CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƢỢNG CHO VAY TIÊU DÙNG
TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Một số vấn đề cơ bản về cho vay tiêu dùng trong ngân hàng thƣơng mại
1.1.1. Khái niệm cho vay tiêu dùng
Hoạt động cho vay ra đời và tồn tại xuất phát từ đòi hỏi khách quan của quá trình
tuần hoàn vốn, để giải quyết hiện tượng dư thừa, thiếu hụt vốn diễn ra thường xuyên
giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Đất nước ngày càng phát triển, mức sống của người
dân ngày càng cao, nhu cầu thoả mãn trong cuộc sống hàng ngày không ngừng tăng
lên, các NHTM phát hiện ra một thị trường tiềm năng đó là cho vay đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng của người dân.
Theo GS. TS Nguyễn Văn Tiến (2014), Giáo trình nguyên lý & nghiệp vụ
NHTM, NXB Thống Kê: “Cho vay tiêu dùng là một hình thức tín dụng, qua đó ngân
hàng cho khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình vay một lượng tiền nhất định để mua
hàng hóa hay dịch vụ sử dụng vào mục đích tiêu dùng.”
Theo PGS. TS Mai Văn Bạn (2011), Giáo trình nghiệp vụ NHTM, NXB Tài
Chính: “Cho vay tiêu dùng là loại cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các
cá nhân và hộ gia đình.”
Theo TS Nguyễn Minh Kiều (2009), Nghiệp vụ NHTM, NXB Thống Kê: “Cho
vay tiêu dùng là loại cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu và mua sắm tiện nghi
sinh hoạt gia đình nhằm nâng cao đời sống dân cư.”
Tuy các khái niệm có những cách diễn đạt khác nhau nhưng đều cùng thể hiện
bản chất: “Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ nhu cầu chi tiêu
của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình trong một khoảng thời gian
nhất định với nguyên tắc hoàn trả đầy đủ cả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận trong
hợp đồng tín dụng. Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng
giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như: nhà ở,
phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế… trước khi họ có đủ
khả năng tài chính để hưởng thụ.”
1.1.2. Phân loại cho vay tiêu dùng
1.1.2.1. Căn cứ vào thời hạn cho vay
Cho vay tiêu dùng ngắn hạn: Là khoản ngân hàng cho cá nhân, hộ gia đình vay
khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa trên
tài khoản vãng lai. Với phương thức này, thời hạn CVTD phải được thỏa thuận trước,
căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng thời kỳ, khách hàng được
ngân hàng cho phép vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức cho
vay nhất định.
1.1.2.4. Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ
Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Là hình thức CVTD mà trong đó việc ký kết hợp
đồng, giải ngân và thu nợ được thực hiện trực tiếp giữa ngân hàng với khách hàng tiêu
dùng.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp: Là hình thức CVTD mà trong đó ngân hàng mua
các khoản nợ phát sinh do các công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa cho người tiêu
dùng.
2
1.1.2.5. Căn cứ vào loại tài sản đảm bảo
Cho vay tiêu dùng thế chấp lương, thu nhập: Là hình thức CVTD mà đối tượng
khách hàng có việc làm tương đối ổn định ở một mức nào đó phù hợp với quy định của
ngân hàng. Số tiền được vay sẽ quyết định dựa trên nhu cầu, mức thu nhập thường
xuyên của khác hàng và mức cho vay tối đa của ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng cầm cố: Là hình thức CVTD mà ngân hàng cho khách hàng
vay để thực hiện mục đích tiêu dùng của họ. Theo đó, khách hàng phải chuyển quyền
kiểm soát tài sản cho ngân hàng trong thời gian vay vốn.
1.1.3. Đặc điểm cho vay tiêu dùng
Thứ nhất, khách hàng vay là các cá nhân và hộ gia đình. CVTD là hoạt động
tài trợ, trong đó NHTM đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng để thực hiện các việc chi
tiêu, phục vụ nhu cầu cuộc sống, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của khách hàng
trước khi năng lực tài chính của khách hàng có thể thỏa mãn. Do đó, khác với cho vay
sản xuất kinh doanh, CVTD chỉ hướng tới phục vụ một nhóm đối tượng khách hàng
Thứ sáu, chi phí quản lý khoản vay tiêu dùng lớn. Do các ngân hàng thường
phải tốn nhiều thời gian và nhân lực để điều tra, thu thập các thông tin về người vay
tiền trước khi đưa ra các quyết định phê duyệt khoản vay. Thêm vào đó việc quản lý
các khoản vay tiêu dùng với giá trị nhỏ nhưng số lượng lớn cũng không phải là vấn đề
đơn giản đối với các NHTM nên chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ CVTD cao hơn so
với loại hình cho vay khác.
Thứ bảy, cho vay tiêu dùng là một trong những khoản mục mang lại lợi nhuận
cao cho ngân hàng. Các khoản CVTD có chi phí và rủi ro cao nên các khoản vay này
thường có lãi suất cao để bù đắp cho các khoản vay trên và mang lại lợi nhuận cho
ngân hàng. Lãi suất CVTD luôn là một trong những lãi suất hấp dẫn nhất trên thị
trường tài chính. Do số lượng món vay nhiều nên lợi nhuận ngân hàng thu được từ
hoạt động này là rất đáng kể so với tổng lợi nhuận của ngân hàng.
1.1.4. Vai trò của cho vay tiêu dùng
Đối với nền kinh tế
CVTD là đòn bẩy kích cầu hàng hoá dịch vụ, mở rộng sản xuất, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Nhờ đó, các cơ hội việc làm được tạo ra nhiều hơn, tỷ lệ thất nghiệp
cũng như các tệ nạn xã hội giảm, đồng thời thu nhập của người dân tăng lên. Dịch vụ
này của ngân hàng thoả mãn tốt nhất các nhu cầu của người tiêu dùng, do đó góp phần
nâng cao chất lượng đời sống vật chất cũng như tinh thần của họ. Rõ ràng, CVTD
không chỉ có vai trò quan trọng đối với các chủ thể như người tiêu dùng, NHTM mà
còn có ý nghĩa vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu
phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Đối với khách hàng
CVTD có ý nghĩa rất lớn đối với các khách hàng. Nhu cầu tiêu dùng của các cá
nhân và hộ gia đình là rất lớn và thường xuyên nhưng không phải lúc nào họ cũng có
đủ nguồn lực tài chính để đáp ứng các nhu cầu đó. Nhờ CVTD, họ được hưởng các
tiện ích, được sử dụng các hàng hoá và dịch vụ mình mong muốn trước khi tích luỹ đủ
tiền. Khi đáp ứng đủ các điều kiện để được cấp CVTD, người đi vay có thể mua sắm
các hàng hoá, nhất là các bất động sản ngay ở thời điểm hiện tại khi giá cả của chúng
đang giảm, hoặc có thể đi du lịch đúng thời gian. Đặc biệt, trong các trường hợp chi
vay không đúng mục đích dễ dẫn đến thất thoát và lãng phí, khiến vốn vay không tạo
ra được ngân lưu để trả nợ cho ngân hàng. Ngân hàng có trách nhiệm kiểm soát việc
sử dụng vốn của khách hàng. Nếu khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, ngân
hàng phải áp dụng các biện pháp chế tài thích hợp nhằm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra
cho ngân hàng.
Tiền vay phải hoàn trả đúng hạn đầy đủ cả gốc và lãi. Hoàn trả là thuộc tính
vốn có của tín dụng, sự hoàn trả là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng khi cho
vay. Thu hồi nợ cả gốc và lãi đúng hạn là cơ sở để các NHTM tồn tại và phát triển.
Nếu ngân hàng không thu hồi hoặc không thu hồi đúng hạn các khoản vay tiêu dùng
có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán và phá sản. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện
nghiệp vụ CVTD của mình, ngân hàng phải bù đắp các chi phí như: trả lãi tiền gửi,
5
Thang Long University Library
nộp thuế, trả lương cán bộ nhân viên… Do đó, ngân hàng phải thu thêm khoản chệnh
lệch ngoài số vốn gốc cho vay. Để có thể thực hiện được nguyên tắc này trong quản lý
vốn vay, ngân hàng phải xác định thời hạn cho vay, các kỳ hạn nợ của từng khoản cho
vay, đồng thời thường xuyên theo dõi, đôn đốc khách hàng trong việc trả nợ.
1.1.6. Điều kiện cho vay tiêu dùng
Khách hàng chỉ có thể vay vốn của ngân hàng khi họ thỏa mãn tất cả các điều
kiện vay vốn. Theo luật pháp Việt Nam, nội dung các điều kiện vay vốn gồm:
Thứ nhất, khách hàng phải có đủ tư cách pháp lý. Quan hệ tín dụng giữa ngân
hàng với khách hàng là quan hệ được pháp luật bảo vệ, phải được lập trên cơ sở quy
định của luật pháp. Hơn thế trong quan hệ tín dụng sẽ phát sinh sự chuyển giao và giao
dịch về tài sản, do đó cần sự xác nhận của các bên tham gia theo đúng quy định của
luật pháp. Như vậy, khách hàng phải đủ tư cách pháp lý để thực hiện các giao dịch.
Thứ hai, vốn vay phải được sử dụng hợp pháp. Tức là, không vi phạm pháp luật
và mục đích sử dụng vốn vay phù hợp. Khi khách hàng sử dụng vốn bất hợp pháp thì
có nghĩa vụ đối với bên có quyền. Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có, tài sản
hình thành trong tương lai và được phép giao dịch.”. Với quan điểm này, TSĐB tạo
cơ sở kinh tế và pháp lý để NHTM thu hồi nợ khi nguồn thu nợ thứ nhất gặp bất chắc.
Bảo đảm tiền vay không đơn thuần chỉ bằng tài mà đảm bảo tiền vay còn được thực
hiện bằng uy tín, tiềm lực tài chính của khách hàng có nhu cầu về vốn ngân hàng thực
hiện phân tích, đánh giá khách hàng cũng như tính khả thi của các phương án tiêu
dùng mà khách hàng đưa ra, từ đó xác định các phương án trả nợ thích hợp đối với
khách hàng.
1.1.7. Các biện pháp đảm bảo tiền vay trong cho vay tiêu dùng
1.1.7.1. Cho vay tiêu dùng có đảm bảo bằng tài sản
CVTD có đảm bảo là hình thức cho vay có tài sản đảm bảo hoặc có sự bảo lãnh
của người thứ ba. Đây là sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng thông
qua việc cho vay có tài sản bảo đảm đối với các khoản vay có mục đích tiêu dùng.
TSĐB có thể là động sản hoặc bất động sản. Cho vay có đảm bảo bằng tài sản khách
hàng vay chủ yếu được thực hiện bằng các hình thức sau:
Một là, cho vay cầm cố giấy tờ có giá. Là hình thức CVTD mà khách hàng có
thể dùng một hay nhiều giấy tờ có giá để đảm bảo cho khoản nợ. Các loại giấy tờ có
giá mà ngân hàng có thể nhận để cầm cố là: trái phiếu chính phủ, kỳ phiếu ngân hàng,
trái phiếu ngân hàng, sổ tiết kiệm…
Hai là, cho vay thế chấp. Là hình thức CVTD mà khách hàng phải dùng tài sản
thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của mình hoặc bên bảo lãnh để đảm bảo cho
khoản nợ; tài sản nằm trong sự kiểm soát của khách hàng, còn ngân hàng chỉ giữ giấy
tờ xác nhận quyền sở hữu và văn tự thế chấp tài sản đó. Các tài sản được dùng thế
chấp cho một khoản vay thường là: đất đai, nhà cửa, ô tô, công trình kiến trúc khác…
Những tài sản thế chấp phải thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền thuê… hợp
pháp của khách hàng vay vốn hoặc là tài sản hợp pháp của bên bảo lãnh. Vì tài sản
phải có tính thị trường, tức là tài sản ấy có thể bán bất cứ lúc nào trên thị trường với
giá cả tương đối ổn định.
Ba là, cho vay có đảm bảo của người bảo lãnh. Là hình thức CVTD mà người
bảo lãnh đứng ra cam kết với người cho vay trả nợ thay cho người vay nếu người vay
sản phẩm, dịch vụ
ngân hàng
Phỏng vấn, hướng dẫn
khách hàng hoàn thiện
hồ sơ tín dụng và tiếp
nhận hồ sơ
Đánh giá và phân tích
hồ sơ cho vay tiêu
dùng của khách hàng
Đề xuất và quyết định
cho vay tiêu dùng
Ký kết hợp đồng và
hoàn thiện các thủ tục
pháp lý
Giải ngân
Kiểm tra giám sát
khách hàng, khoản vay
Quản lý sau khi giải
ngân và thu nợ, lãi, phí
Thanh lý hợp đồng
cho vay tiêu dùng
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
Bước 3: Đánh giá và phân tích hồ sơ cho vay tiêu dùng của khách hàng
Đánh giá về thông tin nhân thân khách hàng, tình hình quan hệ tín dụng của
nhóm khách hàng liên quan (nếu có); Đánh giá về mục đích và kế hoạch sử dụng vốn
vay của khách hàng; Đánh giá, phân tích về năng lực tài chính của khách hàng; Về tài
sản đảm bảo; Lịch sử quan hệ tín dụng của khách hàng; Thực hiện chấm điểm, xếp
hạng tín dụng khách hàng.
Bước 4: Đề xuất và quyết định cho vay tiêu dùng
Căn cứ kết quả đánh giá, phân tích, xếp hạng tín dụng khách hàng, hồ sơ tín
dụng, so sánh với các điều kiện quy định tại văn bản này và quy định của từng sản
9
Thang Long University Library
phẩm cho vay tiêu dùng cụ thể, CBTD tiến hành trình cấp có thẩm quyền quyết định
cấp tín dụng.
Nếu lãnh đạo từ chối phê duyệt CVTD thì thông báo tới khách hàng bằng văn
bản từ chối cấp tín dụng.
Nếu lãnh đạo ngân hàng đồng ý phê duyệt CVTD thì tiến hành lập hợp đồng cho
vay.
Bước 5: Ký kết hợp đồng và hoàn thiện các thủ tục pháp lý
Soạn thảo hợp đồng: Tiến hành soạn thảo hợp đồng cho vay và hợp đồng bảo
đảm tiền vay phù hợp, trình cấp có thẩm quyền ký hợp đồng.
Ký kết hợp đồng: Người có thẩm quyền ký kết hợp đồng theo quy định cụ thể của
ngân hàng là người đại diện ký kết hợp đồng với khách hàng; Khách hàng tham gia ký
hợp đồng phải là chính khách hàng vay hoặc đại diện hợp pháp của hộ gia đình; Hợp
đồng được ký tại ngân hàng hoặc phòng công chứng.
Công chứng, chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm: CBTD cùng khách hàng
thực hiện việc công chứng, chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định
hiện hành của pháp luật.
Khi khách hàng trả hết nợ gốc, lãi vay và các chi phí liên quan thì tiến hành
thanh lý hợp đồng: xuất kho hồ sơ tài sản thế chấp, thông báo giải chấp gửi đến các cơ
quan có thẩm quyền… Sau khi hoàn tất thủ tục, hồ sơ tín dụng được đóng thành tập
riêng để lưu trữ theo quy định của NHNN.
1.2. Chất lƣợng cho vay tiêu dùng trong ngân hàng thƣơng mại
1.2.1. Khái niệm chất lượng cho vay tiêu dùng
Chất lượng bao gồm các đặc tính chung của sản phẩm phải đáp ứng các yêu cầu
của khách hàng và các bên liên quan trong quan hệ cho vay, các bên liên quan gồm có
khách hàng, ngân hàng và xã hội.
Đối với khách hàng: Theo PGS. TS Nguyễn Văn Tiến (2014), Giáo trình nguyên
lý & nghiệp vụ NHTM, NXB Thống Kê, chất lượng CVTD thể hiện ở chỗ: “Cho vay
tiêu dùng phải đáp ứng được mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng, với số lượng,
kỳ hạn, lãi suất và lịch trả nợ hợp lý; thủ tục đơn giản, đảm bảo nguyên tắc cho vay và
tuân thủ pháp luật”.
Đối với ngân hàng: Theo PGS. TS Nguyễn Văn Tiến (2014), Giáo trình nguyên
lý & nghiệp vụ NHTM, NXB Thống Kê, chất lượng CVTD thể hiện ở chỗ: “Cho vay
tiêu dùng phải tuân thủ quy trình nghiệp vụ, chính sách của ngân hàng và pháp luật;
phải được bảo đảm và đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ và đúng hạn cả gốc và lãi;
rủi ro cho vay tiêu dùng phải trong giới hạn cho phép và được kiểm soát; hoạt động
cho vay tiêu dùng phải mang lại hiệu quả kinh tế cho ngân hàng, tạo điều kiện cho các
dịch vụ khác của ngân hàng phát triển, bảo đảm thanh toán, nâng cao uy tín và vị thế
cạnh tranh cho ngân hàng”.
Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Theo PGS. TS Nguyễn Văn Tiến (2014),
Giáo trình nguyên lý & nghiệp vụ NHTM, NXB Thống Kê, chất lượng CVTD thể hiện
ở chỗ: “Cho vay tiêu dùng phải phục vụ đời sống dân cư, góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, dịch chuyển cơ cấu kinh tế”.
11
Thang Long University Library
Để xem xét được chất lượng CVTD của một ngân hàng có tốt hay không, ta có
thể căn cứ vào một số chỉ tiêu định tính như sau:
Khả năng thỏa mãn nhu cầu vay vốn của khách hàng: Chất lượng CVTD được
thể hiện thông qua khả năng đáp ứng tốt nhu cầu vay vốn tiêu dùng của khách hàng;
thủ tục đơn giản, thuận tiện; cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời, an toàn; kỳ hạn và
phương thức thanh toán phù hợp; lãi suất cho vay hợp lý; giúp khách hàng hài lòng
12
hơn về dịch vụ CVTD của ngân hàng. Khách hàng khi vay vốn mong muốn được đáp
ứng nhu cầu, ngân hàng càng thỏa mãn tốt nhu cầu đó, khách hàng càng hài lòng, chất
lượng CVTD của ngân hàng càng được đánh giá cao.
Khả năng gia tăng uy tín của ngân hàng thương mại: Chất lượng CVTD của
ngân hàng tốt thì uy tín của ngân hàng trên thị trường mới được nâng cao. Uy tín của
ngân hàng cũng là một trong những yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn để vay tiêu
dùng của khách hàng. Chất lượng CVTD của ngân hàng càng tốt, uy tín ngân hàng
càng được đánh giá cao.
Khả năng thu hút khách hàng đến sử dụng dịch vụ vay vốn tiêu dùng của
ngân hàng thương mại: Chất lượng CVTD càng tốt, mức độ hài lòng của khách hàng
vay vốn càng cao, uy tín của ngân hàng trên thị trường càng được cải thiện. Từ đó thu
hút thêm nhiều khách hàng mới đến giao dịch, đặc biệt là đến vay tiêu dùng. Do vậy,
ngân hàng càng có khả năng thu hút thêm nhiều khách hàng mới đến sử dụng dịch vụ
vay tiêu dùng, hoạt động CVTD của ngân hàng càng được mở rộng, chứng tỏ chất
lượng CVTD càng tốt và ngược lại.
Khả năng mở rộng quan hệ với khách hàng vay vốn tiêu dùng: Khách hàng
vay tiêu dùng khi đánh giá chất lượng cho vay tốt, hài lòng với dịch vụ của ngân hàng
sẽ tin tưởng và có nhu cầu sử dụng thêm những sản phẩm, dịch vụ khác của ngân
hàng. Như vậy, ngân hàng càng có khả năng mở rộng mối quan hệ và bán chéo sản
phẩm cho thấy chất lượng CVTD càng tốt và ngược lại.
Mức độ chuyên nghiệp và thái độ làm việc của cán bộ tín dụng: CBTD là nhân
hạn. Theo Quyết định số 02/Văn bản hợp nhất – NHNN ban hành ngày 04/06/2014
quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong
hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, danh mục cho vay của NHTM được phân
loại thành năm nhóm sau:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh
giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; Các khoản nợ quá hạn dưới
10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá
hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại.
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý): Các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày; Các khoản
nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu.
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): Các khoản nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày; Các
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu; Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do
khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày; Các khoản
nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được
cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Các
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn
theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả
nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Các khoản nợ khoanh, nợ
chờ xử lý.
14
“Nợ quá hạn” bao gồm các khoản nợ thuộc nhóm 2, 3, 4, 5.
Tỷ lệ nợ cho vay tiêu dùng quá hạn
“Tỷ lệ nợ cho vay tiêu dùng quá hạn” phản ánh số dư nợ gốc/lãi vay tiêu dùng đã
quá hạn mà chưa thu hồi được. Nợ quá hạn cho biết, cứ trên 100 đồng dư nợ CVTD
Tỷ lệ nợ cho vay tiêu dùng quá hạn có khả năng thu hồi cao
T l n CVTD quá h n
có khả
ồi cao
ả
=
ồ
“Tỷ lệ nợ cho vay tiêu dùng quá hạn có khả năng thu hồi cao” cho biết trong 100
đồng nợ CVTD quá hạn thì có bao nhiêu đồng là nợ có khả năng thu hồi cao. Tỷ lệ này
cao thì chất lượng CVTD của ngân hàng tốt; ngược lại, tỷ lệ này thấp thì chất lượng
CVTD kém, nguy cơ ngân hàng không thu hồi đủ số nợ gốc, tổn thất với ngân hàng
cao. Nếu chỉ tiêu này tăng dần theo thời gian, cho thấy chất lượng CVTD có xu hướng
ngày càng tốt dần, và ngược lại.
(4) Các chỉ tiêu nợ xấu
Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi
ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, khả năng xảy ra tổn thất
cao cho ngân hàng. Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên thường
quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay
vào các nhóm thích hợp. Để hình thành chỉ tiêu “Nợ xấu”, chúng ta phải tiến hành
phân loại nợ. Phân loại nợ là quá trình xem xét, đánh giá danh mục cho vay nhằm phân
loại các khoản vay nợ vào các nhóm khác nhau dựa trên rủi ro và các đặc điểm tương
đồng của khoản vay. Việc thường xuyên xem xét và phân loại nợ giúp cho ngân hàng
có thể kiểm soát chất lượng danh mục cho vay và khi cần thiết sẽ đưa ra các biện pháp
xử lý thích hợp nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao chất lượng CVTD.
Dự phòng cụ thể được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các khoản nợ; tỷ lệ
trích lập đối với năm nhóm nợ lần lượt là 0%, 5%, 20%, 50%, 100%. Công thức tính
số tiền dự phòng cụ thể như sau:
R = max{0, (A – C)}.r
Trong đó:
R: Số tiền dự phòng cụ thể phải trích
A: Giá trị khoản nợ
C: Giá trị tài sản đảm bảo được khấu trừ
r: Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể
“Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro” cho biết bao nhiêu phần trăm dư nợ CVTD
được trích lập dự phòng. Chỉ tiêu này cao, chứng tỏ chất lượng các khoản CVTD của
ngân hàng đang tiêu cực và khả năng thu hồi nợ thấp. Vì nợ càng khó thu hồi thì càng
phải trích lập nhiều để phòng ngừa rủi ro. Ngược lại, chỉ tiêu này thấp chứng tỏ chất
lượng CVTD cao. Theo thời gian, tỷ lệ này càng tăng, cho thấy chất lượng CVTD có
xu hướng ngày càng giảm, và ngược lại.
17
Thang Long University Library
(6) Vòng quay vốn cho vay tiêu dùng
“Vòng quay vốn cho vay tiêu dùng” đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng
của ngân hàng, cho biết một đồng vốn của ngân hàng được sử dụng cho vay tiêu dùng
mấy lần trong một kỳ kinh doanh. Chỉ tiêu này cao chứng tỏ chất lượng CVTD tốt;
ngược lại, chỉ tiêu này thấp thì chất lượng CVTD kém. Theo thời gian, hệ số này càng
tăng phản ánh tình hình quản lý vốn vay càng tốt, cho thấy chất lượng CVTD có xu
hướng ngày càng cao và ngược lại.
(7) Các chỉ tiêu sinh lời từ cho vay tiêu dùng
sống và mức thu nhập của người tăng lên thì càng đảm bảo hơn khả năng trả nợ vay
tiêu dùng cho ngân hàng. Từ đó giúp cho chất lượng CVTD của ngân hàng trở nên tốt
hơn và ngày càng được nâng cao.
Môi trường pháp luật: Nhà nước quản lý mọi hoạt động của các cá nhân, các tổ
chức nói chung và NHTM nói riêng thông qua một hệ thống luật pháp nghiêm minh và
chặt chẽ. Một hệ thống luật pháp thiếu tính đồng bộ, chưa hoàn thiện sẽ cản trở hoạt
động của NHTM. Bất kỳ thay đổi nào trong hệ thống pháp luật đều có thể tác động
không tốt đến chất lượng CVTD của ngân hàng. Một tác động thường dễ nhận thấy
nhất là việc NHNN thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất CVTD cao hơn, tạo
ra gánh nặng trả nợ lớn hơn cho khách hàng. Lãi suất tăng nhưng thu nhập của người
dân không tăng thì có thể sẽ không đảm bảo được khả năng trả nợ cho ngân hàng. Từ
đó gây ra tổn thất cho ngân hàng, khiến chất lượng CVTD đi xuống.
Khách hàng: Khách hàng đến ngân hàng với mong muốn nhu cầu vay của mình
được đáp ứng để có được một khoản tín dụng sử dụng trong mục đích tiêu dùng của
mình với sự xác định rõ ràng khối lượng tiền vay, thời hạn vay và lãi suất. Nếu nhu
cầu của khách hàng được chấp nhận trong một thái độ niềm nở và thủ tục đơn giản thì
chắc chắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, tạo điều kiện cho hoạt động tín dụng
được thuận lợi, chất lượng CVTD được bảo đảm. Bên cạnh đó, chất lượng CVTD còn
phụ thuộc vào tổng thu nhập của khách hàng trong tương lai để tiến hành thu nợ theo
đúng quy định, sự trung thực của khách hàng khi sử dụng vốn vay, ý thức trả nợ của
khách hàng đối với ngân hàng và những rủi ro ngoài ý muốn xảy ra với khách hàng.
1.2.4.2. Nhân tố chủ quan
Chính sách cho vay tiêu dùng: Chính sách CVTD của NHTM phản ánh định
hướng cơ bản cho hoạt động cho vay và đảm bảo quá trình CVTD có độ rủi ro thấp
nhất. Chất lượng CVTD tốt nếu ngân hàng xây dựng được chính sách đúng đắn, phù
hợp. Ngược lại, chất lượng CVTD sẽ chịu tác động không tốt nếu trong việc xây dựng
các chính sách có sai sót.
Công tác thẩm định cho vay tiêu dùng: Thẩm định CVTD là một khâu quan
trọng trước khi ngân hàng quyết định cho khách hàng vay vốn tiêu dùng hay không.
Việc thẩm định giúp cho ngân hàng xem xét toàn diện về mục đích vay vốn, nhu cầu
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI
NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM –
CHI NHÁNH CẦU GIẤY
2.1. Khái quát về Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh
Cầu Giấy
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát
triển Việt Nam
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam thành lập ngày 26/4/1957 với
tên gọi là Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam. Từ 1981 đến 1989: Mang tên Ngân hàng
Đầu tư và Xây dựng Việt Nam. Từ 1990 đến 27/04/2012: Mang tên Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam (BIDV). Từ 27/04/2012 đến nay: Chính thức trở thành Ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)
I. Thời kỳ Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam (1957 – 1981)
1. Giai đoạn 1957 – 1960
Ngân hàng đã có những đóng góp quan trọng trong việc quản lý vốn cấp phát
kiến thiết cơ bản, thực hiện tiết kiệm; thực hiện cung ứng vốn cho hàng trăm công
trình, đồng thời tránh cho tài chính khỏi ứ đọng và lãng phí vốn,..
2. Giai đoạn 1960 – 1965
Ngân hàng đã cung ứng vốn cấp phát để kiến thiết những cơ sở công nghiệp,
những công trình xây dựng cơ bản phục vụ quốc kế, dân sinh và góp phần làm thay đổi
diện mạo nền kinh tế miền Bắc.
3. Giai đoạn 1965 – 1975
Ngân hàng đã cùng với nhân dân cả nước thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ bản
thời chiến, cung ứng vốn kịp thời cho các công trình phòng không, sơ tán...
4. Giai đoạn 1975 – 1981
Ngân hàng cùng nhân dân cả nước khôi phục và hàn gắn vết thương chiến tranh,
tiếp quản, cải tạo và xây dựng các cơ sở kinh tế ở miền Nam, xây dựng các công trình
quốc kế dân sinh mới trên nền đổ nát của chiến tranh.
II. Thời kỳ Ngân hàng Đầu tƣ và Xây dựng Việt Nam (1981 – 1990)
Ngân hàng đã từng bước vượt qua khó khăn, hoàn thiện các cơ chế nghiệp vụ,
Hoàn thành tái cấu trúc mô hình tổ chức quản lý, hoạt động, điều hành theo tiêu
thức Ngân hàng hiện đại: Củng cố và phát triển mô hình tổ chức, hình thành và phân
định rõ khối ngân hàng, khối công ty trực thuộc… làm tiền đề xây dựng đề án cổ phần
hoá.
Không ngừng đầu tư cho chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ nòng cốt cho ngành, đào tạo và đào tạo lại cán bộ, tuyển dụng
nguồn nhân lực trẻ có tri thức và kỹ năng đáp ứng các yêu cầu của hội nhập….
3. Từ 27/04/2012 đến nay: Chính thức trở thành Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát
triển Việt Nam (BIDV)
(Nguồn: Văn phòng – Chi nhánh BIDV Cầu Giấy)
22
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát
triển Việt Nam – Chi nhánh Cầu Giấy
Ngày 30/10/1963 chi điểm 2 thuộc Chi nhánh Ngân hàng Kiến thiết Hà Nội (tiền
thân của BIDV Cầu Giấy) được thành lập. Từ khi thành lập cho tới nay, Chi nhánh
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy trải qua 4 giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1963 – 1980: Nằm trong mạng lưới của BIDV, BIDV Cầu Giấy tiền
thân là chi điểm 2 trực thuộc Ngân hàng Kiến thiết thành phố Hà Nội được thành lập
ngày 30/10/1963 đóng tại thôn Trung – xã Dịch Vọng – huyện Từ Liêm. Nhiệm vụ
chủ yếu của Chi nhánh là thực hiện cấp phát, quản lý vốn kiến thiết cơ bản từ nguồn
vốn ngân sách cho tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội trên địa bàn hoạt động.
Giai đoạn 1981 – 1994: Ngày 24/06/1981: Hội động Chính phủ có Quyết định số
259/CP chuyển Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam thuộc Bộ Tài chính thành Ngân hàng
Đầu tư và Xây dựng thuộc NHNN Việt Nam. Tháng 1/1983 theo Quyết định của
NHNN Việt Nam, thành lập chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Từ Liêm thuộc
NHNN huyện Từ Liêm. Năm 1991, Chi nhánh được đổi tên thành Chi nhánh Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Từ Liêm, sau đổi tên thành thành Ngân hàng Đầu tư và Phát
vay hiện hành của BIDV.
Sinh sống hoặc làm việc thường xuyên: Tại tỉnh/thành phố Chi nhánh BIDV cho
vay hoặc địa bàn giáp ranh tỉnh/thành phố Chi nhánh cho vay.
Điều 2: Đồng tiền cho vay: Là đồng Việt Nam (VNĐ). Trường hợp khách hàng
có nhu cầu cho vay bằng ngoại tệ, Chi nhánh tuân thủ theo các quy định hiện hàng về
cho vay bằng ngoại tệ, quản lý ngoại hối của NHNN và BIDV.
Điều 3: Mức cho vay
Căn cứ xác định mức cho vay: Nhu cầu vay vốn của khách hàng; Khả năng hoàn
trả nợ của khách hàng; Tài sản bảo đảm cho khoản vay.
Mức cho vay: Tối đa 70% nhu cầu vốn của khách hàng theo thẩm định của ngân hàng.
Điều 4: Thời hạn cho vay
Nguyên tắc xác định thời hạn cho vay: Phù hợp với nhu cầu vay vốn, khả năng
trả nợ của khách hàng, thời hạn cư trú còn lại tại Việt Nam (đối với khách hàng là cá
nhân nước ngoài).
Thời hạn cho vay: Đối với cho vay ngắn hạn: tối đa đến 12 tháng; Đối với cho
vay trung hạn: từ 12 tháng đến tối đa 60 tháng; Đối với cho vay dài hạn: trên 60 tháng.
Điều 5: Phương thức cấp tín dụng: Theo món; Theo hạn mức; Theo hạn mức
tín dụng dự phòng; Theo hạn mức thấu chi.
Điều 6: Phương thức giải ngân: Giải ngân một hoặc nhiều lần; Giải ngân bằng
tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản của khách hàng tại BIDV, của người thụ
hưởng theo quy định BIDV và của pháp luật.
Điều 7: Thời gian thẩm định, xét duyệt cho vay tiêu dùng
Đối với khoản vay tiêu dùng có tài sản bảo đảm và qua thẩm định rủi ro tại Chi
nhánh: Tối đa 05 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận đầy đủ hồ sơ vay vốn của khách
hàng.
Đối với khoản vay tiêu dùng không có tài sản bảo đảm và không qua thẩm định
rủi ro: Tối đa 01 ngày làm việc kể từ tiếp nhận đầy đủ hồ sơ vay vốn của khách hàng.
24
25
Thang Long University Library