹ đầu tư, doanh nghiệp vượt mức 15% vốn tự có, và
lỗ kinh doanh kể cả các khoản lỗ lũy kế.
(**)Tổng tài sản “Có” rủi ro: là tổng tài sản “Có” nội bảng (bao gồm,
ngoài những mục khác, tiền mặt, vàng, tiền gửi, các khoản cho vay và các khoản
phải đòi) và tài sản “Có” ngoại bảng (bao gồm, ngoài các mục khác, cam kết bảo
lãnh, cho vay, thư tín dụng và chấp nhận thanh toán) được điều chỉnh theo hệ số
rủi ro. Dựa trên mức độ rủi ro, các hệ số rủi ro cho tài sản “Có” nội bảng gồm 4
nhóm là 100%, 50%, 20% và 0%. Tuy nhiên, đối với tài sản “Có” ngoại bảng thì
5
phụ thuộc vào mức độ rủi ro tương đối so với việc cấp tín dụng trực tiếp, giá trị
của tài sản này trước tiên phải được chuyển đổi từ giá trị ngoại bảng sang nội
bảng theo các hệ số chuyển đổi 100%, 50%, 20% và 0% trước khi nhân với các
hệ số rủi ro (gồm 3 nhóm là 100%, 50% và 0%).
Giống như quy định tại Quyết định số 457, tài sản Có rủi ro được phân loại thành
6 nhóm có hệ số rủi ro tương ứng là 0%, 20%, 50%, 100%, 150% và 250%. Đặc biệt,
đối với các khoản cho vay đối với công ty chứng khoán, để đầu tư chứng khoán và
khoản cho vay nhằm mục đích kinh doanh bất động sản có hệ số rủi ro 250%.
1.3.2. Tiêu chí về giới hạn tín dụng
Giới hạn cấp tín dụng cho một khách hàng và người có liên quan để hạn chế
rủi ro do việc tập trung tín dụng hay yêu cầu TCTD đa dạng hóa danh mục tín
dụng nhằm phân tán rủi ro.
Khác với Quyết định số 457, Thông tư số 13 (Điều 7) yêu cầu TCTD phải
xây dựng, ban hành quy định về các tiêu chí xác định một khách hàng, nhóm
khách hàng có liên quan, chính sách tín dụng đối với khách hàng và các giới hạn
tín dụng áp dụng đối với một khách hàng và nhóm khách hàng có liên quan và
phải được sửa đổi, bổ sung phù hợp với nội dung sửa đổi, bổ sung các quy định
nội bộ về quản lý chất lượng tín dụng, chính sách tín dụng đối với khách hàng
khi hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ được sửa đổi, bổ sung hàng năm. Giới hạn

gián tiếp và trực tiếp) của ngân hàng do bản chất nguồn vốn huy động (với tỷ
trọng lớn là tiền gửi) có tính ngắn hạn.
Tương tự như quy định tại Quyết định số 457 và Quyết định số 34 sửa đổi
bổ sung Quyết định số 457 quy định:
TCTD chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần.
Mức góp vốn, mua cổ phần của TCTD trong một doanh nghiệp, quỹ đầu tư dự
án đầu tư, TCTD khác không được vượt quá 11% vổn điều lệ của doanh nghiệp,
quỹ đầu tư, dự án đầu tư, TCTD khác đó, trừ trường hợp góp vốn, mua cổ phần
thành lập công ty trực thuộc theo quy định của pháp luật.
Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của TCTD và các công ty con, công ty
liên doanh, công ty liên kết của TCTD trong cùng một doanh nghiệp, quỹ đầu tư,
dự án đầu tư, TCTD khác không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh
nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, TCTD khác đó.
Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của TCTD: Trong tất cả các doanh nghiệp,
quỹ đầu tư, dự án đầu tư, TCTD khác và góp vốn, mua cổ phần của công ty trực
thuộc của TCTD không được vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của TCTD,
trong đó tổng mức góp vốn, mua cổ phần của TCTD vào các công ty trực thuộc
không được vượt quá 25% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của TCTD.
TCTD góp vốn, mua cổ phần vượt quá Tỉ lệ quy định trên phải được
7
NHNN chấp thuận trước bằng văn bản.
1.3.4. Tiêu chí về khả năng chi trả
Khả năng chi trả là một tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng và sự an
toàn trong quá trình hoạt động của một ngân hàng. Khả năng chi trả của ngân
hàng là khả năng có đủ thanh khoản khi xảy ra rủi ro xuất phát từ sự mất cân đối
về kỳ hạn, nguồn vốn và sử dụng vốn.
Để đảm bảo khả năng chi trả, ngân hàng phải duy trì được một tỉ lệ tài sản
có nhất định dưới dạng tài sản có tính lỏng, đặc biệt là các tài sản có tính thanh
khoản cao như tiền mặt, tiền gửi ở NHTW và các công cụ dự trữ thanh khoản
khác. Ngoài ra, các ngân hàng còn phải chú trọng nâng cao chất lượng các tài

Trên cơ sở kết quả bảng theo dõi, quản lý kỳ hạn thanh toán và tính toán
các tỉ lệ về khả năng chi trả, trường hợp cuối mỗi ngày không đảm bảo các tỉ lệ
quy định, TCTD phải có các biện pháp xử lý, kể cả việc vay từ các TCTD khác
để hỗ trợ khả năng chi trả, đảm bảo đáp ứng các tỉ lệ về khả năng chi trả cho
ngày hôm sau theo quy định; đồng thời báo cáo ngay NHNN về các biện pháp
xử lý. Sau khi đã áp dụng các biện pháp xử lý nêu trên mà TCTD tiếp tục gặp
khó khăn hoặc có rủi ro về khả năng chi trả, ảnh hưởng đến khả năng thanh
khoản TCTD phải báo cáo ngay NHNN. NHNN được áp dụng các biện pháp cần
thiết để xử lý đối với TCTD gặp khó khăn và có rủi ro về khả năng chi trả, khả
năng thanh khoản.
1.3.5. Tiêu chí về phân loại nợ vay và trích lập dự phòng rủi ro
Phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro để đánh giá chất lượng tài sản “Có”,
có bổ sung quản lý, điều chỉnh cơ cấu danh mục đầu tư hợp lý - đảm bảo trích
lập dự phòng đầy đủ nguồn tài chính để bù đắp các tổn thất, xác định năng lực,
mức độ lành mạnh về tài chính của các TCTD.
Ngày 22/4/2005, Thống đốc NHNN ban hành Quyết định số 493/2005/QĐ -
NHNN quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro, quy định các TCTD
hoạt động tại Việt Nam, trừ Ngân hàng Chính sách xã hội (Quyết định số 493);
Ngày 25/4/2007, Thống đốc NHNN ban hành Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN
về việc sửa đổi bổ sung một số Điều của Quyết định số 493, quy định TCTD
phải thực hiện việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro
tín dụng trong hoạt động ngân hàng, cụ thể:
Về phân loại nợ: ít nhất mỗi quý một lần, trong thời hạn 15 ngày làm việc
đầu tiên của tháng tiếp theo, TCTD thực hiện phân loại nợ gốc và trích lập dự
phòng rủi ro đến thời điểm cuối ngày làm việc cuối cùng của quý (tháng) trước.
9
Riêng đối với quý IV, trong thời hạn 15 ngày làm việc đầu tiên của tháng 12,
TCTD thực hiện việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro đến thời điểm
cuối ngày 30 tháng 11. Đối với các khoản nợ xấu (NPL), TCTD phải thực hiện
việc phân loại nợ, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng trên cơ sở hàng

10
TCTD thực hiện việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng một quý
một lần. Việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro theo những nguyên tắc: Sử dụng
dự phòng cụ thể quy định để xử lý rủi ro tín dụng đối với khoản nợ đó, Phát mại
tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, trường hợp phát mại tài sản không đủ bù đắp cho
rủi ro tín dụng của khoản nợ thì được sử dụng dự phòng chung để xử lý đủ.
Việc TCTD sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng không phải là xoá nợ
cho khách hàng. Sau khi đã sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng, TCTD phải
chuyển các khoản nợ đã được xử lý rủi ro tín dụng từ hạch toán nội bảng ra hạch
toán ngoại bảng để tiếp tục theo dõi và có các biện pháp để thu hồi nợ triệt để.
1.3.6. Tiêu chí về tổ chức quản lý, điều hành
Một yếu tố quyết định hiệu quả kinh doanh và sự an toàn của ngân hàng là
năng lực và chất lượng quản lý. Quản lý ngân hàng là tạo ra hệ thống các hoạt
động thống nhất, phối hợp và liên kết các quá trình lao động của các cán bộ nhân
viên từ các phòng ban đến hội đồng quản trị trong ngân hàng, nhằm đạt được
mục tiêu kinh doanh ở mỗi thời kỳ đã xác định, trên cơ sở giảm thiểu các chi phí
về nguồn lực. Nói đến chất lượng và năng lực quản lý là nói đến yếu tố con
người trong bộ máy quản lý và hoạt động, thể hiện ở các nội dung:
- Đề ra được các chính sách kinh doanh đúng đắn và có hiệu quả;
- Xây dựng các thủ tục quản lý, điều hành các quy trình nghiệp vụ hợp lý,
sát thực và đúng pháp luật;
- Tạo lập được cơ cấu tổ chức hợp lý, vận hành hiệu quả;
- Giảm thiểu rủi ro về đạo đức trong hệ thống quản lý.
Ngoài ra, chất lượng và năng lực quản lý còn thể hiện ở khả năng nắm bắt
kịp thời những tình huống bất lợi, nhận biết sớm các nguy cơ rủi ro tiềm ẩn đe
dọa sự an toàn của ngân hàng để đưa ra những biện pháp đối phó kịp thời. Chất
lượng quản lý cuối cùng được phản ánh ở tình hình tuân thủ đầy đủ luật pháp
cũng như các quy chế hoạt động, hiệu quả kinh doanh và mức lợi nhuận thu
được tăng lên, duy trì được khả năng thanh toán, sức cạnh tranh và vị thế của
ngân hàng trên thị trường ngày một nâng cao, ngân hàng luôn phát triển bền

tiền, ngày 18/06/2012 vừa qua, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật Bảo hiểm
tiền gửi số 06/2012/QH13.
Theo đó, ngoại trừ các ngân hàng chính sách, tất cả các tổ chức tín dụng và
các chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt nam đều phải tham gia
bảo hiểm tiền từ ngày 01/01/2013.
12
Tiền gửi được bảo hiểm phải bằng đồng Việt Nam và không thuộc sở hữu
của các cá nhân là thành viên Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Ban kiểm
soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của tổ
chức tham gia bảo hiểm tiền gửi hoặc người nắm giữ trên 5% vốn điều lệ của tổ
chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đó.
Mức phí bảo hiểm tiền gửi do Thủ tướng Chính phủ quy định theo đề nghị
của Ngân hàng Nhà nước dựa trên cơ sở số dư tiền gửi bình quân của tiền gửi
được bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và được nộp định kỳ hàng
quý trong năm tài chính.
Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi vi phạm thời hạn nộp phí bảo hiểm tiền
gửi theo quy định tại nêu trên này, thì ngoài việc phải nộp đủ số phí còn thiếu
phải chịu phạt mỗi ngày nộp chậm bằng 0,05% số tiền nộp chậm. Trường hợp tổ
chức tham gia bảo hiểm tiền gửi không nộp hoặc nộp không đầy đủ phí bảo hiểm
tiền gửi theo quy định của pháp luật, thì tổ chức bảo hiểm tiền gửi đó phải có
văn bản đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đình chỉ hoặc tạm đình chỉ hoạt
động nhận tiền gửi của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.
Luật Bảo hiểm tiền gửi chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013.
1.3.8. Dấu hiệu mất an toàn hệ thống và vai trò của NHTW trong trường hợp
rủi ro hệ thống
Dấu hiệu mất an toàn hệ thống ngân hàng là tình trạng diễn ra khi các
khách hàng đồng loạt rút tiền ồ ạt khỏi ngân hàng. Vì ngân hàng cho vay phần
lớn số tiền gửi vào nên khi khách hàng đồng loạt rút tiền, sẽ rất khó để các ngân
hàng có khả năng hoàn trả các khoản nợ. Sự rút tiền ồ ạt có thể dẫn tới sự phá
sản của ngân hàng, khiến nhiều khách hàng mất đi khoản tiền gửi của mình, trừ

TCTD lâm vào tình trạng kiểm soát đặc biệt hoặc vi phạm nghiêm trọng các quy
định của pháp luật về hoạt động ngân hàng hoặc các trường hợp khác dẫn đến
tình trạng TCTD hoạt động không an toàn thì Thống đốc NHNN có quyền áp
dụng các biện pháp giám sát đặc biệt đối với TCTD đó.
Nhằm xử lý các TCTD có vấn đề hoặc để khuyến khích các TCTD nâng cao
năng lực cạnh tranh, việc ban hành quy định về sáp nhập, hợp nhất các TCTD đã
tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho các TCTD khi lựa chọn giải pháp trên.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự an toàn của hệ thống NHTM
1.4.1. Nhân tố bản thân mỗi NHTM về khả năng cạnh tranh và phát triển
Năng lực cạnh tranh của ngân hàng là khả năng do chính ngân hàng tạo ra
14
trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm củng cố và mở rộng
thị phần; gia tăng lợi nhuận. Năng lực cạnh tranh cũng thể hiện khả năng của
ngân hàng trong việc chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi
trường kinh doanh. Năng lực cạnh tranh của NHTM được đánh giá qua các yếu
tố: năng lực tài chính; năng lực công nghệ; nguồn nhân lực; năng lực quản lý
điều hành; mạng lưới hoạt động; mức độ đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh.
1.4.1.1. Về năng lực tài chính
Năng lực tài chính của NHTM không những thể hiện sức mạnh tài chính
hiện tại của NHTM mà còn thể hiện sức mạnh tài chính tiềm năng, triển vọng và
xu hướng phát triển trong tương lai của NHTM đó. Năng lực tài chính của
NHTM phải hiểu khác với năng lực tài chính của một doanh nghiệp. Năng lực tài
chính của một doanh nghiệp là nguồn lực tài chính của bản thân doanh nghiệp, là
khả năng tạo tiền, tổ chức lưu chuyển tiền hợp lý, đảm bảo khả năng thanh toán
thể hiện ở quy mô vốn, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời đủ để đảm bảo
và duy trì hoạt động kinh doanh được tiến hành bình thường. Trong khi đó, năng
lực tài chính của một NHTM là khả năng tạo lập nguồn vốn và sử dụng vốn phát
sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng, thể hiện ở quy mô vốn
tự có, chất lượng tài sản, chất lượng nguồn vốn, khả năng sinh lời và khả năng
đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh.

của cổ đông và phải tạo ra cơ chế giám sát hiệu quả. Quản lý ngân hàng hiệu quả
khi được cơ cấu bởi các thành viên có năng lực, trình độ chuyên môn, có uy tín
và kinh nghiệm phù hợp.
1.4.1.3. Về trình độ công nghệ và nhân lực
Về công nghệ:
Công nghệ ảnh hưởng tới mọi hoạt động của ngân hàng, từ hoạt động kinh
doanh đến công tác quản lý rủi ro, quản lý vốn và tài sản, quản lý công nợ và
công tác kế toán
Phát triển công nghệ ngân hàng (ứng dụng công nghệ hiện đại, phát triển
các giao dịch ngân hàng điện tử ) luôn được xem là khâu đột phá quan trọng
trong hoạt động ngân hàng, giúp hệ thống đổi mới nhanh hơn, các dịch vụ cạnh
tranh tốt hơn và hạn chế thấp nhất các rủi ro. Công nghệ chính là nhân tố thúc
đẩy dịch vụ ngân hàng phát triển về số lượng và chất lượng, cải thiện các tiện ích
và tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn cho người tiêu dùng, nhờ đó gia tăng khả năng
cạnh tranh của ngân hàng.
Về nhân lực:
Hệ thống ngân hàng tồn tại trên cơ sở quản lý rủi ro và duy trì niềm tin từ
16
công chúng, do đó nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng. Ngành công
nghiệp tài chính rất chú ý đến việc phân tích, đánh giá, dự báo và cảm nhận về
rủi ro cũng như cơ hội đi kèm với việc luân chuyển các dòng vốn. Vì hiệu quả
thị trường chỉ tồn tại trên lý thuyết nên việc xử lý thông tin phải đi qua “lăng
kính” năng lực của con người. Mọi sự thành công của hệ thống ngân hàng đều
xuất phát từ yếu tố con người.
1.4.1.4. Về hệ thống mạng lưới, chi nhánh
Mạng lưới rộng thể hiện khả năng phát triển, khả năng cung ứng dịch vụ và
khả năng cạnh tranh của hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, một mạng lưới hoạt
động ngân hàng phân bổ bất hợp lý, quá dày đặc tại một số địa bàn nhất định, dễ
dẫn đến tình trạng nhiều vùng địa lý không tiếp cận được các dịch vụ ngân hàng,
trong khi đó, tại các địa bàn với mật độ mạng lưới ngân hàng quá dày đặc, tình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status