Luận cứ bào chữa cho bị cáo trần văn tuyến bị đưa ra xét xử với tội danh vi phạm quy định cho vay trong hoạt động của tổ - Pdf 32

Luận cứ bào chữa cho bị cáo Trần văn Tuyến
bị đưa ra xét xử với tội danh “Vi phạm quy
định cho vay trong hoạt động của tổ chức tín
dụng” tại phiên tòa sơ thẩm
Kính thưa Hội đồng xét xử, Kính thưa nhị vị đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố
tại phiên tòa, Tôi là Luật sư XXX, bào chữa cho bị cáo Trần Văn Tuyến, nguyên Giám
đốc Ngân hàng NN & PTNT-Chi nhánh Chợ Lớn, bị VKSND TP.HCM truy tố và Quý
Tòa đưa ra xét xử sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của tổ
chức tín dụng” theo khoản 3 Điều 179 Bộ Luật Hình sự.
Trong quá trình Quý Tòa thụ lý vụ án, tôi đã có 2 văn bản kiến nghị ngày 12-10-2009
(đối với cáo trạng số 311/VKS-P1 ngày 13-7-2009) và kiến nghị ngày 24-5-2010 (đối với
cáo trạng số 78/VKS-P1 ngày 31-3-2010). Tôi vẫn giữ nguyên các quan điểm và kiến
nghị nêu trên trong 2 văn bản nói trên. Hôm nay, sau khi nghe thẩm vấn công khai tại
phiên tòa và vị đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố đã phát biểu luận tội, tôi xin
phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo Trần Văn Tuyến như sau:
I/- Một số vấn đề về tố tụng
1- Về giám định
Tại cáo trạng số 311/VKS-P1 ngày 13-7-2009, VKSND TP.HCM qui kết Trần Văn
Tuyến với tư cách Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng NN & PTNT Chợ Lớn đã bỏ qua
nhiều quy định của Nhà nước trong việc xét duyệt, thẩm định và xét cho vay, tạo điều
kiện sơ hở cho Hà, Hòa chiếm đoạt tổng số tiền 10.597.029.300 đồng của chi nhánh Ngân
hàng NN & PTNT Chợ Lớn.
Tại cáo trạng số 78/VKS-P1 ngày 31-3-2010, VKSND TP.HCM lại kết luận Trần Văn


Tuyến tạo điều kiện sơ hở cho Hà, Hòa chiếm đoạt 3.000 lượng vàng SJC và 18 tỷ đồng
của Ngân hàng NN & PTNT chi nhánh Chợ Lớn!?
Sai biệt này là đặc biệt lớn, lại không có kết luận giám định nào làm căn cứ! Đáng lý ra
cơ quan điều tra phải trưng cầu giám định tư pháp về tài chính-kế toán đối với Cty Thành
Phát. Trong khi đó, tại Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 133-33/QĐ-PC15
(Đ8) ngày 18-01-2010, cơ quan điều tra lại chỉ yêu cầu giám định diện tích 79.652m2 đất

xử lý theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự (Điều 57).
- Bộ Luật Tố tụng Hình sự quy định: Cơ quan thanh tra khi phát hiện vụ việc có dấu
hiệu tội phạm thì phải chuyển ngay các tài liệu có liên quan và kiến nghị CQĐT, Viện
kiểm sát (VKS) xem xét khởi tố vụ án hình sự (khoản 2 Điều 26). Khi không có căn cứ
khởi tố vụ án hình sự thì CQĐT ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự và thông báo
cho cơ quan, tổ chức đã tố giác biết rõ lý do; nếu xét cần xử lý bằng biện pháp khác thì
chuyển hồ sơ cho cơ quan, tổ chức hữu quan giải quyết (khoản 1 Điều 108). Khi xét thấy
cần thiết thì CQĐT ra quyết định trưng cầu giám định (khoản 1 Điều 155).
Rõ ràng, theo pháp luật quy định chỉ có trường hợp cơ quan thanh tra phát hiện tội phạm
chuyển hồ sơ đề nghị CQĐT khởi tố, nếu không có dấu hiệu tội phạm, CQĐT sẽ trả hồ sơ
cho Thanh tra xử lý hành chính. Trường hợp CQĐT đã khởi tố vụ án, khởi tố bắt giam bị
can thì Cơ quan Thanh tra không thể nhảy vào thanh tra để cung cấp kết luận thanh tra
cho CQĐT làm căn cứ buộc tội; Cơ quan Thanh tra không phải là cơ quan giám định! Vì
vậy, việc thanh tra của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước VN là vi phạm pháp luật tố tụng,
nội dung kết luận của thanh tra thực tế cũng không ai thực hiện, nhưng đây lại là
căn cứ khởi tố và truy tố bị cáo Trần Văn Tuyến! Rất tiếc không có mặt đại diện
Thanh tra Ngân hàng Nhà Nước tại phiên tòa để làm sáng tỏ các vấn đề này.
3- Về sự liên quan của Cty TNHH Xây dựng và Thương mại 12
UBND TP.HCM đã ban hành 2 Quyết định số 6577/QĐ-UB ngày 30-12-2004 và số
635/QĐ-UB ngày 15-02-2005 cho phép Cty Thành Phát được chuyển mục đích sử dụng
đất để đầu tư xây dựng cụm dân cư và cụm công nghiệp sạch tại xã Đông Thạnh, huyện
Hóc Môn, Cty Thành Phát tự chịu trách nhiệm về nguồn vốn đầu tư và hiệu quả của dự


án. Căn cứ 2 Quyết định này, Ngân hàng NN & PTNT Chợ Lớn đã cho Cty Thành
Phát vay để thực hiện dự án. Cty Thành Phát đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/500,
đã nộp tiền chuyển mục đích sử dụng đất. Cty Thành Phát đã thế chấp cho ngân hàng
toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất (QSDĐ) và tài sản hình thành trên đất dự án. Theo kiến
nghị của CQĐT, ngày 15-12-2006, UBND TP.HCM lại ra Quyết định số 5796/QĐUBND thu hồi 2 quyết định nói trên, nhưng lại không giải quyết hậu quả nguồn vốn
của Cty Thành Phát đã đầu tư vào dự án. Vì vậy, để khắc phục hậu quả của Quyết

Cáo trạng số 311/VKS-P1 ngày 13-7-2009 kết luận: “Trần Văn Tuyến với tư cách là
Giám đốc chi nhánh Ngân hàng NN & PTNT Chợ Lớn đã bỏ qua nhiều quy định của Nhà
nước trong việc xét duyệt, thẩm định và xét cho vay, tạo điều kiện sơ hở cho Hà, Hòa
chiếm đoạt tổng số tiền 10.597.629.300 đồng của Chi nhánh Ngân hàng NN & PTNT
Chợ Lớn”.
Cáo trạng số 78/VKS-P1 ngày 31-3-2010 lại kết luận: Trần Văn Tuyến tạo điều kiện sơ
hở cho Hà, Hòa chiếm đoạt 3.000 lượng vàng SJC và 18 tỷ đồng của Ngân hàng NN &
PTNT Chợ Lớn.
Kết luận của 2 Cáo trạng trước và sau mâu thuẫn và đều không có căn cứ pháp lý. Chúng
tôi xin làm sáng tỏ 2 vấn đề sau đây:
+ Trần Văn Tuyến có vi phạm quy định của pháp luật khi quyết định cho Cty TNHH
Thành Phát vay 3.000 lượng vàng và 18 tỷ đồng hay không?
+ Quyết định cho vay này có gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng không? Chi nhánh Ngân
hàng NN & PTNT Chợ Lớn có bị Hà, Hòa chiếm đoạt 3.000 lượng vàng và 18 tỷ đồng
không?
1- Tuyến có vi phạm các quy định về cho vay hay không?
A- Các quy định về cho vay:
a) “Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng”, ban hành kèm theo
Quyết định số 1627/2001/QĐ– NHNN ngày 31-12-2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước, quy định:
- Khách hàng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp pháp của
các tài liệu gởi cho tổ chức tín dụng (Điều 14).


- Khách hàng có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ trung thực các thông tin tài liệu liên quan đến
việc vay vốn và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin, tài liệu đã cung cấp
(điểm a khoản 2 Điều 24).
b) “Quy định cho vay đối với khách hàng trong hệ thống Ngân hàng NN & PTNT
Việt Nam”, ban hành kèm theo Quyết định số 72/QĐ-HĐQT-TD ngày 31-3-2002 của
Chủ Tịch HĐQT Ngân hàng NN & PTNT Việt Nam, quy định:

- Có mức vốn tự có tham gia vào dự án đầu tư và giá trị tài sản bảo đảm đáp ứng được
một trong ba trường hợp sau:
* Có vốn tự có tối thiểu bằng 15% tổng mức vốn đầu tư.
* Có vốn tự có cộng (+) giá trị tài sản bảo đảm tiền vay tối thiểu bằng 15% tổng mức vốn
đầu tư.
* Có giá trị tài sản bảo đảm tiền vay tối thiểu bằng 15% tổng mức vốn đầu tư.
B/- Đối chiếu với thực tế quá trình xét duyệt, thẩm định và quyết định cho Cty TNHH
Thành Phát vay:
Theo cáo trạng và tài liệu trong hồ sơ đã thể hiện:
+ Căn cứ Quyết định số 6577/QĐ-UB ngày 30-12-2004 của UBND. TP.HCM cho phép
Cty Thành Phát chuyển mục đích sử dụng đất để đầu tư xây dựng cụm dân cư tại xã
Đông Thạnh, huyện Hóc Môn với diện tích 72.000 m2 , ngày 09-8-2005 Trần Thị Hà lập
phương án vay vốn đầu tư thực hiện dự án, trong đó ghi rõ:
* Tổng nhu cầu sử dụng vốn: 181.220.252.000 đồng, trong đó:
- Vốn tự có của chủ đầu tư: 139.220.252.000 đồng, chiếm khoản 76,83%.
- Nhu cầu sử dụng vốn vay: 42.000.000.000 đồng (23,17%).
Ngày 31-8-2005, Trần Thị Hà ký “Giấy đề nghị vay vốn” xin vay 42.000.000.000 đồng,
tài sản thế chấp là toàn bộ giá trị QSDĐ và tài sản trên đất dự kiến hình thành của dự án
khu dân cư (72.000m2) giá trị là 149.632.502.000 đồng.
Ngày 10-9-2005, Nguyễn Công Định lập báo cáo thẩm định ghi nhận:
- Vốn tự có, coi như tự có của Cty Thành Phát là 139.220.252.000 đồng, bằng 76,83%
tổng số vốn đầu tư.
- Cty Thành Phát có khả năng tài chính (chi phí xây dựng dở dang là 63 tỷ đồng), có
nguồn vốn tự chủ tốt (năm 2003 là 5,2 tỷ đồng, năm 2004 là 50,2 tỷ đồng), có khả năng


quản lý và kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh BĐS; đủ điều kiện xin vay 42 tỷ đồng,
đề nghị xét duyệt cho Cty Thành Phát vay 42 tỷ đồng.
Với vai trò kiểm soát báo cáo thẩm định của nhân viên tín dụng, Lưu Thị Minh Hiền
(Trưởng Phòng tín dụng) ký duyệt vào báo cáo thẩm định, chấp nhận đề xuất cho Cty

và kiến nghị của tôi: + Đánh giá: Cty Thành Phát có tình hình tài chính tốt, dự án xây
dựng cụm dân cư xã Đông Thạnh đã và đang tiến hành đền bù giải tỏa. Qua xem xét dự
án đảm bảo khả năng trả nợ. Tài sản thế chấp hình thành từ vốn vay, cán bộ tín dụng theo
dõi tiến độ dự án và quá trình hình thành tài sản để hoàn chỉnh giấy tờ tài sản, đảm bảo
tài sản hình thành từ vốn vay đúng quy định. + Kiến nghị: Đề nghị duyệt cho vay”.
Kết luận thanh tra số 231/KL-TTr.m ngày 02-7-2008 của Thanh tra Ngân hàng Nhà Nước
Chi nhánh TP.HCM đã đánh giá: Nhìn chung Chi nhánh Chợ Lớn có chấp hành quy chế
cho vay theo Quy định của Thống đốc NHNN, nhưng trong quá trình giải quyết cho vay
vẫn còn những điểm chưa đúng như đã nêu:
+ Thẩm định chưa chính xác vốn tự có;
+ Giải ngân không theo tiến độ thực hiện dự án;
+ Trong hồ sơ tài sản thế chấp, không có hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa Cty
Thành Phát và các hộ dân.
Kết luận thanh tra số 40/KL-TTr2.m ngày 15-4-2009 của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam đã đánh giá một số vi phạm quy định như sau:
+ Vi phạm quy định kiểm tra, giám sát vốn vay: trách nhiệm chính là Nguyễn Công Định.
+ Vi phạm phân loại nợ: Trách nhiệm chính là Nguyễn Công Định.
+ Vi phạm về lưu giữ hồ sơ vay: Trách nhiệm chính là Nguyễn Công Định.
Rõ ràng “những điểm chưa đúng quy định” (theo kết luận Thanh tra NHNN Chi
nhánh TP.HCM) và “một số vi phạm quy định” (theo kết luận Thanh tra NHNN
Việt Nam) đều không thuộc trách nhiệm của Giám đốc Trần Văn Tuyến, không làm
ảnh hưởng đến Quyết định cho vay, và thực tế cũng không gây hậu quả thiệt hại đặc
biệt nghiêm trọng cho ngân hàng (như phần sau chúng tôi sẽ phân tích). Do đó, cáo
trạng qui kết Trần Văn Tuyến đã bỏ qua nhiều quy định của Nhà nước trong việc xét
duyệt, thẩm định và xét cho vay, tạo điều kiện sơ hở cho Hà, Hòa chiếm đoạt tài sản ngân
hàng là không có căn cứ.


2/- Về hậu quả thiệt hại:
a) Cả 2 bản cáo trạng đều xác nhận Trần Thị Hà đã sử dụng vốn vay chi:



c) Theo kiến nghị của CQĐT, ngày 15-12-2006 UBND TP.HCM có Quyết định số
5796/QĐ-UBND thu hồi Quyết định số 6577/QĐ-UB ngày 30-12-2004 và Quyết định số
635/QĐ-UB ngày 15-02-2005, không cho Cty Thành Phát đầu tư dự án cụm dân cư và
cụm công nghiệp tại xã Đông Thạnh. Ngày 12-6-2007, UBND TP.HCM đã có văn bản số
3508/UBND-ĐT chấp thuận theo đề xuất của Sở KHĐT, giao cho Cty TNHH Xây dựng
& Thương mại 12 làm chủ đầu tư 2 cụm dự án nói trên thay cho Cty TNHH Xây dựng
Thương mại & kinh doanh nhà Thành Phát. Cty 12 tiếp tục hoàn chỉnh việc bồi thường
tái định cư, lập thủ tục giao đất để thực hiện dự án. Như vậy, Cty 12 là đơn vị kế
thừa tiếp tục thực hiện 2 dự án của Cty Thành Phát, được hưởng các quyền lợi và có
trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ của Cty Thành Phát đối với 2 dự án nói trên. Từ các
căn cứ này, ngày 15-6-2007 Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Chợ Lớn đã ký Hợp đồng
tín dụng số 29.07.01/HĐTD cho Cty 12 vay 6.300 lượng vàng SJC trong thời hạn 60
tháng để đầu tư dự án xây dựng nhà ở xã Đông Thạnh, tài sản thế chấp hình thành từ vốn
vay là toàn bộ dự án xây dựng nhà ở (bao gồm đất và tài sản gắn liền với đất trên khu đất
72.000 m2) trị giá 295 tỷ đồng, theo Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay số
29.07.01/BĐTV ngày 15-6-2007. Ngày 18-6-2007, Cty 12 đã sử dụng 4.733,329 lượng
vàng vay từ Hợp đồng này để thanh toán thay cho Cty Thành Phát số nợ 3.000 lượng
vàng, 18 tỷ đồng nợ gốc và 3,063 tỷ đồng tiền lãi phát sinh. Tại kết luận Thanh tra số
231/KL-TTr.m 02- ngày 7-2008, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP.HCM đã
kết luận: “Đến thời điểm Thanh tra, Cty Thành Phát không còn dư nợ tại Chi nhánh
Chợ Lớn”. Tại văn bản số 1394/NHNN-HCM.08 ngày 12-8-2008 gởi Thanh tra
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (BL2543), Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Chi
nhánh TP.HCM đã báo cáo: “… Chi nhánh Chợ Lớn cho Cty 12 vay để thực hiện
khu dân cư và cụm công nghiệp sạch tại xã Đông Thạnh huyện Hóc Môn là dựa vào
công văn số 3508/UBND-ĐT ngày 12-6-2007 của UBND TP.HCM chấp thuận về
nguyên tắc giao dự án khu dân cư và cụm công nghiệp sạch xã Đông Thạnh, huyện Hóc
Môn giao lại cho Công ty 12 làm chủ đầu tư dự án thay cho Cty Thành Phát. Cty 12 tiếp
tục bồi thường đất thực hiện dự án (trong đó có phần đất Cty Thành Phát đã đền

“Thứ nhất: Hiện chưa có văn bản quy định cụ thể về cho vay đảo nợ, những trường hợp
cụ thể vi phạm quy định này. Đối với việc cho vay Cty 12, NHNN cho vay theo đúng quy


định, hồ sơ cho vay đảm bảo đúng quy định tại Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN, có
tài sản bảo đảm. Đối với Cty Thành Phát đã thu hồi nợ gốc, lãi đầy đủ, Việc thu hồi nợ
của Cty Thành Phát độc lập với việc cho vay Cty 12.
Thứ hai: Việc được coi là “Đảo nợ” chỉ áp dụng trong trường hợp khách hàng vay nợ
mới để trả nợ cũ của mình tại chính ngân hàng đó hoặc ở ngân hàng khác.
Liên quan đến vụ việc tại Ngân hàng NN & PTNT Chợ Lớn, sau khi người đại diện theo
pháp luật Cty Thành Phát bị khởi tố, ngày 12-6-2007 UBND TP.HCM đã có Quyết định
3508/UBND-ĐT giao cho Cty 12 được thực hiện dự án khu dân cư và cụm công nghiệp
sạch tại xã Đông Thạnh-Hóc Môn. Thực chất Cty 12 đã nhận lại toàn bộ phần dự án đã
thực hiện trước đây của Cty Thành Phát. Trên cơ sở này, theo đề nghị của Cty 12 NHNN
Chợ Lớn đã cho Cty 12 vay 2 khoản vay là: Dự án khu nhà ở tại xã Đông Thạnh và dự án
cụm công nghiệp sạch tại xã Đông Thạnh”. Như vậy, đây chỉ là sự chuyển giao việc thực
hiện dự án và đương nhiên người nhận lại dự án (Cty 12) phải hoàn lại vốn mà đơn
vị trước đó (Cty Thành Phát) đã thực hiện, dẫn tới hành vi thu nợ của Cty Thành
Phát vì công ty này không còn được làm chủ đầu tư dự án nữa. Do vậy, đề nghị Ngân
hàng Nhà nước chấp nhận việc thu hồi nợ Cty Thành Phát, cho vay Cty 12 không phải
là việc đảo nợ.
Thứ ba: Về phía Cty Thành Phát: Đây là Cty TNHH 2 thành viên do vợ chồng bà Trần
Thị Hà làm chủ, tại thời điểm đó cả hai vợ chồng bà Hà đã bị khởi tố và hiện đang bị bắt
tạm giam.
Chính vì cả hai thành viên sở hữu công ty bị tạm giam nên UBND TP.HCM quyết định
giao lại dự án cho Cty 12 làm chủ đầu tư để tiếp tục phát triển dự án. Việc phục hồi lại nợ
không thể thực hiện được vì theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền,
Cty Thành Phát không được tiếp tục làm chủ đầu tư dự án.
Thứ tư: Kể từ ngày kết luận Thanh tra có hiệu lực (15-4-2009) ngược lại thời điểm
chuyển giao dự án giữa 2 đơn vị (15-6-2007) là 22 tháng, do thời gian dài, tài sản dự

3225/NHN0-KTNB gửi Thống đốc NHNN Việt Nam về việc giải trình và đề nghị
xem xét Kết luận Thanh tra số 40/KL-TTR2.m ngày 15-4-2009 của Thanh tra Ngân
hàng Nhà Nước, do vậy Chi nhánh phải chờ Văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của NHNN và


NHN0 & PTNT Việt Nam mới có căn cứ để thực hiện.
+ Ngày 12-6-2007 Dự án Cụm công nghiệp và dân cư tại xã Đông Thạnh, huyện Hóc
Môn do Cty Thành Phát làm chủ đầu tư được UBND TP.HCM có văn bản số
3508/UBND-ĐT chuyển đổi chủ đầu tư, giao cho Cty XD&TM 12 làm chủ đầu tư và tiếp
tục thực hiện dự án như lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, hoàn chỉnh việc bồi
thường tái định cư, lập thủ tục thu hồi, giao đất để thực hiện dự án.
+ Thực hiện việc chuyển đổi chủ đầu tư, Cty 12 nhận lại dự án của Cty Thành Phát và đề
nghị NH. Chợ Lớn tiếp tục tài trợ dự án. Ngày 18-6-2007, Chi nhánh thu nợ của Cty
Thành Phát do dự án đã chuyển cho Cty 12 tiếp tục đầu tư. Từ ngày thu hết nợ (18-62007) đến ngày kết luận thanh tra có hiệu lực (15-4-2009) là 22 tháng, tài sản dự án, công
nợ đã có nhiều thay đổi sau khi chủ đầu tư mới nhận lại dự án nên việc phục hồi lại nợ
vay là khó khăn. Hơn nữa, việc phục hồi lại nợ không thể thực hiện được vì theo quyết
định của cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền, Cty Thành Phát không được tiếp tục
làm chủ đầu tư dự án.
+ Tại thời điểm kết luận thanh tra có hiệu lực (15-4-2009), người đại diện theo pháp luật
của Cty Thành Phát và thành viên thứ 2 của Cty (Cty TNHH 2 thành viên) đang bị tạm
giữ để điều tra vụ án do đó việc phục hồi lại nợ đối với Cty không thể thực hiện được.
Việc cho vay đối với Cty Thương mại 12 của ngân hàng là đảm bảo, phù hợp với quy
định của NHNN và NHN0 & PTNT Việt Nam.
Theo quy định của Luật Thanh tra, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có kết luận
thanh tra, thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước cùng
Rõ ràng, kết luận số 40/KL-TTR2.m ngày 15-4-2009 của Thanh tra NH Nhà nước về việc
phục hồi nợ của Cty Thành Phát chẳng những vi phạm Luật Thanh tra, Bộ Luật tố tụng
Hình sự như đã phân tích trên, mà còn không phù hợp thực tế nên đến nay không thể thực
hiện được. Sự thực đến thời điểm 18-6-2007 Cty Thành Phát không còn nợ ngân hàng
nên việc quy kết của cáo trạng là hoàn toàn không có căn cứ.

Điểm c: Trường hợp đất bị thu hồi được Nhà nước giao cho người khác, thì người
được giao đất có trách nhiệm trả cho người bị thu hồi đất.
+ Khoản 5: Trường hợp thu hồi đất mà người bị thu hồi đất đã thế chấp bằng QSDĐ thì
quyền lợi của người nhận thế chấp được giải quyết theo Điều 65 Nghị định này.


Điều 65 quy định về xử lý quyền sử dụng đất đang thế chấp khi Nhà Nước thu hồi đất
như sau:
+ Khoản 3: Đất đang thế chấp mà thuộc trường hợp bị thu hồi theo quy định tại Điều 38
Luật Đất đai thì Nhà nước thu hồi đất; Hợp đồng thế chấp bị chấm dứt. Bên thế chấp phải
hoàn trả khoản vay cho bên nhận thế chấp theo quy định của pháp luật về dân sự (điểm
a).
Căn cứ các quy định trên đây, để giải quyết hậu quả của Quyết định thu hồi đất số
5796/QĐ-UBND ngày 15-12-2006, chỉ có 2 giải pháp:
- UBND TP.HCM xuất tiền ngân sách Nhà nước trả lại cho Cty Thành Phát để Cty Thành
Phát trả nợ vay ngân hàng. Giải pháp này không thể thực hiện được vì đây là đất dự án do
Cty Thành Phát chuyển nhượng lại của dân.
- Giao lại cho đơn vị khác tiếp tục đầu tư, đơn vị này có trách nhiệm hoàn trả lại giá trị
đầu tư cho Cty Thành Phát, để Cty Thành Phát trả nợ ngân hàng. Đây là giải pháp duy
nhất và trình tự thủ tục để UBND TP chuyển giao dự án cho Cty TNHH XD&TM 12 đã
được thực hiện như sau:
* Ngày 17-01-2007, Cty TNHH XD&TM 12 có tờ trình số 25/TT-CT xin được nhận 2 dự
án của Cty TNHH Thành Phát và cam kết có trách nhiệm nhận nợ hoặc thanh toán cho
ngân hàng đối với khoản nợ mà Cty Thành Phát còn nợ Chi nhánh NHNN & PTNT Chợ
Lớn.
* Ngày 13-02-2007 NHNN Việt Nam-Chi nhánh TP.HCM có văn bản số 207/NHNNHCM08 đề nghị UBND TP.HCM chuyển giao dự án cho doanh nghiệp có đủ uy tín, có
khả năng tài chính để tiếp tục thực hiện dự án hoàn trả vốn ngân hàng.
* Ngày 12-3-2007, UBND TP.HCM có văn bản số 1419//UBND-ĐT về dự án Cụm công
nghiệp và dân cư của Cty TNHH XDTMKD nhà Thành Phát tại huyện Hóc Môn, nội
dung như sau: “Giao Sở KHĐT chủ trì phối hợp với Sở TNMT làm việc với Cty TNHH

án nói trên. Việc làm này là cần thiết, nhằm khắc phục hậu quả của Quyết định thu hồi
đất số 5796/QĐ-UBND ngày 15-12-2006 của UBND TP.HCM, hoàn toàn phù hợp quy
định của pháp luật về đất đai – đầu tư – dân sự; ý kiến của Ngân hàng NN Chi nhánh
TP.HCM tại văn bản số 207/NHNN-HCM-08 ngày 13-02-2007 (đề nghị chuyển giao dự
án cho doanh nghiệp khác tiếp tục thực hiện để hoàn trả vốn cho ngân hàng) và chủ


trương của UBND TP.HCM tại văn bản số 1419/UBND-ĐT ngày 12-3-2007 ghi rõ:
“Xét… văn bản số 819/NHN0CL-TP ngày 20-01-2007 của Chi nhánh Ngân hàng
NN&PTNT Chợ Lớn về chuyển giao dự án của Cty TNHH Thành Phát cho Cty TNHH
XD&TM 12 thực hiện; đề nghị của Cty TNHH XD&TM 12 về xin nhận thực hiện dự án
của Cty TNHH Thành Phát tại văn bản số 25/TT-CT ngày 17-01-2007.”
4/-Về giá trị tài sản thế chấp
Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 133-33/QĐ-PC15(Đ8) ngày 18-01-2010
của Cơ quan CSĐT, trưng cầu Chi nhánh Miền Nam-Cty CP. Định giá và Dịch vụ tài
chính VN giám định diện tích 79.652m2 đất theo 33 Giấy CNQSDĐ của các hộ dân có
giá trị là bao nhiêu tiền theo giá thị trường. Loại đất theo 33 Giấy CNQSD đất này là đất
nông nghiệp trồng cây hàng năm.
Trong khi đó, toàn bộ diện tích đất này đã không còn là đất nông nghiệp của các hộ dân,
vì đã được chuyển nhượng cho Cty Thành Phát, Cty Thành Phát đã đền bù giải tỏa, nộp
thuế chuyển QSDĐ, tiền chuyển mục đích sử dụng đất… đã được UBND TP.HCM có
Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng khu dân
cư và cụm công nghiệp, đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/500.
Luật Đất đai năm 2003 quy định:
- Căn cứ để xác định loại đất trên thực địa: Việc xác định loại đất trên thực địa căn cứ
theo Quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền (khoản 2 Điều 14).
- Khi chuyển mục đích sử dụng đất thì chế độ sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người
sử dụng đất đất được áp dụng theo loại đất sau khi chuyển mục đích sử dụng đất
(khoản 3 Điều 36).

của UBND TP.HCM và kết luận thanh tra số 40/KL-TTR2.m ngày 15-4-2009 của Thanh
tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kiến nghị phục hồi nợ của Cty Thành Phát. Bản thân
kiến nghị này của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước mâu thuẫn với Quyết định của UBND
TP.HCM, không phù hợp quy định pháp luật và thực tế không thể nào thực hiện được.
Hậu quả của quyết định thu hồi đất số 5796/QĐ-UBND ngày 15-12-2006 của UBND
TP.HCM đã được khắc phục. Do đó, không có căn cứ để qui kết Trần Văn Tuyến phạm
tội.


Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 107, khoản 1 Điều 227 Bộ Luật tố tụng Hình sự, đề nghị
Hội đồng xét xử tuyên bố Trần Văn Tuyến không phạm tội và trả tự do cho bị cáo
ngay tại phiên tòa.
Trân trọng cảm ơn Quý Tòa, Quý Viện.
Người bào chữa
Luật sư XXX
(VPLS Luật sư YYY)

(SUNLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên
truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích
thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông
tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status