ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HỒNG VÂN
THẾ CHẤP TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ
CHỨC TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn bảo đảm tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể được bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Nguyễn Hồng Vân
2
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 5
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM VÀ THẾ CHẤP
TÀI SẢN 11
1.1. Khái niệm, đặc điểm của giao dịch bảo đảm tiền vay 11
1.1.1. Khái niệm giao dịch bảo đảm tiền vay 11
1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật Việt Nam về giao dịch bảo
đảm tiền vay 13
2.4. Xử lý tài sản thế chấp 47
2.4.1. Các trường hợp xử lý tài sản thế chấp 47
2.4.2. Nguyên tắc xử lý tài sản thế chấp 48
2.4.3. Phương thức xử lý tài sản thế chấp 49
2.4.4. Thời hạn xử lý tài sản thế chấp 50
Chương 3. PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN CỦA VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 51
3.1. Khái quát về thực trạng pháp luật giao dịch bảo đảm tiền vay tại
tổ chức tín dụng 51
4
3.1.1. Sự không thống nhất trong việc áp dụng pháp luật giao dịch bảo đảm
tiền vay 52
3.1.2. Sự không thống nhất giữa các văn bản pháp luật liên quan đến giao
dịch bảo đảm tiền vay và tài sản bảo đảm 52
3.1.3. Những khoảng trống của pháp luật về giao dịch bảo đảm. 52
3.2. Pháp luật thế chấp tài sản bảo đảm tại tổ chức tín dụng – Vướng
mắc, bất cập và giải pháp hoàn thiện 53
3.2.1. Chưa triệt để thừa nhận các nguyên tắc của vật quyền bảo đảm 53
3.2.2. Chủ thể trong giao dịch thế chấp tài sản bảo đảm 55
3.2.3. Người thứ ba trong giao dịch thế chấp tài sản bảo đảm 58
3.2.4. Tài sản thế chấp 61
3.2.5. Hiệu lực của giao dịch thế chấp tài sản 68
3.2.6. Đăng ký giao dịch thế chấp tài sản bảo đảm 68
3.2.7. Xử lý tài sản thế chấp 69
3.2.8. Trách nhiệm trả nợ sau khi xử lý tài sản thế chấp 79
3.2.9. Về công khai thông tin giao dịch bảo đảm 80
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
chính Dầu khí (PVFC) để cho ra đời Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại
chúng (PVComBank) và vụ việc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam
Thịnh vượng (VPBank) mua lại Công ty TNHH MTV Tài chính Than -
Khoáng sản Việt Nam (CMF) từ Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản
Việt Nam (TKV).
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ xấu cao như vậy
chính là những rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng, trong đó nổi lên hàng đầu
là những rủi ro xuất phát từ các giao dịch bảo đảm tiền vay như: Cán bộ tín
dụng không nắm rõ các quy định của pháp luật, không nghiêm túc thực hiện
các quy định, quy trình cho vay của ngân hàng; hay những rủi ro phát sinh từ
chính những quy định của pháp luật hiện hành về giao dịch bảo đảm tiền
vay,…. Đã có rất nhiều cán bộ tín dụng tại các ngân hàng, công ty tài chính
rơi vào vòng lao lý cũng chỉ vì “rủi ro giao dịch bảo đảm tiền vay” và thực tế
đã chứng minh vai trò quan trong của giao dịch bảo đảm đối với nghiệp vụ
cấp tín dụng tại các tổ chức tín dụng.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, giao dịch bảo đảm là một
dạng hợp đồng phụ. Tuy nhiên không giống như các hợp đồng phụ khác có
hiệu lực phụ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng chính, giao dịch bảo đảm có
hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng chính. Có nghĩa rằng, nếu hợp đồng
chính vô hiệu nhưng giao dịch bảo đảm vẫn bảo đảm tuân thủ pháp lý về mặt
nội dung và hình thức, thì vẫn có hiệu lực. Thực tế hoạt động tín dụng tại các
tổ chức tín dụng đã chứng minh vai trò quan trọng của các giao dịch bảo đảm
bởi nếu hợp đồng chính là hợp đồng tín dụng vô hiệu thì ngân hàng chỉ mất
tiền lãi mà vẫn thu được tiền cho vay gốc nhưng nếu hợp đồng bảo đảm vô
hiệu thì ngân hàng mất cả gốc lẫn lãi.
7
Để có thể hạn chế được tối đa những rủi ro tiềm ẩn trong các giao dịch
bảo đảm nói chung và giao dịch thế chấp tài sản nói riêng, cần khắc phục
những nguyên nhân dẫn đến những rủi ro này, một trong số đó là hoàn thiện
hệ thống pháp luật về giao dịch bảo đảm tiền vay tại tổ chức tín dụng.
thiện nhằm hạn chế tối đa những rủi ro. Cụ thể như sau:
- Phân tích làm rõ vai trò của giao dịch thế chấp tài sản bảo đảm tiền
vay đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng;
- Thực trạng áp dụng các quy định pháp luật thế chấp tài sản bảo đảm
tiền vay tại tổ chức tín dụng;
- Những rủi ro tiềm ẩn từ các quy định pháp luật về thế chấp tài sản bảo
đảm tiền vay tại các tổ chức tín dụng và những nguyên nhân dẫn đến rủi ro
này, từ đó đề ra các giải pháp khắc phục.
1.2.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Việc nghiên cứu được thực hiện từ chính hoạt động tín dụng tại các
Ngân hàng Thương mại Cổ phần và các Công ty tài chính với những số liệu
thống kê từ năm 2010 đến nay để phân tích, làm rõ vai trò của giao dịch thế
chấp tài sản bảo đảm tiền vay cũng như thực trạng pháp luật thế chấp tài sản
bảo đảm tiền vay tại các tổ chức tín dụng.
1.3. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Hiện tại đã có rất nhiều bài viết của các tác giả về các rủi ro trong các
giao dịch thế chấp tài sản bảo đảm tiền vay tại tổ chức tín dụng nhưng đa
phần các bài viết đó chỉ đề cập đến một khía cạnh nhất định trong loại giao
dịch này. Do vậy, các tác giả mới chỉ đưa ra các bất cập và giải pháp hoàn
thiện từ một góc độ cụ thể như: Với một loại tài sản thế chấp hay một chủ thể
9
nhất định nào đó,…mà chưa tổng hợp, phân tích đầy đủ các vấn đề liên quan
để đưa ra giải pháp tổng thể. Ví dụ như:
- Nguyễn Thị Nga (2009), Pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất ở
Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Luật học;
- Phan Hồng Điệp (2012), Pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất
trong các tổ chức tín dụng - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp
luật, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội;
- Phùng Văn Hiếu (2012), Thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình
- Thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng thương mại quốc tế Việt Nam - Đề xuất
Chương này tác giả nêu và phân tích làm rõ các quy định của pháp luật
về thế chấp tài sản như vấn đề hiệu lực của các giao dịch này, việc thực hiện
giao dịch thế chấp tài sản bảo đảm cũng như vấn đề xử lý tài sản thế chấp.
Đồng thời, khái quát về hoạt động của tổ chức tín dụng và vai trò của thế chấp
tài sản đối với hoạt động của tổ chức tín dụng.
Chương 3: Pháp luật về thế chấp tài sản của Việt Nam – Thực trạng và
giải pháp hoàn thiện.
Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật về thế chấp tài sản bảo
đảm và thực tiễn áp dụng trong hoạt động cấp tín dụng, tác giả phân tích
những điểm bất cập của pháp luật là nguyên nhân chính dẫn đến những rủi ro
pháp lý tiềm ẩn trong giao dịch thế chấp tài sản tại tổ chức tín dụng và đề ra
giải pháp hoàn thiện.
11
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM VÀ THẾ CHẤP TÀI SẢN
1.1. Khái niệm, đặc điểm của giao dịch bảo đảm tiền vay
1.1.1. Khái niệm giao dịch bảo đảm tiền vay
Giao dịch bảo đảm là một loại giao dịch quan trọng và đã tồn tại từ lâu
trong hệ thống pháp luật các nước trên thế giới. Tuy nhiên các hệ thống pháp
luật lại có quan niệm khác nhau về giao dịch bảo đảm. Điển hình là sự khác
nhau cơ bản giữa hệ thống pháp luật Civil Law và hệ thống pháp luật
Common Law. Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, thì các nước trong
hệ thống pháp luật Civil Law theo xu hướng hình thức: Chú trọng tới việc
phân chia giữa các hình thức bảo đảm như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh và
quy định về từng hình thức bảo đảm mà thường không đưa ra một khái niệm
chung về giao dịch bảo đảm. Do vậy, pháp luật của các nước này thường liệt
kê các biện pháp bảo đảm nên khái niệm khá hẹp, thường chỉ bao gồm các
bảo đảm mang tính chất truyền thống như cầm cố, thế chấp, ký quỹ, bảo lãnh.
Đối với các nước theo hệ thống pháp luật Common Law lại
điểm cơ bản của giao dịch bảo đảm giống như hệ thống pháp luật Common
Law mà mà chỉ liệt kê những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
tương tự như hệ thống pháp luật Civil Law.
Trước đây, theo quy định tại khoản 1, Điều 2 về “Giải thích từ ngữ”,
Nghị định số 178/1999/NĐ-CP “Về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín
dụng”, thì: “1. Bảo đảm tiền vay là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện
pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được
các khoản nợ đã cho khách hàng vay”. Kể từ thời điểm Nghị định số
13
163/2006/NĐ-CP Về giao dịch bảo đảm được ban hành đã thay thế Nghị định
số 178/1999/NĐ-CP Về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng, các văn
bản liên quan và thống nhất hóa các quy định về giao dịch bảo đảm. Nhưng
Nghị định số 163/2006/NĐ-CP Về giao dịch bảo đảm cũng không đưa ra một
định nghĩa cụ thể về biện pháp bảo đảm, mà chỉ cụ thể hóa Điều 318 về “Biện
pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự” trong Bộ luật Dân sự năm 2005
bằng cách liệt kê các biện pháp bảo đảm.
Tuy nhiên, dựa trên cách tiếp cận theo chức năng của các biện pháp bảo
đảm tiền vay, có thể đưa ra định nghĩa về giao dịch bảo đảm tiền vay như sau:
“Giao dịch bảo đảm tiền vay là sự thỏa thuận giữa Bên cho vay và Bên vay
theo các quy định của pháp luật, theo đó Bên cho vay nhận quyền đối với tài
sản của Bên vay hoặc Bên thứ ba nhằm bảo đảm việc trả nợ của Bên vay,
ngăn ngừa rủi ro, tạo dựng cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các
khoản nợ đã cho khách hàng vay”.
1.1.2.Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật Việt Nam về giao
dịch bảo đảm tiền vay
1.1.2.1. Trước ngày 01/01/2006, thời điểm có hiệu lực của Bộ luật Dân
sự năm 2005
Trước khi có Bộ luật Dân sự năm 1995, Nghị định số 17-HĐBT ngày
16/01/1990 của Hội đồng Bộ trưởng “Quy định chi tiết pháp lệnh Hợp đồng
kinh tế” mới liệt kê và định nghĩa về các biện pháp bảo đảm bao gồm thế
đổi, bổ sung các quy định này.
Các văn bản này đã giải quyết phần nào những khúc mắc của các Bên
nhận tài sản bảo đảm nói chung và các tổ chức tín dụng nói riêng với các quy
định tiến bộ về trình tự, thủ tục thiết lập bảo đảm; quyền tự do thỏa thuận cho
15
các chủ thể tham gia giao dịch được mở rộng; thứ tự ưu tiên thanh toán giữa
các loại chủ nợ khác nhau được xác định rõ hơn, quyền của tổ chức tín dụng
trong một số trường hợp cụ thể,
Mới đây nhất là Thông tư liên tịch số 01/2014/TTLT-NHNN-BXD-
BTP-BTNMT ngày 25/04/2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam, Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường Hướng dẫn thủ tục thế chấp nhà ở hình thành trong
tương lai, Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN ngày
06/06/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi
trường, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Hướng dẫn về xử lý tài
sản bảo đảm, Sự ra đời của các văn bản này cũng đã tác động lớn đến hệ
thống pháp luật về giao dịch bảo đảm nói chung và thế chấp tài sản tại các tổ
chức tín dụng nói riêng.
Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, các tổ chức tín dụng vẫn gặp phải
những khó khăn, vướng mắc liên quan đến giao dịch bảo đảm và công
chứng, Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: Việc
không thống nhất trong áp dụng các quy định pháp luật có liên quan của các
cán bộ tại tổ chức hành nghề công chứng, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm,
cơ quan tư pháp,
1.1.3.Đặc điểm của giao dịch bảo đảm tiền vay
Cũng là một dạng giao dịch theo quy định của pháp luật dân sự, giao
dịch bảo đảm tiền vay cũng có những đặc điểm chung của giao dịch dân sự và
những đặc điểm đặc thù của giao dịch bảo đảm, cụ thể như sau:
Thứ nhất, giao dịch bảo đảm tiền vay mang tính chất bổ sung cho nghĩa
vụ chính từ hợp đồng cấp tín dụng:
17
và bảo đảm an toàn cho hệ thống tín dụng cũng như bảo đảm thực hiện các
nghĩa vụ đã được giao kết giữa Bên vay và Bên cho vay.
Việc xác lập giao dịch bảo đảm tiền vay còn giúp cho quyền đòi nợ của
những chủ nợ này có thứ tự ưu tiên thanh toán cao hơn so với quyền đòi nợ
của các chủ nợ không có bảo đảm đối với tài sản đó.
Thứ năm, giao dịch bảo đảm tiền vay có hiệu lực không phụ thuộc vào
hợp đồng chính.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, giao dịch bảo đảm là một
dạng hợp đồng phụ, tuy nhiên không giống như các hợp đồng phụ khác có
hiệu lực phụ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng chính, giao dịch bảo đảm có
hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng chính. Có nghĩa rằng, nếu hợp đồng
chính vô hiệu thì giao dịch bảo đảm vẫn có hiệu lực pháp lý. Như vậy, trong
quan hệ tín dụng, nếu hợp đồng tín dụng vô hiệu thì tổ chức tín dụng chỉ mất
lãi nhưng nếu hợp đồng bảo đảm vô hiệu, thì tổ chức tín dụng sẽ mất cả gốc
lẫn lãi.
1.2. Phân loại giao dịch bảo đảm tiền vay
Có nhiều cách phân loại giao dịch bảo đảm tiền vay dựa trên những tiêu
chí khác nhau. Cụ thể như sau:
1.2.1.Bảo đảm đối nhân và bảo đảm đối vật
Theo một số nghiên cứu, pháp luật của các nước trong hệ thống Civil
Law thường phân biệt những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thành hai
nhóm: Các biện pháp bảo đảm đối vật và các biện pháp bảo đảm đối nhân. Sự
phân biệt này nhằm xác định rõ quyền, nghĩa vụ của các bên và từ đó có
phương pháp điều chỉnh các mối quan hệ có liên quan một cách tương ứng.
Bảo đảm tiền vay đối vật là hình thức bảo đảm mà quyền của tổ chức
tín dụng được xác lập trực tiếp trên một vật cụ thể thuộc sở hữu của Bên bảo
đảm nhằm bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán của khách hàng
18
vay. Đối tượng của nó là tài sản của Bên có nghĩa vụ hoặc Bên thứ ba; tổ
Bảo lãnh là phương thức bảo đảm tiền vay mà khoản vay không được
bảo đảm bằng một tài sản. Điều 361 về “Bảo lãnh”, Bộ luật Dân sự năm 2005
quy định:
Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là Bên bảo lãnh)
cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là Bên nhận bảo lãnh) sẽ
thực hiện nghĩa vụ thay cho Bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là Bên
được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà Bên được bảo lãnh không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể
thoả thuận về việc Bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi
Bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình
[26, Điều 361].
Ở đây tổ chức tín dụng có thể chọn lựa khách hàng vay của mình, dựa
trên nhiều yếu tố khác nhau để cho khách hàng vay như: Dựa trên uy tín của
khách hàng vay, uy tín của một bên thứ ba, bảo lãnh của nhà nước,
1.3. Tài sản bảo đảm tiền vay
1.3.1.Khái niệm tài sản bảo đảm tiền vay
Như đã nêu trên, các hệ thống pháp luật khác nhau đưa ra các khái
niệm khác nhau về tài sản bảo đảm tiền vay. Theo nhiều nghiên cứu, thì: Các
nước theo hệ thống pháp luật Civil Law, về nguyên tắc, mọi tài sản đều có thể
là tài sản bảo đảm, tuy nhiên, phạm vi những tài sản này còn phụ thuộc vào
từng biện pháp bảo đảm cụ thể và việc phân định phạm vi tài sản bảo đảm chủ
yếu được thực hiện đối với hai biện pháp bảo đảm là cầm cố và thế chấp.
Đối với các nước theo hệ thống pháp luật Common Law tài sản bảo
đảm được chia chủ yếu thành động sản và bất động sản, tùy theo tính chất của
20
tài sản bảo đảm là động sản hay bất động sản mà áp dụng theo quy định pháp
luật khác nhau đối với việc thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản đó. Theo đó, phạm
vi tài sản bảo đảm được quy định rất rộng: Đối với động sản, mọi tài sản được
phép giao dịch đều có thể được sử dụng làm tài sản bảo đảm, bao gồm cả tài
sản vô hình và tài sản hữu hình, tài sản hiện có và hình thành trong tương lai.
sở hữu được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
1.3.2.Phân loại tài sản bảo đảm tiền vay
Có nhiều cách phân loại tài sản bảo đảm tiền vay tùy thuộc vào các tiêu
chí khác nhau, chẳng hạn:
1.3.2.1. Tài sản bảo đảm tiền vay hữu hình và tài sản bảo đảm tiền vay
vô hình
Tài sản bảo đảm tiền vay hữu hình là tài sản tồn tại hiện hữu của Bên
vay hoặc Bên thứ ba. Tài sản hữu hình có thể là vật, hàng hóa. Về nguyên tắc,
tổ chức tín dụng có thể nắm giữ, quản lý trực tiếp những loại tài sản này.
Tài sản bảo đảm tiền vay vô hình là những tài sản phi vật chất của Bên
vay hoặc Bên thứ ba. Tải sản vô hình có thể là quyền sở hữu công nghiệp,
quyền tác giả, quyền sử dụng đất hoặc các quyền khác. Tổ chức tín dụng có
thể cầm giữ các quyền này thông qua việc nắm giữ các giấy tờ chứng minh
quyền sở hữu, quyền sử dụng các loại tài sản này của Bên vay hoặc Bên thứ
ba.
1.3.2.2. Tài sản bảo đảm tiền vay là tài sản hiện có hoặc tài sản hình
thành trong tương lai
Tài sản bảo đảm tiền vay hiện có là tài sản bảo đảm tiền vay đang tồn
tại và thuộc sở hữu của Bên vay hoặc Bên thứ ba. Ví dụ như: Phương tiện vận
22
chuyển đã được đăng ký sở hữu, hàng hóa, nhà ở đã được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất,
Tài sản bảo đảm tiền vay hình thành trong tương lai là loại tài sản bảo
đảm tiền vay sẽ thuộc sở hữu của Bên vay hoặc Bên thứ ba trong tương lai.
Tài sản hình thành trong tương lai này không có nghĩa là nó chưa tồn tại một
cách vật chất, tài sản đó hoàn toàn có thể đã tồn tại một cách vật chất khi giao
dịch bảo đảm được xác lập, tuy nhiên quyền sở hữu của Bên bảo đảm đối với
tài sản thì lại được xác lập sau thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm tiền vay.
vượt quá phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm; đối tượng giao dịch bảo đảm tiền
vay là những lợi ích vật chất; mục đích của việc xác lập giao dịch thế chấp tài
sản là nhằm tạo cơ sở kinh tế, pháp lý để Bên có quyền (Bên nhận bảo đảm)
thu hồi nợ; hiệu lực của giao dịch thế chấp tài sản không phụ thuộc vào hợp
đồng chính.
Đồng thời, giao dịch thế chấp tài sản có điểm đặc thù so với các biện
pháp bảo đảm khác đó là: Bên thế chấp chỉ chuyển giao hồ sơ pháp lý của tài
sản thế chấp cho Bên nhận thế chấp mà không chuyển giao tài sản thế chấp.
Điều này có nghĩa rằng, Bên thế chấp vẫn được quyền quản lý, sử dụng, đầu
tư,… vào tài sản thế chấp. Đặc điểm này cũng tạo cho giao dịch thế chấp có
ưu điểm vượt trội so với các biện pháp bảo đảm khác.
1.4.3.Thế chấp tài sản tại tổ chức tín dụng
Giao dịch thế chấp tài sản để bảo đảm khoản vay tại các tổ chức tín
dụng còn mang những điểm đặc thù so với giao dịch thế chấp tại các tổ chức,
cá nhân khác như sau: