1
ĐỀ 2: PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ
CHỨC TÍN DỤNG – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Mục lục:
1. Khái quát về hoạt động của tổ chức tín dụng:.......................................................2
2. Pháp luật về đảm bảo an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng:............3
2.1. Các văn bản pháp luật cơ bản về bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức
tín dụng:.....................................................................................................................3
2.2. Nội dung các quy định pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động của các
tổ chức tín dụng:........................................................................................................4
2.3. Quy định về hoạt động chứng khoán và kinh doanh bất động sản của các tổ
chức tín dụng:............................................................................................................9
2.4. Quy định về dự trữ bắt buộc: ............................................................................9
3. Một số đánh giá và kiến nghị các quy định pháp luật về bảo đảm an toàn trong
hoạt động tín dụng :.................................................................................................11
3.1. Một số đánh giá...............................................................................................11
3.2. Kiến nghị về đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng tại Việt Nam ................15
2
Mở đầu:
Tối đa hóa lợi nhuận và đảm bảo an toàn trong kinh doanh là những mục tiêu hàng đầu
của mọi doanh nghiệp, trong đó có tổ chức tín dụng. Do đặc thù và tính “nhạy cảm” trong kinh
doanh, hệ thống các tổ chức tín dụng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, song luôn
tiềm ẩn rủi ro cao và khi rủi ro phát sinh sẽ tác động sâu sắc tới mọi mặt hoạt động kinh tế - xã hội.
Vì vậy việc đảm bảo an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng. Thời
gian vừa qua, pháp luật ngân hàng nước ta đã có những thay đổi tích cực khi liên tục ban hành những
quy định mới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng trong đó có pháp luật về đảm bảo an toàn
của các tổ chức tín dụng. Qua một thời gian thi hành, các quy định này đã có những tác động khá mạnh
hàng nhà nước Việt Nam đã ban hành một số những văn bản pháp luật để điều chỉnh
hoạt động của các tổ chức tín dụng. Trong đó quan trọng nhất phải kể đến Luật các tổ
chức tín dụng số 47/2010/QH12 quy định rõ về các hoạt động mà tổ chức tín dụng được
phép thực hiện cũng như đưa ra những hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động của
các tổ chức tín dụng tại chương VI của Luật này với các quy định về đối tượng cấm cấp
tín dụng; hạn chế cấp tín dụng; giới hạn cấp tín dụng; giới hạn góp vốn, mua cổ phần; tỷ
lệ bảo đảm an toàn; dự phòng rủi ro; kinh doanh bất động sản; yêu cầu đảm bảo an toàn
trong hoạt động ngân hàng điện tử; quyền nghĩa vụ của công ty kiểm soát …
Sau đó là Thông tư số 13/2010/TT-NHNN (sau đây gọi tắt là Thông tư 13) quy định
về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng (TCTD) được Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành ngày 20/5/2010, có hiệu lực từ ngày
01/10/2010. Thông tư 13 gồm 22 điều, đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến mức độ
an toàn của các TCTD, trong đó có 3 điểm mấu chốt gồm: (1) Tăng tỷ lệ an toàn vốn tối
thiểu (CAR); (2) hạn chế việc tham gia của các NHTM vào các hoạt động liên quan đến
chứng khoán và kinh doanh bất động sản; (3) Tăng cường quy định về đảm bảo khả
năng thanh khoản của các TCTD. Sau khi cân nhắc các ý kiến liên quan đến qui định tại
Thông tư 13, ngày 27/9/2010, NHNN đã ban hành Thông tư số 19/2010/TT-NHNN về
sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 13.
Liên quan đến các Thông tư này, ngày 30/8/2011, Thống đốc NHNN đã ký ban hành
Thông tư số 22/2011/TT-NHNN. Theo đó, NHNN chính thức hủy bỏ tỷ lệ cấp tín dụng
từ nguồn vốn huy động quy định tại Thông tư 13, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư
19. Bên cạnh đó, Thông tư số 22 cũng điều chỉnh hệ số rủi ro đối với một số tài sản có
bằng ngoại tệ khi tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu.
Về cơ bản, Thông tư 13 và các thông tư sửa đổi có liên quan đã làm rõ hơn hạn chế
về “tỷ lệ bảo đảm an toàn” được quy định tại Luật các tổ chức tín dụng. Bên cạnh đó là
một số các chỉ thị, thông tư được Ngân hàng nhà nước ban hành để điều chỉnh về vấn đề
4
này. Về cơ bản các quy định này được các chuyên gia kinh tế đánh giá là một bước
6
b) Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% hoặc tỷ lệ cao hơn theo quy định của Ngân hàng
Nhà nước trong từng thời kỳ;
c) Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài
hạn;
d) Trạng thái ngoại tệ, vàng tối đa so với vốn tự có;
đ) Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi;
e) Các tỷ lệ tiền gửi trung, dài hạn so với tổng dư nợ cho vay trung, dài hạn.”
Toàn bộ các nội dung này được cụ thể hóa tại chương II của Thông tư 13. Có thể
nói, mục đích hướng tới của quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ
chức tín dụng là nhằm (1) Tăng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và (2) đảm bảo khả năng
thanh khoản của các tổ chức tín dụng. Điều này được thể hiện rõ qua các quy định:
-
Quy định về tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu (Mục 1 Thông tư 13):
Kế thừa quyết định 457, Thông tư 13 đưa ra một định nghĩa tương đối đầy đủ và cụ
thể về “vốn tự có” của các tổ chức tín dụng. Theo quy định của Luật Các Tổ Chức Tín
Dụng, vốn tự có được định nghĩa bao gồm “giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự
trữ, một số tài sản “Nợ” khác của tổ chức tín dụng theo quy định của Ngân Hàng Nhà
Nước,” và vốn tự có là căn cứ để tính toán các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động
ngân hàng. Thông tư 13 cho phép các tổ chức tín dụng được phép xác định vốn tự có
của mình theo hai cấp, trong đó về cơ bản vốn cấp 1 bao gồm vốn điều lệ và các quỹ dự
trữ và vốn cấp 2 là các nguồn vốn tự bổ sung hoặc có nguồn gốc từ bên ngoài của tổ
chức tín dụng. Vốn cấp 1 về cơ bản gồm (i) vốn điều lệ, (ii) lợi nhuận không chia và
(iii) các quỹ dự trữ được lập trên cơ sở trích lập từ lợi nhuận của tổ chức tín dụng như
quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển. Vốn
cấp 2 về cơ bản bao gồm (i) phần giá trị tăng thêm do định giá lại tài sản của tổ chức tín
trừ quy định tại Khoản 4 Điều 6 Mục 2 Thông tư 13
+ Tổng Tài sản “Có” rủi ro quy định tại Khoản 5 Điều 6 Mục 2 Thông tư 13.
Tổng tài sản “Có” rủi ro là tổng tài sản “Có” nội bảng (bao gồm, ngoài những mục
khác, tiền mặt, vàng, tiền gửi, các khoản cho vay và các khoản phải đòi) và tài sản “Có”
ngoại bảng (bao gồm, ngoài các mục khác, cam kết bảo lãnh, cho vay, thư tín dụng và
chấp nhận thanh toán) được điều chỉnh theo hệ số rủi ro. Dựa trên mức độ rủi ro, các hệ
số rủi ro cho tài sản “Có” nội bảng gồm 5 nhóm là 250%; 100%, 50%, 20% và 0%. Tuy
nhiên, đối với tài sản “Có” ngoại bảng thì phụ thuộc vào mức độ rủi ro tương đối so với
việc cấp tín dụng trực tiếp, giá trị của tài sản này trước tiên phải được chuyển đổi từ giá
trị ngoại bảng sang nội bảng theo các hệ số chuyển đổi 250%; 100%, 50%, 20% và 0%
trước khi nhân với các hệ số rủi ro.
Tỷ lệ về khả năng chi trả: Mục 3 chương II Thông tư 13 đưa ra những quy
định rất cụ thể về quản lý, theo dõi, xử lý các tỷ lệ khả năng chi trả. Theo đó: Cuối mỗi
8
ngày, tổ chức tín dụng phải xác định và có các biện pháp để đảm bảo các tỷ lệ về khả
năng chi trả cho ngày hôm sau như sau:
1.
Tỷ lệ tối thiểu bằng 15% giữa tổng tài sản “Có” thanh toán ngay và tổng Nợ
phải trả;
2.
Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “Có” đến hạn thanh toán trong 7 ngày
tiếp theo kể từ ngày hôm sau và tổng tài sản “Nợ” đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp
theo kể từ ngày hôm sau đối với đồng Việt Nam, đồng Euro, đồng Bảng Anh và đồng
đô la Mỹ (bao gồm đồng đô la Mỹ và các ngoại tệ khác còn lại được quy đổi sang đô la
Mỹ theo tỷ giá liên ngân hàng cuối mỗi ngày).
- Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài
hạn
Theo Thông tư 13 Các ngân hàng thương mại được sử dụng tối đa 80% nguồn vốn
chịu các giới hạn góp vốn, mua cổ phần trên đây hay không. Có lẽ NHNN sẽ cần hướng
dẫn thêm về vấn đề này.
Những quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn này sẽ bảo đảm cho mức vốn của các tổ
chức tín dụng phải luôn giữ một mức ổn định nhất định để thực hiện các hoạt động ngân
hàng qua đó bảo đảm khả năng thanh khoản cho các tổ chức này.
2.3. Quy định về hoạt động chứng khoán và kinh doanh bất động sản của các tổ
chức tín dụng:
Các quy định pháp luật hiện nay đã giới hạn khá chặt chẽ việc tham gia vào các hoạt
động kinh doanh chứng khoán và kinh doanh bất động sản của các tổ chức tín dụng, nhằm tách
biệt rõ hoạt động của một ngân hàng đơn năng và đa năng, đồng thời hạn chế việc các tổ chức tín
dụng tham gia vào các hoạt động mang tính rủi ro cao trong khi khả năng quản trị rủi ro của
nhiều TCTD Việt Nam đang ở mức thấp. Theo đó, thì các tổ chức tín dụng không được phép kinh
doanh bất động sản trừ một số trường hợp luật định (Điều 133 Luật các tổ chức tín dụng), việc kinh
doanh chứng khoán cũng rất hạn chế , khi mà Tài sản “Có” gồm: Các khoản cho vay để đầu
tư chứng khoán; Các khoản cho vay các công ty chứng khoán; Các khoản cho vay nhằm
mục đích kinh doanh bất động sản có hệ số rủi ro bằng 250%.
2.4. Quy định về dự trữ bắt buộc:
Quy định về dự trữ bắt buộc là quy định của ngân hàng Trung ương dùng để điều
chỉnh chính sách tiền tệ thông qua việc dùng nó như là một công cụ để hạn chế bớt
lượng tiền lưu thông. Ngoài ra đó cũng là công cụ để NHNN thực hiện vai trò chủ đạo
của mình trong hệ thống ngân hàng và đảm bảo an toàn cho hệ thống đó. Đồng thời, lập
quỹ dự phòng rủi ro được coi là một trong những biện pháp quan trọng để tăng khả
10
năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng, giúp ngân hàng có thể ổn định và phát triển được
hoạt động kinh doanh trong trường hợp rủi ro xảy ra.
Theo đó, Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải dự phòng rủi ro
trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Khoản dự
phòng rủi ro này được hạch toán vào chi phí hoạt động; Việc phân loại tài sản có, mức
3.1. Một số đánh giá
3.1.1 Điểm tích cực:
Trong thời gian đổi mới vừa qua, đặc biệt từ khi thực hiện 02 Luật về ngân hàng,
Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã quy định và ban hành nhiều quy định quan trọng
để bảo đảm an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng và bảo vệ quyền lợi hợp pháp
của người gửi tiền. Các quy định đảm bảo an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng được
quy định ngay khi thành lập các tổ chức tín dụng và trong suốt quá trình tổ chức tín
dụng hoạt động. Các quy định này có vai trò rất quan trọng trong việc góp phần duy trì
sự ổn định của các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của các
hoạt động ngân hàng. Mặt khác, xét toàn diện thì các thiết chế để bảo đảm an toàn hệ
thống các TCTD cũng có ý nghĩa nhất định trong việc bảo đảm quyền lợi của người gửi
tiền. Đây thực sự là một thành tựu quan trọng của ngành Ngân hàng trong gần 20 năm
đổi mới. Việc hình thành được các thiết chế nêu trên ở nước ta, vừa là kết quả của việc
tổng kết sâu sắc thực tiễn quá trình phát triển nhiều năm của hoạt động ngân hàng trong
nước, vừa là kế thừa một cách tích cực kinh nghiệm tổ chức, quản lý hoạt động ngân
hàng của các nước phát triển và các tổ chức quốc tế. Trong đó, một số thiết chế đến nay
đã đang tiến dần tới các chuẩn mực quốc tế mà có thể nói tới Thông tư 13 và các Thông
tư sửa đổi có liên quan.
Thứ nhất, quy định về giới hạn về khách hàng được cấp tín dụng (đối tượng cấp tín
dụng, tỷ lệ số vốn được cấp cho nhóm khách hàng liên quan…) đã được quy định khá
cụ thể và góp phần hạn chế sự ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ của tổ chức tín dụng
qua đó bảo đảm được hoạt động bình thường của các tổ chức này.
Thứ hai, pháp luật ngân hàng đã giới hạn khá chặt chẽ việc tham gia vào các hoạt động
kinh doanh chứng khoán và kinh doanh bất động sản của các NHTM, nhằm tách biệt rõ hoạt
động của một ngân hàng đơn năng và đa năng, đồng thời hạn chế việc các ngân hàng tham gia vào
các hoạt động mang tính rủi ro cao trong khi khả năng quản trị rủi ro của nhiều TCTD Việt Nam
đang ở mức thấp.
Thứ ba, về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, Điều 4 của Thông tư 13 nêu rõ, nâng tỷ lệ an toàn
vốn từ 8% lên 9% cùng với quy định về vốn pháp định tối thiểu theo Nghị định 141/2006/N
-CP (3.000 tỷ đồng) là cơ sở hết sức quan trọng để nâng cao tiềm lực tài chính của các ngân
hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong khi cả thế giới đang bắt đầu thực hiện theo lộ
trình những tiêu chuẩn mới của Basel 3 thì Việt Nam vẫn đang còn cách rất xa việc áp dụng
các tiêu chuẩn của Basel 2, đây là một điều rất đáng lo.
Bên cạnh đó, trên thực tế hiện nay ở các nước, hệ số CAR của các ngân hàng thường ở
vào mức 12%, nên việc quy định hệ số CAR ở nước ta trên 9% cũng chưa hẳn mang lại một
mức an toàn cho các NHTM.
Thứ hai, một hệ thống tài chính an toàn yêu cầu các ngân hàng có hệ số an toàn vốn tối
13
thiểu (CAR- capital adequacy ratio) đạt mức yêu cầu. Hệ số này phụ thuộc vào hai yếu tố, vốn
tự có và tổng tài sản có rủi ro. Việc NHNN yêu cầu các ngân hàng tăng vốn điều lệ lên tối
thiểu lên 3.000 tỉ đồng và tăng CAR lên 9% có thể coi là một vế của kế hoạch tăng hệ số an
toàn vốn cho toàn hệ thống, nhưng chỉ yêu cầu tăng vốn điều lệ và CAR tối thiểu là không
đủ, thậm chí có thể còn làm phát sinh thêm những rủi ro.
Khi các ngân hàng không đáp ứng đủ điều kiện về tỷ lệ an toàn vốn tối
thiểu, chúng buộc phải tiếp tục tăng thêm vốn hoặc sáp nhập với một ngân hàng
khác. Việc tăng vốn trong bối cảnh thị trường chứng khoán suy giảm trong một
thời gian dài và đang phục hồi từ đầu năm 2012 không hẳn là điều dễ dàng. Còn
nếu sáp nhập, về mặt số học, đây là giải pháp sai lầm vì hai ngân hàng có hệ số an
toàn vốn thấp sau khi sáp nhập, hệ số này không thể tăng dù vốn điều lệ tăng.
Ngoài ra, việc tăng vốn nhằm nâng cao CAR, nếu thành công, khiến cho tổng tài
sản phải tăng lên để đáp ứng mức sinh lời kì vọng, sẽ dẫn tới các ngân hàng không
đủ khả năng quản lý, dẫn tới những rủi ro hoạt động sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới
hoạt động của họ.
Về việc tính vốn tự có, tại Điều 5 Thông tư 13 qui định, vốn cấp 1 bao gồm lợi nhuận không
chia được quy định tại Điều 2, nhưng không nhắc đến phần lợi nhuận không chia trên báo
cáo tài chính các thời điểm trong năm để tính CAR, trong khi tài sản có rủi ro để tính CAR
là dựa trên số liệu căn cứ báo cáo tài chính tại các thời điểm trong năm.
Thứ ba, là những bất cập trong quy định về hệ số rủi ro của các tài sản có trong công thức
cũng có thể cùng một hệ số rủi ro với những khoản tín dụng đang được xếp nhóm 2, 3, 4, 5,
trong khi nhóm nợ của khoản tín dụng phản ánh rất sát mức độ rủi ro của khoản nợ đó. iều
này chỉ ra rằng, các ngân hàng có cùng tỷ lệ an toàn vốn nhưng có thể đang đối mặt với các loại
rủi ro khác nhau, với mức độ khác nhau.
Điều này có thể tạo động lực cho các ngân hàng trong nỗ lực làm tăng hệ số CAR
sẽ cấp tín dụng dựa trên yêu cầu về tài sản đảm bảo (chỉ là nguồn trả nợ thứ hai)
mà chấp nhận cả những khách hàng có chất lượng tín dụng không cao, do đó, làm
tăng rủi ro ngân hàng phải gánh chịu chứ không chắc chắn đảm bảo việc tăng mức
độ an toàn.
(iii) Về vấn đề bảo lãnh, trong thực tế, tỷ lệ phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thay cho
khách hàng là tương đối thấp trong tổng nghĩa vụ bảo lãnh. Do đó, việc để hệ số chuyển đổi
là 100% như trong Điều 5 là chưa phù hợp, hạn chế sự phát triển của hoạt động bảo lãnh.
Các cam kết ngoại bảng khác như tất cả các hợp đồng giao dịch ngoại tệ có hệ số rủi ro là
100%, trong khi đó một số cam kết có mức độ rủi ro rất thấp, chẳng hạn như các giao dịch ngoại
tệ với NHNN. Điều này sẽ làm hạn chế sự phát triển thị trường các sản phẩm dịch vụ mới.
(iv) Trong khoản 1.1, Điều 12 quy định, danh mục các tài sản “có” đến hạn thanh
toán trong 7 ngày (điểm d, e, g, h, l) nhưng chưa quy định về trái phiếu do Ngân hàng Chính
sách Xã hội phát hành. Vậy trái phiếu này sẽ được tính vào danh mục tài sản nào?
Thứ tư, Thông tư chưa theo sát được các hướng dẫn về an toàn hoạt động
15
ngân hàng của Ủy ban Basel, đặc biệt là Basel III. Trên thực tế, việc quy định tỷ lệ
tín dụng/vốn huy động tại Thông tư 13 đã được bãi bỏ tại Thông tư 22/2011/TTNHNN. Tuy nhiên, tại Quyết định số 254/Q -TTg phê duyệt đề án “Cơ cấu lại hệ
thống các TCTD giai đoạn 2011- 2015” đã nhấn mạnh “kiểm soát tăng trưởng tín
dụng phù hợp với nguồn vốn về quy mô và cơ cấu kỳ hạn; từng bước giảm tỷ lệ
dư nợ tín dụng so với vốn huy động về mức không quá 90% đến năm 2015”. Đây
là một quan điểm đúng đắn và cần thiết nhằm hạn chế những rủi ro trong hoạt
động ngân hàng. Bên cạnh đó, nếu Thông tư quy định giới hạn tối thiểu tỷ lệ Vốn
tự có trên Tổng tài sản thì sẽ hợp lý hơn và phù hợp với khuyến nghị của Ủy ban
nguyên tắc của trụ cột 2 thuộc Basel II. Đó là: (i) Phải đảm bảo định kỳ thường
xuyên đánh giá chính sách của ngân hàng về vốn, sự tuân thủ của ngân hàng đối
với các tỷ lệ vốn pháp định; (ii) Kịp thời áp dụng các biện pháp cần thiết khi phát
hiện những bất cập trong quá trình đánh giá; (iii) Có quyền yêu cầu ngân hàng duy
trì vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định căn cứ vào đặc điểm cụ thể của thị
trường;
(iv) Có quyền can thiệp sớm nhằm ngăn ngừa tình trạng vốn của ngân hàng giảm xuống
thấp hơn mức tối thiểu. Rõ ràng, theo kinh nghiệm của các quốc gia áp dụng Basel II, việc quy
định cụ thể các nguyên tắc trong trụ cột 2 của Basel II vào chức năng nhiệm vụ của Cơ quan
Thanh tra, giám sát Ngân hàng sẽ góp phần nâng cao vị thế của Cơ quan này, đồng thời đảm bảo tránh
được sự chủ quan của chủ sở hữu ngân hàng khi điều kiện thị trường đang thuận lợi.
3.2.2. Về quản trị đòn bẩy tài chính của các tổ chức tín dụng
NHNN cần bổ sung quy định về giới hạn liên quan đến đòn bẩy của các
tổ chức tín dụng. Theo đó, quy định cụ thể giới hạn tối thiểu Vốn tự có so với Tổng tài sản
trong xác định việc đủ vốn tại tổ chức tín dụng (quy định này hoàn toàn phù hợp với việc
thay thế cho tỷ lệ tín dụng/vốn huy động và theo đúng khuyến nghị tại Basel III).
Hơn thế nữa, quy định này sẽ phù hợp với xu thế phát triển của ngân hàng hiện đại
là hoạt động không chỉ hướng tới nghiệp vụ tín dụng mà còn bao gồm cả các
nghiệp vụ phái sinh (làm gia tăng tài sản ngoại bảng). Vấn đề đáng chú ý là giới
hạn vốn tự có so với tổng tài sản cần là giới hạn “động”. Do đó, các TCTD
không chỉ cần xây dựng đủ vốn dựa trên hệ số an toàn vốn tối thiểu mà còn phải
tính đến việc tăng vốn phù hợp tốc độ gia tăng tổng tài sản (gồm cả tài sản nội
bảng và tài sản ngoại bảng) của ngân hàng trong giai đoạn kinh tế ở chu kỳ thịnh
vượng, bởi việc tăng vốn trong chu kỳ thịnh vượng sẽ góp phần củng cố năng lực
của ngân hàng trong giai đoạn suy thoái.
3.2.3. Các quy định khác về an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Thứ nhất, phân tích tình huống và khả năng chịu đựng (stress-test & scenario
analysis) là những vấn đề còn rất mới với các TCTD của Việt Nam nói chung,
theo
kịp
tốc
độ
phát
triển
nhanh
chóng
về
quy mô, mạng lưới và loại hình dịch vụ. Theo đó, tái cơ cấu hệ thống ngân hàng là hết
sức cần thiết nhằm đảm bảo an toàn hoạt động cho từng ngân hàng cũng như cả hệ thống
và nền kinh tế.
Đảm bảo an toàn hệ thống NHTM Việt Nam trong bối cảnh hiện nay cần sự nỗ lực và
phối hợp của nhiều bên, từ các cơ quan quản lý vĩ mô đến bản thân các NHTM. Đối với
các cơ quan quản lý vĩ mô, vấn đề then chốt là xây dựng khung pháp lý tuân thủ theo các
chuẩn mực quốc tế, trong đó có các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng, xác định lộ
trình thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế của hệ thống NHTM Việt Nam. Đồng
thời, cần có các biện pháp thanh tra - giám sát có hiệu quả nhằm đảm bảo các NHTM
tăng trưởng hoạt động kinh doanh nhưng không vi phạm các giới hạn an toàn.
Đối với mỗi NHTM, cần chấp hành các quy định của hệ thống luật pháp, đồng thời
24
25