Một số giải pháp nhằm mở rộng quy mô cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam Chi nhánh Hoàn Kiếm - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KINH TẾ ĐẦU TƯ
---------***--------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài
:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN TẠI TỔNG CÔNG TY TÀI CHÍNH CỔ PHẦN DẦU KHÍ
VIỆT NAM PVFC
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Tuấn Hoàng
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thu Hà
Nguyễn Tuấn Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
HÀ NỘI - 2010
Trờng đại học kinh tế quốc dân
khoa KINH Tế ĐầU TƯ
---------***--------
chuyên đề tốt nghiệp
ti:
THC TRNG V GII PHP NHM NNG CAO HIU QU S
DNG VN TI TNG CễNG TY TI CHNH C PHN DU KH
VIT NAM PVFC
Sinh viên thực hiện : Nguyn Tun Hong
Chuyên ngành : Kinh t u t
Lp : Kinh t u t D - QN
Khoỏ : 48
Hệ : chớnh quy
Giáo viên hớng dẫn : ThS. Nguyn Thu H
Nguyễn Tuấn Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
HÀ NỘI - 2010
Nguyễn Tuấn Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

mức 24 - 25%/năm, lãi suất huy động cũng đạt đỉnh 20%/năm. Nhiều
NHTM cho vay cầm chừng, doanh nghiệp vay vốn khó khăn cả về lãi suất
cao lẫn khả năng tiếp cận vốn, tín dụng tiêu dùng gần như bị cắt bỏ, tốc độ
tăng trưởng tín dụng bước vào vùng thấp nhất trong năm. Các hoạt động
trong lĩnh vực chứng khoán cũng gặp không ít khó khăn khi lần đầu tiên thị
trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua những diễn biến xấu nhất suốt
hơn 8 năm đi vào hoạt động và sau một thời gian dài phát triển quá nóng thì
thị trường bất động sản đã đóng băng và trải qua đợt sụt giảm về giá nhanh
chóng.
Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam – PVFC, một
trong những công ty tài chính được xem là có thế lực nhất hiện nay cũng
không nằm ngoài tầm ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng. Kết thúc năm
2008, doanh nghiệp này công bố đây là một năm làm ăn không thuận lợi và
gặp nhiều rủi ro của mình. Với các hoạt động đầu tư bị xemlà dàn trải vào
các lĩnh vực như bất động sản, chứng khoán, các dịch vụ tiêu dùng....đã làm
cho công ty rởi vào tình trạng nợ quá hạn và nợ xấu tăng cao, tuy vẫn có lãi
nhưng hiệu quả sử dụng vốn chưa thực sự tốt.
Từ nhận định thu được trong quá trình tìm hiểu về Công ty về tình
hình sử dụng vốn, tôi quyết định chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp
Nguyễn Tuấn Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Tổng công ty tài chính cổ phần
Dầu khí Việt Nam PVFC” làm Chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Nội dung của Chuyên đề gồm 3 phần:
Chương I: Cơ sở lý luận về Vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong Công
ty tài chính.
Chương II: Thực trạng sử dụng vốn tại Tổng công ty Tài chính cổ
phần Dầu khí Việt Nam PVFC
Chương III: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn tại Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam PVFC.
Nguyễn Tuấn Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

dụng, doanh nghiệp Việt Nam và bên nước ngoài gồm một hoặc nhiều
tổ chức tín dụng nước ngoài, trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
• Công ty Tài chính 100% vốn nước ngoài: là Công ty Tài chính được
thành lập bằng vốn của một hoặc của nhiều tổ chức tín dụng nước
ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN
1.2.1 Khái niệm
Tư bản (hay vốn) trong Kinh tế học là khái niệm để chỉ những vật thể
có giá trị, có khả năng đo lường được sự giàu có của người sở hữu chúng.
Tư bản là sở hữu về vật chất thuộc về cá nhân hay được tạo ra bởi xã hội.
Tuy nhiên tư bản có nhiều định nghĩa khác nhau dưới khía cạnh kinh tế, xã
hội, hay triết học.
• Trong kinh tế học cổ điển, tư bản được định nghĩa là những hàng hóa
sẵn có để sử dụng làm yếu tố sản xuất. Với vai trò là yếu tố sản xuất,
tư bản có thể là mọi thứ như tiền bạc, máy móc, công cụ lao động, nhà
cửa, bản quyền, bí quyết, v.v.. nhưng không bao gồm đất đai và lao
động.
• Trong Kinh tế học Tân cổ điển, tư bản (vốn) là một trong bốn yếu tố
sản xuất. Ba yếu tố còn lại là đất đai, lao động và doanh nghiệp.
Nguyễn Tuấn Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Trong học thuyết kinh tế chính trị của Marx, tư bản lưu động là khoản
đầu tư của nhà tư bản vào lực lượng sản xuất, là nguồn tạo ra giá trị
thặng dư. Nó được coi là “lưu động” vì lượng giá trị mà nó tạo ra
khác với lượng giá trị nó tiêu dụng, có nghĩa là tạo ra giá trị mới. Tư
bản cố định là khoản đầu tư vào yếu tố sản xuất không phải con người
như máy móc, nhà xưởng - những tư bản mà theo Marx, chỉ tạo ra
lượng giá trị để thay thế chính bản thân chúng. Nó được coi là cố định
theo nghĩa giá trị đầu tư ban đầu và giá trị thu hồi ở dạng các hàng
hóa do chúng tạo ra là không đổi.
Trong nền kinh tế thị trường, Doanh nghiệp là những tổ chức được

thì càng có thế chủ động trong kinh doanh và có lợi thế rất lớn trong môi
trường cạnh tranh đầy biến động của thị trường hiện nay. Do vậy, vốn xét
trên phương diện hình thái hiện vật và hình thái giá trị, là yếu tố quan trọng
nhất trong mọi hoạt động của doanh nghiệp.

1.2.3 Phân loại Vốn:
Do có vai trò quan trọng và thiết yếu trong qua trình hoạt động của
các doanh nghiệp nên việc phân loại vốn theo các hình thức khác nhau sẽ
giúp doanh nghiệp đề ra được những giải pháp quản lý và sử dụng vốn sao
cho có hiệu quả. Tuy có nhiều phương thức để phân loại nhưng cơ bản theo
đặc điểm luân chuyển của vốn người ta chia thành vốn đầu tư và vốn sản
xuất.
1.2.3.1 Vốn đầu tư
Nguyễn Tuấn Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vốn đầu tư được chia thành vốn đầu tư tài sản cố định và vốn đầu tư
tài sản lưu động. Vốn đầu tư vào tài sản cố định bao gồm vốn đầu tư cơ bản
(VĐTCB) và vốn đầu tư sửa chữa lớn (VĐTSCL).
VĐTCB làm tăng khối lượng thực thể của tài sản cố định, bảo đảm bù
đắp số tài sản cố định bị hao mòn và tăng thêm phần xây lắp dở dang, còn
VĐTSCL không làm tăng khối lượng thực thể của tài sản. Vai trò kinh tế
của VSCL tài sản cố định cũng giống như vốn đầu tư cơ bản, là nhằm đảm
bảo thay thế tài sản bị hư hỏng.

1.2.3.2 Vốn sản xuất
Khái niệm vốn sản xuất được bắt nguồn từ quan niệm về tài sản quốc
gia. Tài sản quốc gia có thể được hiểu theo nghĩa rộng hoặc theo nghĩa hẹp.
Tài sản quốc gia theo nghĩa rộng bao gồm
(1) tài nguyên thiên nhiên của đất nước
(2) các loại tài sản được sản xuất ra
(3) nguồn vốn con người.

• Nhóm thứ hai bao gồm 4 loại cuối, đều có tính chất chung là không
tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, nên được gọi là tài sản phi
sản xuất (vốn phi sản xuất).
Vậy, vốn sản xuất là giá trị của những tài sản đựơc sử dụng làm
phương tiện trực tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất và dịch vụ, bao gồm
vốn cố định và vốn lưu động.
a) Vốn cố định:
Để tiến hành hoạt động sản xuất các doanh nghiệp phải có đủ 3 yếu
tố: Sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động trong đó bộ phận
Nguyễn Tuấn Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chủ yếu của các tư liệu lao động là các tài sản cố định (TSCĐ). Số lượng
vốn tiền tệ nhất định doanh nghiệp ứng ra để có được các tài sản cố định
(TSCĐ) cần thiết cho hoạt động kinh doanh được gọi là Vốn cố định (VCĐ).
(Cũng có thể nói VCĐ là bộ phận của Vốn đầu tư ứng trước về TSCĐ). Có
thể khái quát một số nét đặc thù về sự vận động và chu chuyển của VCĐ
trong quá trình sản xuất kinh doanh như sau:
Một là, VCĐ tham gia vào nhiều chu trình sản xuất kinh doanh sản
phẩm, đièu này do đặc điểm của TSCĐ được sử dụng lâu dài trong nhiều
chu kỳ sản xuất quyết định.
Hai là, VCĐ được luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ
sản xuất. Khi tham gia vào quá trình đó một bộ phận của TSCĐ được luân
chuyển và cấu thành nên chi phí sản xuất của sản phẩm tương ứng với giá trị
hao mòn của TSCĐ.
Ba là, sau nhiều chu kỳ sản xuất, VCĐ mới hoàn thành một vòng luân
chuyển. Sau mỗi chu kỳ sản xuất, phần vốn được luân chuyển vào giá trị sản
phẩm tăng dần lên song phần vốn đầu tư vào TSCĐ lại giảm dần cho đến
khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng thì giá trị của nó được chuyển dịch hết vào
giá trị của sản phẩm đã sản xuất. Khi đó, VCĐ hoàn thành một vòng luân
chuyển.
Những đặc điểm đó đòi hỏi việc quản lý VCĐ phải luôn gắn với việc

phòng
• Theo hình thái sử dụng: TSCĐ đang dùng, TSCĐ chưa cần dùng,
TSCĐ không cần dùng và chờ thanh lý.
Nguyễn Tuấn Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Theo quyền sở hữu: TSCĐ tự có và TSCĐ đi thuê.
Tuy nhiên trong thực tế doanh nghiệp có thể kết hợp nhiều phương pháp
phân loại TSCĐ tuỳ theo yêu cầu quản lý của từng thời kỳ.

b) Vốn lưu động:
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài các TSCĐ, doanh nghiệp
cũng cần có các tài sản lưu động (TSLĐ). Lượng vốn tiền tệ nhất định đầu
tư vào TSLĐ được gọi là Vốn lưu động (VLĐ). (VLĐ là số vốn ứng ra để
hình thành TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh được thực hiện
thường xuyên, liên tục. VLĐ chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và
được thu hồi toàn bộ.) VLĐ là điều kiện vật chất không thể thiếu được của
quá trình tái sản xuất. Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục, doanh
nghiệp phải có đủ tiền vốn đầu tư vào các hình thái khác nhau của VLĐ,
khiến cho các hình thái này có được mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau,
tạo điều kiện cho quá trình chuyển hoá hình thái của vốn trong quá trình
luân chuyển được thuận lợi. Ngoài ra VLĐ còn là công cụ đánh giá, phản
ánh quá trình vận động của vật tư. VLĐ luân chuyển nhanh hay chậm còn
phản ánh số lượng vật tư tiết kiệm hay không, thời gian sản xuất là hợp lý
hay không.
Để quản lý VLĐ cần phải phân loại dựa theo các tiêu thức khác nhau.
Có thể phân loại VLĐ ra như sau:
• Dựa theo hình thái biểu hiện và khả năng hoán tệ của vốn có thể chia
VLĐ thành vốn bằng tiền và vốn về hàng tồn kho:
(1) Vốn bằng tiền gồm tiền mặt trong quỹ, tiền gửi tại NH và tiền đang
chuyển.
Nguyễn Tuấn Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

(1) Vốn chủ sở hữu: là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp,
doanh nghiệp có đầy đủ quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối, và định
đoạt về nguồn vốn đó, và tuỳ theo loại hình doanh nghiệp mà vốn
chủ sở hữu có nội dung cụ thể như Vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà
Nước (NSNN), Vốn do chủ doanh nghiệp bỏ ra, Vốn góp cổ phần
trong Công ty cổ phần…
(2) Các khoản nợ: là các khoản được hình thành từ vốn vay các Ngân
hàng thương mại (NHTM) hoặc các tổ chức tài chính khác, vốn vay
thông qua phát hành trái phiếu, các khoản nợ mà khách hàng chưa
thanh toán…và doanh nghiệp chỉ có thể sử dụng các khoản nợ này
trong một thời gian nhất định.
Cách phân loại này cho thấy được kết cấu VLĐ của doanh nghiệp
được hình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp, hay từ các khoản nợ,
từ đó có các quyết định trong huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả hơn,
đảm bảo an ninh tài chính trong doanh nghiệp.
• Dựa vào nguồn hình thành: TSLĐ sẽ được tài trợ bởi các nguồn như
sau
(1) Nguồn vốn điều lệ: là số vốn được hình thnàh từ các nguồn vốn điều
lệ ban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điều lệ bổ sung trong quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
(2) Nguồn vốn tự bổ sung: là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung
trong quá trình sản xuất kinh doanh (như từ lợi nhuận của doanh
nghiệp được tái đầu tư....)
Nguyễn Tuấn Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
(3) Nguồn vốn liên doanh, liên kết: là số vốn được hình thành từ vốn
góp liên doanh của các bên tham gia liên doanh. Vốn góp liên doanh
có thể bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư, hàng hoá theo thoả
thuận của các bên liên doanh.
(4) Nguồn vốn đi vay: là vốn vay của các NHTM hoặc tổ chức tín dụng,
vốn vay từ người lao động trong doanh nghiệp, vay các doanh

phiếu mà chỉ có thể phát hành trái phiếu.
• Vốn vay: Ngoài phần vốn tự có của doanh nghiệp (vốn góp), thì
nguồn vốn vay có vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Nó có thể đáp ứng các nhu cầu về vốn
trong ngắn hạn hoặc dài hạn, có thể huy động được số vốn lớn, tức
thời. Tuy nhiên, sử dụng vốn vay phải hết sức chú ý đến cơ cấu vốn
của doanh nghiệp, kế hoạch sử dụng vốn phải đảm bảo hợp lý, đúng
mục đích; quản lý tốt quỹ tiền mặt, kỳ trả nợ và kỳ thu tiền, kế hoạch
sản xuất kinh doanh phải được lập bám sát thực tế... nếu không vốn
vay sẽ trở thành một gánh nặng đối với doanh nghiệp.
• Vốn chiếm dụng của nhà cung cấp (Tín dụng thương mại): Đây cũng
là một nguồn vốn tương đối quan trọng trong doanh nghiệp. Nguồn
vốn này xuất phát từ việc doanh nghiệp chiếm dụng tiền hàng của nhà
cung cấp (trả chậm), việc chiếm dụng này có thể phải trả phí (lãi)
hoặc không phải trả phí nhưng lại đáp ứng được việc doanh nghiệp có
nguyên vật liệu, điện, nước,... để sản xuất kinh doanh mà chỉ phải bỏ
ra ngay lập tức một số tiền ít hơn số tiền đáng lẽ phải bỏ ra để có được
Nguyễn Tuấn Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
số nguyên vật liệu, điện, máy móc,... để tiến hành sản xuất. Như vậy,
doanh nghiệp có thể sử dụng quỹ tiền mặt của mình cho mục đích
khác. Tuy nhiên, sử dụng nguồn vốn này cần lưu ý: nếu chiếm dụng
quá nhiều hoặc quá lâu một khoản nợ nào đó, nó sẽ ảnh hưởng đến uy
tín của doanh nghiệp với đối tác, với thị trường hoặc kiện tụng pháp
luật, tốt nhất nên có sự thoả thuận về việc chiếm dụng vốn.
• Nguồn vốn khác: như lợi nhuận để lại, lương cán bộ công nhân viên
chậm thanh toán, ....
1.2.4.2 Nguồn huy động vốn của Công ty Tài chính
Các Công ty tài chính có thể huy động nguồn vốn bằng cách đi vay từ
các tổ chức tín dụng trong hoặc ngoài nước, vay từ các NHTM, các trung
gian tài chính nhưng lại không được vay từ NHNN như các NHTM, hoặc

1.3.2 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
Trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, các doanh nghiệp coi nguồn
vốn cấp phát từ nguồn NSNN đồng nghĩa với “cho không” nên không chú
trọng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, khi bị thua lỗ thì Nhà
nước sẽ là người đứng ra bù đắp, tình hình sản xuất kinh doanh gần như
không có sự quản lý, vốn dùng cho sản xuất hầu như bị lãng phí và thất thoát
rất lớn. Theo con số thống kê cho thấy vốn sản xuất trong khu vực quốc
doanh không nhiều, hiệu quả sử dụng vốn rất thấp, đối với các TSCĐ mới
chỉ được sử dụng 50% -60% công suất thiết kế.....vì vậy hệ số sinh lời của
đồng vốn là vô cùng thấp.
Nguyễn Tuấn Hoàng Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chuyển sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp phải chuyển hướng theo cơ chế
mới để có thể tiếp tục tồn tại và phát triển, cạnh tranh ngày càng trở nên gay
gắt và trở thành quy luật tất yếu của thị trường. Đây vừa là một thử thách đặt
ra cho các doanh nghiệp, vừa là cơ hội cho các doanh nghiệp phát triển.
Muốn tồn tại và phát triển các doanh nghiệp buộc phải tận dụng triệt để
nguồn lực của mình và của toàn xã hội để phục vụ sản xuất kinh doanh, các
doanh nghiệp phải luôn tự đổi mới, hạ giá thành, tăng năng suất, nâng cao
chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã để có thể chiếm lĩnh được thị trường
đầy tiềm năng nhưng cũng vô cùng khó tính, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
và thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
sẽ vừa đảm bảo cho sản xuất kinh doanh ổn định, vừa đảm bảo an toàn về tài
chính cho các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp sẽ đảm bảo được về việc huy
động nguồn tài trợ, tăng khả năng thanh toán và khắc phục được phần lớn
các rủi ro trong quá trình kinh doanh. Ngoài ra, nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn sẽ góp phần nâng cao mức sống cho người lao động, tạo công ăn việc
làm nhờ mở rộng quy mô sản xuất, khuyến khích người lao động nâng cao
trình độ bản thân, nâng cao hiệu quả đóng góp cho xã hội, làm tăng các
khoản thu cho NSNN.

c) Tỷ suất lợi nhuận VCĐ
Là chỉ tiêu phản ánh một đồng VCĐ trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận trước thuế (hoặc lợi nhuận sau thuế thu nhập)
Lợi nhuận trước thuế (sau thuế)
Tỷ suất lợi nhuận VCĐ =


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status