BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM THỊ HỒNG LIÊN
PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
CHI NHÁNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã
được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hồng Liên Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp, đến nay
tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Kinh doanh với đề tài:
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1. Mục tiêu chung 2
1.2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 3
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu: 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu: 3
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1. Một số khái niệm 5
2.1.2 Vai trò của cho vay tiêu dùng 17
2.1.3. Nội dung chủ yếu phát triển cho vay tiêu dùng của NHTM 22
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cho vay tiêu dùng 28
2.2 Cơ sở thực tiễn 37
2.2.1 Thực tiễn hoạt động cho vay tiêu dùng ở một số nước 37
2.2.2 Thực tiễn cho vay tiêu dùng ở trong nước 40
3: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 43
3.1.1 Vài nét khái quát về tỉnh Hải Dương 43
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv
3.1.2. Khái quát về Chi nhánh BIDV Hải Dương 45
3.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV Hải Dương qua các năm 53
Bảng 3.1 Khái quát về diện tích, dân số, mật độ dân số tỉnh Hải
Dương 2011 44
Bảng 3.2 Tình hình lao động của chi nhánh BIDV Hải Dương 50
Bảng 3.3 Tình hình cơ sở vật chất của BIDV Hải Dương 52
Bảng 3.4 Tình hình huy động vốn của BIDV Hải Dương 53
Bảng 3.5 Tổng dư nợ cho vay của BIDV Hải Dương 2011-2013 55
Bảng 3.6 Thu dịch vụ ròng của BIDV Hải Dương năm 2011-2013 57
Bảng 3.7 Bảng thu thập thông tin tài liệu đã công bố 59
Bảng 3.8 Số phiếu điều tra khách hàng 60
Bảng 4.1 Mật độ các PGD tại địa bàn tỉnh Hải Dương 65
Bảng 4.2: So sánh số lượng sản phẩm cho vay với một số ngân hàng
trên địa bàn đến 31/12/2013 70
Bảng 4.3 Thu thập ý kiến KH về việc lựa chọn Ngân hàng 73
Bảng 4.4: Đánh giá chất lượng các khoản mục VTD tại BIDV Hải Dương 74
Bảng 4.5 Cơ cấu dư nợ cho vay tiêu dùng năm 2011- 2013 75
Bảng 4.6: Kết quả hoạt động cho vay hỗ trợ nhu cầu nhà ở 80
Bảng 4.7: Kết quả hoạt động cho vay đảm bảo bằng GTCG/TTK 82
Bảng 4.8: Kết quả hoạt động cho vay tiêu dùng tín chấp 84
Bảng 4.9: Kết quả hoạt động cho vay mua ô tô 86
Bảng 4.10: Kết quả hoạt động cho vay phát hành thẻ tín dụng 88
Bảng 4.11: Lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng năm 2011- 2013 90
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức của BIDV – Chi nhánh Hải Dương 51
Biểu đồ 4.1 Cơ cấu dư nợ CVTD năm 2011 76
Biểu đồ 4.2 Cơ cấu dư nợ CVTD năm 2012 76
Biểu đồ 4.3 Cơ cấu dư nợ CVTD năm 2013 77
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
BIDV : Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam
NH No&PTNT : Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PGD : Phòng giao dịch
GTCG/TTK : Giấy tờ có giá/Thẻ tiết kiệm Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
1: MỞ ĐẦU
1.1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu chuyển sang nền kinh tế thị
trường theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế,
trong đó hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng là xu thế tất yếu trong tiến trình
phát triển của nền kinh tế thế giới. Chính điều này tạo ra sự phát triển và mở
rộng không ngừng của các ngân hàng hiện nay. Đây cũng là một thách thức
lớn khi các ngân hàng tham gia thị trường phải đối đầu. Trong điều kiện cạnh
tranh gay gắt này, buộc các ngân hàng phải tìm hướng đi mới, đưa ra dịch vụ,
sản phẩm mới thu hút khách hàng.
Cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO, các Hiệp định thương mại giữa
Việt Nam và các nước được ký kết; nền kinh tế nước ta tăng trưởng liên tục
với tốc độ cao; đời sống của đại bộ phận dân cư ngày càng được cải thiện.
Năng suất sản xuất tăng cao đã tạo ra lượng hàng hóa phong phú và đa dạng,
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân. Thực hiện chính sách mở cửa, bộ
mặt nền kinh tế Việt nam đã chuyển đổi mạnh, đời sống của người dân ngày
cành nâng cao, tiến đến cuộc sống thoải mái hơn về vật chất lẫn tinh thần,
ngoài những nhu cầu thiết yếu như ăn, ở, uống, đồ mặc thì nhu cầu cuộc sống
được nâng cao hơn như nhà đẹp tiện nghi, xe cộ hiện đại, du lịch, học hành
Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài: “ Phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Hải Dương” làm
đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở phản ánh và phân tích thực trạng cho vay tiêu dùng tại
Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Hải Dương, đề
xuất các giải pháp nhằm phát triển cho vay tiêu dùng của Ngân hàng trong
những năm tới.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
1.2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển cho
vay tiêu dùng của các Ngân hàng Thương mại.
- Phản ánh, đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến
phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt
Nam chi nhánh Hải Dương
- Đề ra các giải pháp nhằm phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Hải Dương
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động cho vay tiêu dùng tại
Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Hải Dương, bao
gồm các sản phẩm cho vay tiêu dùng chính như: cho vay tiêu dùng cá nhân,
cho vay mua nhà đất để ở, cho vay mua ô tô, cho vay cầm cố sổ tiết kiệm,
phát hành thẻ tín dụng.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số nội dung chủ yếu sau:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1. Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm về phát triển
Người ta sử dụng rất nhiều quan điểm, công cụ khác nhau để tiến hành
nghiên cứu sự phát triển. Khi nói về phát triển là nói đến phát triển của một
hệ thống và trong điều kiện một thời gian, một không gian rộng lớn. Bất kể
hệ thống nào cũng vận động, phát triển theo quy luật; đó là quy luật tích lũy
về lượng để dẫn tới thay đổi về chất theo một đường đi có trật tự.
Theo quan điểm của triết học, phát triển là khái niệm chỉ sự thay đổi về
quy mô và chất lượng của một sự vật, một hiện tượng trong thời gian và
không gian cụ thể. Sự thay đổi này bao hàm cả tăng lên và giảm đi về quy
mô và sự thay đổi chất lượng của sự vật, hiện tượng. Như vậy, phát triển là
khái niệm về sự tồn tại và vận động không ngừng của sự vật, hiện tượng
trong một thời gian và không gian cụ thể. Suy rộng ra, một hệ thống tồn tại
mọi nền kinh tế. Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ
chức kinh tế - xã hội đều gửi tiền tại Ngân hàng. Vốn vay từ Ngân hàng
mang lại nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình. Đây là tổ chức
cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình. Đối với các
doanh nghiệp, ngân hàng thương mại thường là tổ chức cung cấp tín dụng để
phục vụ cho việc mua hàng hóa dự trữ hoặc xây dựng nhà máy, mua sắm
trang thiết bị kỹ thuật. Khi doanh nghiệp và người tiêu dùng phải thanh toán
cho các khoản mua hàng hóa và dịch vụ, họ thường sử dụng séc, ủy nhiệm
chi, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử…Khi họ cần thông tin tài chính hay lập
kế hoạch tài chính, họ thường đến ngân hàng để nhận lời tư vấn. Các khoản
tín dụng của ngân hàng cho Chính phủ là nguồn tài chính quan trọng để đầu
tư phát triển.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất
của ngân hang đó là huy động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng thương mại là
cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm tiền vào
nơi khan thiếu. Hoạt động của ngân hang thương mại nhằm mục đích kinh
doanh một hang hoá đặc biệt đó là "vốn- tiền", trả lãi suất huy động vốn thấp
hơn lãi suất cho vay vốn, và phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận
của ngân hàng thương mại. Hoạt động của ngân hàng thương mại phục vụ cho
mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh nghiệp và
các tổ chức khác trong xã hội. Khác hẳn với ngân hàng thương mại, ngân
hàng Nhà nước (ngân hàng Trung ương) không hoạt động vì mục đích lợi
nhuận và cũng không kinh doanh tiền tệ. Mỗi một quốc gia chỉ có một ngân
hàng Nhà nước duy nhất, có thể gọi là ngân hàng mẹ có chức năng phát hành
tiền, quản lý, thực thi và giám sát các chính sách tiền tệ; và có rất nhiều ngân
hàng thương mại, có thể coi là các ngân hàng con có chức năng thực hiện lưu
chuyển tiền trong nền kinh tế. Trong trường hợp ngân hàng thương mại đứng
thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi
tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm.
Do tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng
thương mại. Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ (2) sang nhóm thứ (1)
nếu cả hai cùng có lợi. Như vậy, thu nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan
hệ tài chính giữa hai nhóm. Nếu dòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay
trở lại với một lượng vốn lớn hơn trong một khoảng thời gian nhất định thì đó
là quan hệ tín dụng. Nếu không thì đó là quan hệ cấp phát hoặc hùn vốn. Đây
là quan hệ tài chính trực tiếp.
Tuy nhiên, quan hệ tài chính trực tiếp bị nhiều giới hạn do sự không phù
hợp về qui mô, thời gian, không gian Điều này cản trở quan hệ trực tiếp
phát triển và là điều kiện nảy nở trung gian tài chính. Trung gian tài chính đã
làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó khuyến khích tiết kiệm, đồng
thời giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư (tăng thu nhập cho người đầu tư).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
Trung gian tài chính đã tập hợp các người tiết kiệm và đầu tư. Cơ chế hoạt
động trung gian sẽ có hiệu quả khi nó gánh chịu rủi ro và sử dụng kỹ thuật
nghiệp vụ để hạn chế, phân tán rủi ro và giảm chi phí giao dịch.
Ngân hàng thương mại sẵn sàng chấp nhận các khoản cho vay nhiều rủi ro
trong khi lại phát hành các chứng khoán ít rủi ro cho người gửi tiền. Thực tế,
các ngân hàng thương mại tham gia vào kinh doanh rủi ro. Ngân hàng thương
mại cũng thỏa mãn nhu cầu thanh khoản của nhiều khách hàng.
Ngân hàng thương mại là một trung gian thanh toán. Ngân hàng thay mặt
khách hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ với nhiều hình
thức thanh toán như bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ cung cấp
mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách
hàng cần. Các ngân hàng cũng thực hiện bù trừ lẫn nhau thông qua Ngân hàng
Trung ương hoặc thông qua trung tâm thanh toán. Hiện nay, ngân hàng trở
dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và trong thời gian nhất định
theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm
dựa trên một số tiêu thức nhất định. Việc phân loại cho vay thích hợp và cơ
sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng
cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Phân loại cho vay dựa vào các căn cứ
sau đây:
• Theo mục đích:
- Cho vay bất động sản là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và
xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công
nghiệp, thương mại dịch vụ.
- Cho vay công nghiệp và thương mại là loại cho vay ngắn hạn để bổ
sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương
mại và dịch vụ.
- Cho vay nông nghiệp là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất
như phân bón, thuốc trừ sâu…
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
- Cho vay các định chế tài chính bao gồm cấp tín dụng cho các ngân
hàng, công ty tài chính…
- Cho vay cá nhân là cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như
mua sắm các vật dụng đắt tiền, và các khoản vay để trang trải các chi phí
thong thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
• Theo thời hạn cho vay.
Theo căn cứ này cho vay được chia ra làm 3 loại:
- Cho vay ngắn hạn: loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và được
sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của doanh nghiệp và các nhu cầu
chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
- Cho vay trung hạn: theo qui định hiện nay của ngân hàng nhà nước
Dựa vào căn cứ này cho vay tín dụng chia làm hai loại:
- Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu,
đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc
mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời
gian thanh toán.
2.1.1.4 Khái niệm về cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại
Cho vay tiêu dùng là sản phẩm tín dụng nhằm hỗ trợ nguồn vốn cho khách
hàng để khách hàng sử dụng vào mục đích tiêu dùng như mua sắm vật dụng
gia đình, sữa chữa nhà ở, mua xe, mua nền nhà, làm kinh tế hộ gia đình, thanh
toán học phí, đi du lịch, chữa bệnh, ma chay, cưới hỏi mà có thể cần hoặc
không cần tài sản đảm bảo.
Cho vay tiêu dùng có một số đặc điểm cơ bản như
+ Khách hàng vay: Chủ yếu là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu
tiêu dùng tại thời điểm hiện tại nhưng chưa có khả năng thanh toán.
+ Mục đích vay: Ngân hàng cho vay tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng cá nhân chứ không phải là nhu cầu kinh doanh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
+ Qui mô khoản vay: Mỗi khoản vay thường có qui mô tương đối nhỏ
so với các khoản cho vay kinh doanh. Cho vay bất động sản có thể có giá trị
lớn hơn, nhưng giá trị so sánh vẫn nhỏ hơn các món vay khác tại Ngân hàng.
Nguyên nhân chủ yếu do khách hàng chỉ vay tiêu dùng khi đã có một lượng
vốn tương đối, chỉ vay ngân hàng để bổ sung số tiền còn thiếu (so với vay
kinh doanh, có thể chủ đầu tư vay toàn bộ số tiền cần thiết cho dự án). Mặt
khác, do cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao hơn nên Ngân hàng cũng thường
thận trọng hơn trong việc quyết định số tiền cho vay, căn cứ vào khả năng trả
nợ và tài sản đảm bảo của khách hàng.
+ Số lượng các khoản cho vay tiêu dùng lại là rất lớn do đối tượng của
của người vay. Do vậy, nếu người vay gặp vấn đề về sức khoẻ, mất việc làm
hay gặp các biến cố bất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập hàng tháng, ngân hàng
sẽ gặp khó khăn trong thu hồi nợ. Đây là rủi ro khó lường trước, khác với
món vay kinh doanh ta có thể hạn chế được thông qua nâng cao chất lượng
thẩm định dự án.
o Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kì kinh tế. Khi nền
kinh tế mở rộng, người dân lạc quan về tương lai thì họ sẽ vay ngân hàng
nhiều hơn, và khi nền kinh tế suy thoái, tình trạng thất nghiệp tăng thì họ sẽ
hạn chế vay mượn ngân hàng.
+ Chi phí: Cho vay tiêu dùng là một trong những khoản mục có chi phí
lớn nhất trong danh mục cho vay của Ngân hàng. Do trong cho vay tiêu dùng
số lượng món vay nhiều, khách hàng đông và đa dạng nhưng mỗi khoản vay
số lượng lại nhỏ, ngân hàng phải huy động nhiều nhân lực cho công việc cho
vay, từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, quyết định cho vay, giải
ngân cũng như kiểm soát và thu nợ đối với khách hàng sau khi cho vay. Mặt
khác, Ngân hàng cũng gặp không ít khó khăn để quản lý các khoản cho vay
tiêu dùng với giá trị nhỏ nhưng số lượng lớn do đối với khách hàng cá nhân,
thông tin về tình hình tài chính thường không công khai minh bạch như ở các
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
công ty lớn. Tất cả những điều này kiến chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ
cho vay cao hơn so với các loại hình cho vay khác.
+ Lợi nhuận: Lợi nhuận của cho vay tiêu dùng thường cao do cho vay
tiêu dùng có rủi ro cao, chi phí cao và tâm lý người vay “kém nhạy cảm với
lãi suất”. Các khoản vay tiêu dùng thường được định giá cao, đến mức mà bản
thân lãi suất vay vốn trên thị trường lẫn tỉ lệ tổn thất tín dụng phải tăng lên
đáng kể thì hầu hết các khoản cho vay tiêu dùng mới không mang lại lợi
nhuận.
+ Tính chu kì: Khác với các khoản vay thương mại, nhu cầu phát sinh
kiếm được từng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phép thực hiện vay và trả
nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng.
c. Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ
Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ, cho vay tiêu dùng gồm:
• Cho vay tiêu dùng gián tiếp: cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức
cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công ty
bán lẻ đã bán chịu hàng hóa hay dịch vụ cho người tiêu dùng.
• Cho vay trực tiếp: là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân
hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ
người này.
d. Căn cứ vào sản phẩm cung ứng dịch vụ của Ngân hàng
Trên cơ sở các hình thức cấp tín dụng cơ bản, cùng với sự phát triển
của nền kinh tế, các ngân hàng hiện nay không ngừng nghiên cứu và đưa ra
rất nhiều sản phẩm mới, để có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng và ngày càng
nâng cao của khách hàng. Các sản phẩm được thiết kế trên cơ sở nghiên cứu
kỹ nhu cầu khách hàng, căn cứ theo mục đích sử dụng vốn vay, một số sản
phẩm phổ biến hiện nay gồm:
- Cho vay tiêu dùng cá nhân: Là sản phẩm nhằm tài trợ cho nhu cầu
chi tiêu của người tiêu dùng, đây là nguồn tài chính quan trọng để trang trải