Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần việt nam trong điều kiện hội nhập - Pdf 14

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh của hệ thống ngân hàng TMCP
Việt Nam trong điều kiện hội nhập
Họ và tên sinh viên : Bùi Văn Doanh
Lớp : Anh 2
Khóa : 42
Giáo viên hướng dẫn : TS. Bùi Thị Lý Hà Nội - 11/2007 Lời cảm ơn

ADB
Ngân hàng phát triển châu Á
AFTA
Khu vực Mậu dịch tự do Đông Nam Á
ASEAN
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ATM
Máy rút tiền tự động
DN
Doanh nghiệp
DNNN
Doanh nghiệp Nhà nước
Eximbank
Ngân hàng Thương mại Cổ phần xuất nhập khẩu
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
HN
Hội nhập
HNKT
Hội nhập kinh tế
HNKTQT
Hội nhập kinh tế quốc tế
HSBC
Hongkong and Shanghai Banking Corporation
HTNH
Hệ thống Ngân hàng
IMF
Quỹ tiền tệ quốc tế
NH
Ngân hàng

2. Biểu đồ:
Tên biểu đồ
Trang
Biểu đồ 1: Mức tăng trưởng GDP từ năm 2001 đến
năm 2006
Error! Bookmark
not defined.
Biểu đồ 2: Mức tăng trưởng về vốn điều lệ của ngân
hàng Eximbank
51
Biểu đồ 3: Mức tăng trưởng về vốn điều lệ của ngân
hàng Techcombank các năm 2002 – 2006
52
Biểu đồ 4: Mức tăng trưởng về vốn điều lệ của ngân
hàng VIB bank
53
Biểu đồ 5: Cơ cấu nguồn vốn năm 2006 của Ngân hàng
VIBank
64
Biểu đồ 6: Cơ cấu huy động vốn của Techcombank
năm 2006
67
Biểu đồ 7,8: Mức tăng trưởng Vốn điều lệ và Tài sản
của Eximbank từ 2002 – 2006
68
3. Bảng:
Tên bảng
Trang
Bảng 1: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) giai đoạn 1998 – 2006
43

ngành ngân hàng là một ngành vô cùng nhạy cảm với mọi biến động về kinh
tế ,chính trị , xã hội. Sự lành mạnh, hiệu quả của hệ thống ngân hàng ảnh
hưởng tích cực đến toàn bộ hoạt động của nền kinh tế. Nếu hệ thống ngân
hàng không thực sự vững mạnh thì khi tham gia vào hội nhập quốc tế tất cả
những điểm yếu đó sẽ sớm bộc lộ và trở thành nguyên nhân của bất ổn định
về kinh tế. Nhận thức được điều đó ngành ngân hàng đã và đang nỗ lực cải tổ
lại hệ thống nhằm tăng khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập.
Trong vài năm gần đây hệ thống ngân hàng đã không ngừng được mở
rộng rất nhiều ngân hàng cổ phần được thành lập đã góp phần làm phong phú
hơn sự lựa chọn của khách hàng. Tuy nhiên với số vốn còn hạn chế, uy tín
chưa cao đã khiến cho các ngân hàng thương mại cổ phần gặp không ít khó
khăn trong huy động vốn và đặc biệt là việc cạnh tranh với các ngân hàng
Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng TMCP Việt
Nam trong điều kiện hội nhập.
Bùi Văn Doanh_A2_K42Q Đại Học Ngoại Thương
2
quốc doanh khác. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế các ngân hàng TMCP sẽ
còn gặp khó khăn hơn nữa khi đối thủ của họ là các ngân hàng nước ngoài với
tiềm năng tài chính mạnh mẽ, danh mục sản phẩm đa dạng, cơ chế quản lí tiên
tiến. Để có thể tồn tại và phát triển đòi hỏi các ngân hàng TMCP phải hết sức
nỗ lực hoàn thiện, tập trung mọi nguồn lực nâng cao khả năng cạnh tranh của
chính mình.
Hiện nay Việt Nam đang từng bước tham gia vào tiến trình hội nhập
nên vấn đề “ Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ
thống ngân hàng TMCP Việt Nam trong điều kiện hội nhập” đang rất được
quan tâm.
Chính vì vậy đề tài này đã được em chọn nghiên cứu trong khoá luận này.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Khoá luận được thực hiện với mục tiêu:
- Làm sáng rõ những lí luận cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế nói

Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM CP
Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
hệ thống các ngân hàng TMCP Việt Nam trong điều kiện hội nhập. Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng TMCP Việt
Nam trong điều kiện hội nhập.
Bùi Văn Doanh_A2_K42Q Đại Học Ngoại Thương
4
CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ CẠNH TRANH NGÂN HÀNG
TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1.1 Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề cạnh tranh trong hội nhập kinh tế

gồm:
- Kí kết các hiệp định, các cam kết chung với các tổ chức kinh tế quốc
tế; cùng các thành viên đàm phán, xây dựng các lộ trình mở cửa cho phù hợp
với điều kiện của từng quốc gia.
- Tiến hành các công việc cần thiết trong nước để đảm bảo đạt được
mục tiêu của quá trình hội nhập cũng như thực hiện các quy định, cam kết
quốc tế về hội nhập. Các quốc gia cần hết sức nỗ lực trong việc triển khai các
nhiệm vụ sau:
+ Điều chỉnh các chính sách theo hướng tự do hoá và mở cửa, giảm và
tiến tới cắt giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan, làm cho việc trao đổi
hàng hoá, dịch vụ và sự luân chuyển vốn, lao động, công nghệ giữa các nước
thành viên dễ dàng hơn, thông thoáng hơn.
+ Điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế (bao gồm cả cơ cấu sản xuất, kinh
doanh, cơ cấu ngành và mặt hàng, cơ cấu đầu tư.) cho phù hợp với quá trình
tự do hoá và mở cửa nền kinh tế. Từ đó tìm ra một cơ cấu kinh tế tối ưu, có
khả năng cạnh tranh cao, phát huy tốt nhất những lợi thế của đất nước trong
quá trình hội nhập. Quá trình này được thực hiện ở các nước rất khác nhau,
tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia.
+ Tiến hành các cải cách cần thiết về kinh tế, xã hội đặc biệt là việc cải
cách hệ thống các doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo
quá trình hội nhập được thực hiện một cách có hiệu quả.
+ Đào tạo và chuẩn bị nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ công chức,
những người quản lí doanh nghiệp và lực lượng công nhân lành nghề có thể
đáp ứng tốt đòi hỏi của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng TMCP Việt
Nam trong điều kiện hội nhập.
Bùi Văn Doanh_A2_K42Q Đại Học Ngoại Thương
6
c. Các hình thức hội nhập:
Căn cứ vào nhu cầu cũng như điều kiện của mình, các quốc gia có thể

Nó đòi hỏi các quốc gia phải tìm hiểu và phân tích kĩ lưỡng những thời cơ và
thách thức đối với mình trước khi quyết định tham gia một tổ chức nào đó.
d. Phương thức:
Về phương thức hội nhập thì có các phương thức: Khu vực mậu dịch tự
do, Liên minh thuế quan, Thị trường chung, Liên minh kinh tế, Liên minh tiền
tệ, Liên minh toàn diện. Bên cạnh đó giữa các quốc gia còn có các thỏa thuận
như: Thỏa thuận thương mại ưu đãi, Thỏa thuận thương mại tự do từng phần.
e. Vai trò của HNKTQT:
HNKTQT là một xu hướng tất yếu đối với tất cả các nền kinh tế thế
giới ngày nay. HNKTQT là con đường ngắn nhất giúp cho các nước (đặc biệt
là các nước đang phát triển) thu hẹp khoảng cách với các nước khác, có điều
kiện phát huy tối đa lợi thế so sánh của mình trong phân công lao động quốc
tế. Đó là bởi vì HNKTQT là quá trình tự do hoá mọi hoạt động đầu tư, hoạt
động thương mại, xoá bỏ dần mọi rào cản về thương mại và đầu tư nhằm mục
đích tăng cường trao đổi hàng hoá trong nước và quốc tế, thu hút nguồn lực
từ bên ngoài, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận với khoa
học kĩ thuật và thị trường mới. Chính vì vậy vai trò của HNKTQT là không
thể phủ nhận.
- HNKTQT góp phần làm tăng khả năng thu hút vốn đầu tư từ trong và
ngoài nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường.
Việc hàng hoá, dịch vụ, vốn, nhân công được lưu chuyển tự do giữa các
quốc gia đã cho phép nhiều cá nhân, doanh nghiệp trong nước thâm nhập, mở
rộng thị trường cả trong và ngoài nước. Chính vì vậy các doanh nghiệp luôn
phải chú trọng tới việc mở rộng sản xuất kinh doanh và hướng tới những thị
trường mang lại hiệu quả lớn nhất.
Cùng với việc mở rộng sản xuất kinh doanh cả về chiều rộng và chiều
sâu các doanh nghiệp sẽ cần một lượng vốn đầu tư lớn hơn. Nhờ việc thực
hiện tự do hoá hoạt động đầu tư, môi trường đầu tư luôn được cải thiện, các
Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng TMCP Việt
Nam trong điều kiện hội nhập.

Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng TMCP Việt
Nam trong điều kiện hội nhập.
Bùi Văn Doanh_A2_K42Q Đại Học Ngoại Thương
9
Chính vì vậy để có thể tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải hết
sức nỗ lực trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh (áp dụng công
nghệ mới, thay đổi mẫu mã sản phẩm, áp dụng các hệ thống quản lí chất
lượng đặc biệt là phải xây dựng cho mình một thương hiệu riêng) để tăng khả
năng cạnh tranh trên thị trường.
Trên góc độ một quốc gia, để tăng năng lực cạnh tranh của một nền kinh
tế đòi hỏi mỗi nước phải tạo dựng được môi trường kinh tế thông thoáng, phát
huy được các lợi thế so sánh, khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo dựng môi
trường cạnh tranh lành mạnh, phấn đấu đạt mức tăng trưởng cao và bền vững.
Chính vì vậy các nước phải hết sức nỗ lực trong việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, tập trung vào những ngành mà ta có thế mạnh trong cạnh tranh để
có thể đáp ứng nhu cầu của hội nhập.
- HNKTQT tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực
quản lí của đội ngũ cán bộ.
Quá trình HNKTQT đòi hỏi đội ngũ cán bộ, các nhà quản lí doanh
nghiệp phải có những hiểu biết nhất định về thương mại quốc tế và HNKTQT
, có trình độ chuyên môn, tay nghề cũng như năng lực quản lí, xử lí công việc
tốt. Đó là những đòi hỏi tối thiểu trong quan hệ thương mại quốc tế.
Mặt khác HNKTQT tạo điều kiện giúp đào tạo đội ngũ cán bộ, các nhà
quản lí, nhân công lớn lên không ngừng về nhiều mặt, đáp ứng được nhu cầu
ngày càng cao của tiến trình HNKTQT .
1.1.1.2. Tác động của HNKTQT đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các
nước trên thế giới:
a. Tác động tích cực:
- Tham gia HNKTQT tạo cho các nước phát huy được lợi thế so sánh
của mình:

phạm vi tiêu thụ của hàng hoá không còn thu hẹp trong biên giới một quốc gia
mà được mở rộng ra nhiều nước trên thế giới. Các nước phát triển có thể được
tiêu thụ sản phẩm từ các nước đang phát triển như các mặt hàng nông hải sản,
thủ công mỹ nghệ và ngược lại trên thị trường của các nước đang phát triển
Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng TMCP Việt
Nam trong điều kiện hội nhập.
Bùi Văn Doanh_A2_K42Q Đại Học Ngoại Thương
11
cũng có những mặt hàng có hàm lượng kĩ thuật cao như: ô tô, xe máy và các
thiết bị điện tử.
Các sản phẩm, kể cả sản phẩm dịch vụ tài chính từ các nhà cung cấp
khác nhau, với giá cả ngày càng giảm và chất lượng ngày càng tăng, tiện ích
cũng như các danh mục sản phẩm ngày càng đa dạng và phong phú do các
nhà cung cấp cạnh tranh với nhau để thu hút khách hàng. Điều đó giúp tạo ra
có nhiều cơ hội lựa chọn sản phẩm với chất lượng tốt và giá rẻ !
- HNKTQT tạo điều kiện cho các dòng vốn tự do lưu chuyển giữa
các nước.
Việc tự do hoá thị trường tài chính tạo tiền đề cần thiết cho sự hội nhập
các thị trường tài chính quốc tế. Do đó tạo điều kiện cho các nguồn vốn lớn
chảy vào các nền kinh tế, đồng thời làm tăng tốc độ và quy mô giao dịch tài
chính toàn cầu lên mức chưa từng có.
Sự di chuyển tự do các dòng vốn lớn và tự do hoá đầu tư đã góp phần
làm thay đổi nhanh chóng cơ cấu kinh tế của các quốc gia tham gia HNKTQT
và có những chính sách kinh tế đúng đắn!
- HNKTQT tạo điều kiện cho các nước tiếp cận với khoa học kỹ thuât
công nghệ và kinh nghiệm kinh doanh hiện đại.
Một trong những đòi hỏi bức bách của HNKTQT là thay đổi công nghệ.
Nó đảm bảo cho sự phát triển của nền kinh tế cả về trình độ sản xuất, chất
lượng sản phẩm và trình độ quản lí, cũng như tay nghề người lao động, của một
doanh nghiệp, một ngành và thậm chí là một nền kinh tế. Từ đó sức cạnh tranh

khốc liệt, mà cạnh tranh trong nội bộ từng doanh nghiệp, ngành kinh tế của
một quốc gia cũng trở nên gay gắt hơn. Khoảng cách giữa những người giàu -
người nghèo; nông thôn - thành thị cũng ngày càng lớn hơn.
Ngoài ra HNKTQT còn dẫn tới nguy cơ phá sản các doanh nghiệp,
ngành kinh tế kém hiệu quả. Tất cả những điều đó có thể sẽ tạo điều kiện cho
tệ nạn xã hội phát triển.
- HNKTQT có thể kéo theo sự phát triển của một số tệ nạn xã hội gây
khó khăn cho việc đảm bảo an ninh quốc gia.
Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng TMCP Việt
Nam trong điều kiện hội nhập.
Bùi Văn Doanh_A2_K42Q Đại Học Ngoại Thương
13
Sự du nhập những lối sống, phong cách mới không lành mạnh là nguy
cơ dẫn tới sự suy yếu bản sắc văn hoá truyền thống. Bên cạnh đó nạn thất
nghiệp, ma tuý, mại dâm đang không ngừng gia tăng gây ảnh hưởng nghiêm
trọng tới trật tự, kỉ cương của quốc gia, tiềm ẩn những bất ổn chính trị.
- HNKTQT gây tác động xấu tới môi trường sinh thái.
Để đạt mục tiêu lợi nhuận các doanh nghiệp không hề tính toán tới
những ảnh hưởng nghiêm trọng mà họ gây ra đối với môi trường. Tình trạng
tàn phá, huỷ hoại môi trường tự nhiên ngày càng có xu hướng gia tăng. Tình
trạng suy thoái nặng nề tài nguyên đất, nước, khí quyển bộc lộ những dấu
hiệu của sự phát triển không bền vững.
1.1.2 Vấn đề cạnh tranh trong HNKTQT:
1.1.2.1. Khái niệm cạnh tranh trong HNKTQT.
Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau liên quan đến khái niệm
“cạnh tranh”. Tuỳ theo góc độ nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu đưa ra các
khái niệm khác nhau. Trong khuôn khổ khoá luận này, người viết xin trích ra
một số khái niệm nhằm giúp người đọc hiểu rõ hơn về “cạnh tranh”.
Theo báo cáo về cạnh tranh toàn cầu , định nghĩa cạnh tranh đối với
một quốc gia là: “Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và

2
.
Cũng có cách định nghĩa khác về cạnh tranh như sau:”Cạnh tranh có
thể định nghĩa như là một khả năng của doanh nghiệp nhằm đáp ứng và chống
lại các đối thủ cạnh tranh trong cung cấp sản phẩm, dịch vụ một cách lâu dài
và có lợi nhuận”
Kết luận, rõ ràng vẫn còn nhiều cách nhìn nhận khác nhau, nhưng tựu
chung lại các nhà kinh tế trên thế giới đều xem xét năng lực cạnh tranh cua
Doanh nghiệp thông qua khả năng tạo, duy trì lợi nhuận và thị phần trên thị
trường. Để đạt được điều đó các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau thông qua
tìm các yếu tố đầu vào với giá rẻ nhất ( nhân lực, vốn, công nghệ), bán các

1
Tư liệu : “ Bàn về cạnh tranh toàn cầu “ do Ts. Bạch Thụ Cường biên soạn, Nhà xuất bản thông tấn Hà Nội,
2002.
2
“Banking reform in Vietnam”, World bank (2001).
Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng TMCP Việt
Nam trong điều kiện hội nhập.
Bùi Văn Doanh_A2_K42Q Đại Học Ngoại Thương
15
yếu tố đầu ra cho nhiều người với giá cao nhất, chất lượng tốt nhất so với các
doanh nghiệp khác trên cùng một thị trường.
1.1.2.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề cạnh tranh trong quá trình
HNKTQT:
HNKTQT là xu thế tất yếu của sự phát triển kinh tế thế giới. HNKTQT
mở ra rất nhiều cơ hội tốt đẹp cho hàng tỉ người trên thế giới. Tuy nhiên
những thách thức mà HNKTQT đem lại cũng không nhỏ. Để có thể tồn tại và
phát triển trong quá trình HNKTQT đòi hỏi các nước phải nắm bắt một cách
đầy đủ những cơ hội đồng thời phải tránh được các rủi ro, phải thông qua đấu

- Các ngành luôn thay đổi vị trí tức là các ngành luôn thay đổi không
ngừng trong một khoảng thời gian ngắn.
- Nhận thức rõ mặt trái của cạnh tranh trong trạng thái động.
Mục đích của việc này là để trong tương lai lựa chọn chiến lược một
cách chính xác, những doanh nghiệp thành công và chính phủ của họ phải xác
định một cách chính xác vị trí của mình để nhận thức một cách rõ ràng mình
sẽ có mặt trong cuộc cạnh tranh theo hình thức nào.
Thực tế đã cho thấy rằng những doanh nghiệp và chính phủ thành công
nhất là những doanh nghiệp và chính phủ có thể nhanh chóng thích ứng với
sự điều chỉnh kết cấu ngành và những thay đổi môi trường chính trị và lợi ích
do HNKTQT mang lại là rất to lớn nhưng không phải quốc gia nào cũng được
hưởng lợi ích đó một cách bình đẳng. Chính vì vậy mục tiêu hàng đầu đối với
một quốc gia là xây dựng các quy tắc thậm chí thay đổi kết cấu ngành, thay
đổi thể chế quản lí.
b. Từ cạnh tranh đối kháng đến cạnh tranh hợp tác:
Cạnh tranh trong HNKTQT không thể hiểu theo nghĩa thông thường
được.Việc cạnh tranh trước đây là để giành giật thị trường, khách hàng một
cách công khai tuy nhiên giờ đây quan niệm này đã thay đổi. Việc cạnh tranh
ở đây là nhằm mục đích tìm kiếm phương thức, tiến trình, trật tự hợp tác.
Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải hết sức linh hoạt trong cạnh tranh,
không phải lúc nào cũng tìm mọi cách để đánh bại đối thủ cạnh tranh mà đôi
khi phải kết hợp với họ.
Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng TMCP Việt
Nam trong điều kiện hội nhập.
Bùi Văn Doanh_A2_K42Q Đại Học Ngoại Thương
17
Xét ở góc độ hành vi khi hợp tác dù là trong điều kiện nương tựa lẫn
nhau hay trong điều kiện HNKTQT hành vi của các quốc gia không khác
nhau nhiều lắm.
Trong môi trường kinh tế ngày nay, khi đã có sự chuyên môn hoá trong

ngừng được mở rộng kéo theo đó nhu cầu dịch vụ ngân hàng cũng không
ngừng được gia tăng (đặc biệt là nhu cầu về dịch vụ thanh toán quốc tế). Điều
đó là hoàn toàn có cơ sở:
Thứ nhất, khi hoạt động trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các nước
không ngừng được mở rộng đã làm phát sinh các khoản thu chi bằng tiền mặt
giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu. Tuy nhiên, sẽ là rất tốn thời gian
và tiền của nếu họ phải thanh toán trực tiếp. Chính vì vậy các ngân hàng đã
xuất hiện với vai trò là trung gian thanh toán. Việc xuất hiện ngân hàng đã
làm cho việc thanh toán giữa người mua và người bán trở nên rất thuận tiện,
nhanh chóng và an toàn.
Thứ hai, các doanh nghiệp không phải lúc nào cũng có thể đáp ứng
những khoản chi trả lớn trong một thời gian ngắn. Khi đó ngân hàng lại xuất
hiện với vai trò là người tài trợ cho nhà nhập khẩu.
Cuối cùng, quan hệ thương mại quốc tế rất phức tạp, nó liên quan tới
nhiều doanh nghiệp tại các quốc gia khác nhau. Chính vì vậy nếu như hợp
đồng kinh tế giữa các bên không rõ ràng thì tranh chấp rất dễ sảy ra. Lúc này
ngân hàng lại xuất hiện với vai trò là người tư vấn kí kết các hợp đồng thương
mại (giúp khách hàng trong việc lựa chọn các phương thức thanh toán, địa
điểm thanh toán và thủ tục thanh toán.)
Cùng với hoạt động thương mại quốc tế việc chu chuyển vốn đang diễn
ra nhanh chóng giữa các quốc gia cũng thúc đẩy các ngân hàng mở rộng hoạt
động trên thị trường tài chính quốc tế.
Chu chuyển vốn là chuyển dịch một lượng tiền từ nước này sang nước
khác. Việc này được thực hiện dưới các hình thức: các nhà đầu tư mua chứng
khoán nước ngoài, ngân hàng thương mại hoặc các doanh nghiệp cấp tín dụng
cho ngân hàng hoặc doanh nghiệp nước ngoài, đầu tư trực tiếp, vốn viện trợ
không hoàn lại. Tất cả các hoạt động này đều cần đến vai trò trung gian thanh
toán của ngân hàng.
Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng TMCP Việt
Nam trong điều kiện hội nhập.

là các NHTM của các nước đang phát triển sẽ có điều kiện mở rộng mạng
Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng TMCP Việt
Nam trong điều kiện hội nhập.
Bùi Văn Doanh_A2_K42Q Đại Học Ngoại Thương
20
lưới chi nhánh của mình trên toàn cầu. Từ đó có cơ hội mở rộng quy mô, tăng
cường lợi nhuận cho các tổ chức tài chính của các nước đang phát triển. Có
thể nói HNQT đã mở ra cơ hội hợp tác, trao đổi quốc tế giữa các NHTM
trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, đề ra biện pháp tăng cường giám sát và
phòng ngừa rủi ro, từ đó nâng cao uy tín và vị thế của hệ thống ngân hàng
trong nước trong các giao dịch quốc tế. Đồng thời các NHTM trong nước có
điều kiện tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lí và đào tạo đội ngũ
cán bộ, phát huy lợi thế so sánh của mình để tăng cường khả năng cạnh tranh
quốc tế và mở rộng thị trường ra nước ngoài.
- HNQT giúp các Ngân hàng, các định chế tài chính có điều kiện tiếp
cận công nghệ mới. Từ đối thủ cạnh tranh, từ các Ngân hàng định chế tài
chính khác trên toàn cầu . Trong lĩnh vực tài chính, Ngân hàng sẽ học được
kinh nghiệm về tổ chức kinh doanh, kinh nghiệm quản lý, công nghệ hoạt
động của một ngân hàng hiện đại từ các Ngân hàng, định chế tài chính của các
nước phát triển, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình phát triển công nghệ, đẩy
nhanh quá trình đổi mới, giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh.
- HNQT về ngân hàng thúc đẩy các NHTM chuyên môn hoá sâu hơn
các nghiệp vụ ngân hàng, quản trị ngân hàng (quản trị tài sản nợ, có), quản lí
rủi ro, cải thiện chất lượng tín dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn và
phát triển các dịch vụ ngân hàng mới.
- Hơn nữa, việc mở cửa thị trường xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ cũng
là một cơ hội tốt để các ngân hàng mở rộng kinh doanh, mở rộng đối tượng
khách hàng.
1.2.2.2. Tác động tiêu cực:
Khi tham gia HNKTQT các quốc gia sẽ phải loại bỏ dần các hạn chế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status