Pháp luật về hoạt động bao thanh toán của tổ chức tín dụng ở Việt Nam hiện nay - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ THU TRANG
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN CỦA
TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ THU TRANG


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 2
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 5
LỜI MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Phạm vi nghiên cứu 3
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 3
5. Tình hình nghiên cứu và tính mới của kết quả luận văn 3
6. Bố cục của đề tài 4
CHƢƠNG 1- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG BAO
THANH TOÁN CỦA TỐ CHỨC TÍN DỤNG 5
1.1. Những vấn đề chung về bao thanh toán 5
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm 5

1.1.2. Lợi ích của các bên khi sử dụng bao thanh toán 12
1.1.3. Các loại hình bao thanh toán 20

1.2. Sự cần thiết và nhận diện mô hình pháp luật điều chỉnh quanhệ bao

2.3. Một số khó khăn vƣớng mắc trong pháp luật, nghiệp vụ bao thanh
toán của tổ chức tín dụng ở Việt Nam 59
2.3.1. Một số bất cập trong Quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN và Quyết
định số 30/2008/QĐ-NHNN 59

2.3.2. Nhận thức về bao thanh toán còn tương đối mới mẻ 61

2.3.3. Chi phí bao thanh toán khá cao gây e ngại cho các doanh nghiệp 61

2.3.4. Sản phẩm bao thanh toán chưa có sức hấp dẫn đối với khách hàng
61

2.3.5. Hạn chế của trình độ hiểu biết về luật pháp, điều ước và tập quán
quốc tế 62

2.3.6. Quan hệ với thị trường nước ngoài còn hạn chế 63

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 64
CHƢƠNG 3 - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ
PHÁP LUẬT VÀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN CỦA TỔ CHỨC
TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM 65
3.1. Đánh giá những thuận lợi để phát triển hoạt động bao thanh toán ở
Việt Nam hiện nay 65
3.1.1. Bao thanh toán nội địa 65

3.1.2. Bao thanh toán quốc tế 66

3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt
động bao thanh toán ở nƣớc ta 68
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật 68

NHTM
:
Ngân hàng thương mại
NHTMCP
:
Ngân hàng thương mại cổ phần
NK : Nhập khẩu
TSBĐ
:
Tài sản bảo đảm
T/T : Telegraphic Transfer (Chuyển tiền bằng điện)
XK : Xuất Khẩu
DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1. Doanh thu của BTT nước ta từ năm 2005 đến năm 2012
(đơn vị Triệu EUR)…………………………………………………………60
Biểu đồ 2.2. Doanh thu BTT nội địa và BTT quốc tế từ năm 2005 đến
năm 2012 (đơn vị Triệu EUR)…………………………………………… 61

được xem như một hình thức trợ vốn cho người bán hàng nhằm đảm bảo quyền lợi cũng như nguồn vốn luân chuyển để tiếp tục sản xuất, tránh tình
trạng ứ đọng vốn làm giảm khả năng kinh doanh của bên bán hàng. Với hình
thức cấp tín dụng mới mẻ này, cho phép bên bán hàng có được những quyền
lợi nhất định.
Tuy nhiên, hình thức bao thanh toán manh nha xuất hiện ở nước ta từ
đầu thập niên 90 nhưng phải đến năm 2004 mới chính thức hoạt động ở Việt
Nam sau khi Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước ban hành Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức
tín dụng có hiệu lực, đến nay hình thức này còn khá mới và lạ lẫm đối với
nhiều doanh nghiệp cũng như người dân Việt Nam. Thêm vào đó, các quy
định của pháp luật về phương thức này còn gặp nhiều hạn chế. Vì vậy, sau
khi tìm hiểu tôi xin mạnh dạn nghiên cứu về vấn đề bao thanh toán với đề tài:
“Pháp luật về hoạt động bao thanh toán của tổ chức tín dụng ở Việt Nam
hiện nay”.
Với trình độ và nhận thức còn hạn chế, đề tài sẽ còn rất nhiều khuyết
điểm, do đó, kính mong Quí thầy cô và các bạn cùng tham gia góp ý để đề tài
được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn./.
2. Mục đích nghiên cứu
Một là, trung nghiên cứu làm rõ lý luận về hoạt đông bao thanh toán
như nguồn gốc, bản chất, quy tắc hoạt động của bao thanh toán. Đây là nền
tảng quan trọng để thực hiện và phát triển hoạt động dịch vụ bao thanh toán ở
nước ta nói riêng và trên thế giới nói chung. Đồng thời, tập trung nghiên cứu
tình hình phát triển hoạt động bao thanh toán của tổ chức tín dụng trên thế
giới nói chung và Việt Nam nói riêng, từ đó đưa ra được những bài học kinh
nghiệm áp dụng vào nước ta.
Hai là, căn cứ lý luận về bao thanh toán và pháp luật về bao thanh toán


hình thực hiện bao thanh toán ở Việt Nam và một số giải pháp để đưa sản
phẩm bao thanh toán ứng dụng vào Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt
Nam” của tác giả Nguyễn Thái Bảo Luân, Tuy nhiên, các tác giả thường
tập trung nghiên cứu nghiệp vụ kinh tế về bao thanh toán của các ngân hàng
thương mại ở nước ta mà chưa chú trọng đến pháp luật điều chỉnh hoạt động
này ở Việt Nam. Trong khi hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh về
nghiệp vụ này còn nhiều hạn chế, chưa thực sự linh động và nhất quán. Chính
vì thế, ở đề tài này tác giả muốn tìm hiểu một cách thống nhất tạo cơ sở tiền
đề nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về nghiệp vụ bao thanh toán.
Kết quả nghiên cứu chủ yếu của luận văn là:
Thứ nhất, hệ thống hóa và làm rõ lý luận về bao thanh toán và pháp
luật về bao thanh toán trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm khoa học và kinh
nghiệm xây dựng và thi hành pháp luật về bao thanh toán ở một số nước trên
thế giới.
Thứ hai, đánh giá thực trạng pháp luật về bao thanh toán ở Việt Nam,
làm rõ những bất cập, hạn chế và nguyên nhân cần khắc phục.
Thứ ba, xác định những quan điểm chung và đề xuất giải pháp hoàn
thiện pháp luật về bao thanh toán ở Việt Nam.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Nội dung, Kết luận đề tài được chia làm 3
chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hoạt động bao thanh toán của tổ
chức tín dụng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động bao thanh
toán của tổ chức tín dụng ở Viêt Nam.
Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu 5
quả về nghiệp vụ bao thanh toán của tổ chức tín dụng.

triển từ vai trò duy nhất với chức năng marketing thành đóng hai vai trò vừa
có chức năng marketing vừa có chức năng tài chính.
Đến cuối thế kỷ 19, một sự thay đổi quan trọng trong thế giới thương
mại đã xảy ra. Mỹ phát triển thành một quốc gia chủ quyền và trở nên ít bị
phụ thuộc vào hàng hóa nước ngoài. Sự phát triển của ngành công nghiệp
trong nước là do dân số và lực luợng lao động trong nước tăng rất nhanh, tài
nguyên thiên nhiên dư thừa, và sự áp đặt biểu thuế gắt gao đối với hàng hóa
nước ngoài. Đồng thời, những nhà sản xuất Mỹ phát triển đội ngũ kinh doanh
(marketing) của mình và vì vậy, nhu cầu chức năng marketing mà trước đây
các đại lý BTT thường thực hiện giảm đi. Tuy nhiên, môt lần nữa, các đại lý
BTT lại phát triển và điều chỉnh theo nhu cầu của nền kinh tế mới trong nước,
tập trung vào tín dụng, thu nợ, kế toán và các chức năng tài chính (thường là
thông báo cho người mua việc bán các khoản phải thu). Việc giao cho các đại
lý BTT thực hiện các chức năng này cho phép các nhà sản xuất ngành dệt của
Mỹ tập trung vào sản xuất và tiếp thị trong thời kỳ phát triển rất nhanh này.
Khi các nhà sản xuất Mỹ mở rộng vào đầu thế kỷ 20 sang các sản phẩm may
mặc và phụ kiện, đồ nội thất và thảm thì các đại lý BTT của Mỹ cũng mở
rộng chuyên môn và dịch vụ sang ngành công nghiệp này.
Đến giữa thế kỷ 20, BTT của Mỹ phát triển sang những ngành công
nghiệp mới đang phát triển như điện, hoá chất, và sợi tổng hợp. Ngày nay, để
làm dịu bớt nhu cầu kiểm soát hàng hóa về mặt vật lý, BTT đã mở rộng sang
nhiều ngành nghề khác như giao nhận, cung cấp nhân sự tạm thời, quảng cáo,
thiết kề đồ họa, Tuy có những tình cảnh đặc biệt này, nhưng chúng ta cũng 7
sẽ thấy một số lượng giới hạn các đại lý BTT cung cấp những dịch vụ của
mình trong những ngành công nghiệp có ảnh hưởng liên quan. [3]
Từ khi manh nha xuất hiện đến nay, hoạt động BTT đã trải qua nhiều
thế kỷ tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, đến năm 1963, cơ quan kiểm soát tiền

bao thanh toán các khoản phải thu phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng
hóa/dịch vụ giữa người bán và người mua hàng. Đơn vị bao thanh toán phải
thực hiện ít nhất hai trong bốn chức năng sau:
- Tài trợ cho bên bán bao gồm các khoản vay và thanh toán trước.
- Quản lý các tài khoản liên quan tới các khoản phải thu.
- Thu hộ các khoản phải thu.
- Bảo hiểm rủi ro không thanh toán của con nợ. [17]
Như vậy, so với định nghĩa của Quy tắc chung về Bao thanh toán quốc
tế của Hiệp hội bao thanh toán quốc tế thì Công ước UNIDROIT bổ sung
thêm một chức năng nữa của bao thanh toán là tài trợ cho người bán, bao gồm
việc cho vay lẫn việc ứng tiền thanh toán trước.
Theo Từ điển kinh tế (Dictionary of Economic - Christopher Pass &
Bryan Lones) th ì bao thanh toán là một sự dàn xếp tài chính, qua đó một
công ty tài chính chuyên nghiệp mua lại các khoản nợ của một công ty với số
tiền ít hơn giá trị của khoản nợ đó. Lợi nhuận phát sinh từ sự chênh lệch giữa
tiền thu được của số nợ đã mua và giá mua thực tế của món nợ đó. Lợi ích của
công ty bán nợ là nhận được tiền ngay thay vì phải chờ đến lúc con nợ trả nợ
hơn nữa lại tránh được những phiền toái và các chi phí trong việc theo đuổi
các con nợ chậm trả. [15] 9
Khái niệm này có nội hàm hạn hẹp hơn các khái niệm trên do chưa chỉ
hết được các chức năng của bao thanh toán do đó chưa thấy được hết các tiện
ích mang lại cho người sử dụng bao thanh toán.
Còn theo Từ điển thuật ngữ Ngân hàng - Hans Klaus cho rằng bao
thanh toán là một loại hình tài trợ dưới dạng tín dụng chuyển nhượng nợ. Một
công ty chuyển toàn bộ hay một phần khoản nợ cho một công ty tài chính
chuyên nghiệp (công ty mua nợ, thông thường là một công ty trực thuộc ngân
hàng). Công ty này đảm nhận việc thu các khoản nợ và theo dõi các khoản

hiện nay tại Việt Nam. Khái niệm này đã mở rộng phạm vi chủ thể trong
BTT, không chỉ gói gọn về “bên mua hàng” mà cả “bên bán hàng” đều có thể
là chủ thể đề nghị, đồng thời đã nêu rõ bản chất của BTT.
Mặc dù có nhiều cách diễn đạt song qua các khái niệm ở trên ta thấy
được một số nét đặc trưng của hoạt động bao thanh toán.
i, Đối tượng của bao thanh toán là các khoản phải thu phát sinh từ việc
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
ii, Trong hoạt động bao thanh toán thông thường sẽ có sự xuất hiện của
ít nhất ba bên là: đơn vị bao thanh toán là NHTM, khách hàng được NHTM
bao thanh toán (bên bán) và con nợ của tổ chức được bao thanh toán (bên
mua). Đối với hoạt động bao thanh toán xuất nhập khẩu, mối quan hệ này sẽ
phức tạp hơn do có hai đơn vị bao thanh toán sẽ đứng ra thực hiện bao thanh
toán, một đơn vị ở nước của nhà xuất khẩu và một đơn vị ở nước của nhà
nhập khẩu. Ngoài ra, khi một khách hàng ký kết hợp đồng bao thanh toán họ
sẽ bán không phải một mà là một số các khoản phải thu từ nhiều khách hàng 11
khác nhau nên hoạt động bao thanh toán có thể có rất nhiều con nợ của tổ
chức được bao thanh toán.
iii, Trong hoạt động bao thanh toán miễn truy đòi, toàn bộ rủi ro của
việc thu tiền hàng từ bên mua đã được chuyển giao từ bên bán sang đơn vị
bao thanh toán.
1.1.1.2. Đặc điểm của bao thanh toán
Dịch vụ bao thanh toán thông thường sẽ có sự xuất hiện của ít nhất ba
bên:
* Đơn vị bao thanh toán: là ngân hàng, công ty tài chính chuyên thực
hiện việc mua bán nợ và các dịch vụ khác liên quan đến mua bán nợ.
Trong nghiệp vụ bao thanh toán quốc tế sẽ có hai đơn vị bao thanh toán, một
đơn vị bao thanh toán tại nước của nhà xuất khẩu và một đơn vị bao thanh


yêu
cầu tài
trợ mang tính thời vụ. Người bán cũng loại trừ được những khoản nợ xấu.
Nguyên nhân là do đơn vị BTT luôn dự trù một khoản tổn thất tín dụng
phòng trừ khả năng không trả được nợ của bên mua, và có trách nhiệm tư
vấn những rủi ro trong quan hệ mua bán cho bên bán, theo dõi sổ sách thu
hồi công nợ, Vì vậy, bên bán sẽ được bảo vệ khỏi những rủi ro nợ xấu.
Việc này rất có lợi cho bên bán hàng khi quan hệ mua bán được thực hiện ra
khỏi phạm vi một quốc gia hay là đối với những ngành công nghiệp mới.
Người bán có thể giảm chi phí quản lý trong việc theo dõi sổ sách công nợ.
BTT đánh đổi chi phí cố định cao do duy trì hoạt động dự phòng tín dụng và
thu nợ, lấy chi phí bất biến dựa trên khối lượng doanh thu. Ngoài ra, các đơn
vị BTT còn có thể lập các báo cáo quản lý thu nợ và bán hàng mà không
phải khách hàng được bao thanh tóan nào cũng có thể thực hiện được.Người
bán có được những lợi thế nhất định trong kinh doanh và quan hệ thương
mại. Khoản ứng trước của đơn vị BTT trong việc cấp tín dụng và dự trù rủi
ro tín dụng thường cho phép khách hàng giao thêm nhiều hàng hóa cho
người mua hơn. Cũng như vậy, khách hàng có thể chọn lựa gia hạn thời
gian bán hàng cho người mua, cho phép họ tiến hành công việc kinh doanh 13
mới hoặc là tiến hành nhiều phi
vụ
kinh doanh hơn với các khách hàng hiện
tại. Điều đó đồng nghĩa với việc bên bán có thể tận dụng cơ hội kinh doanh
của mình một cách hiệu quả nhất, tạo được nhiều lợi thế trong kinh doanh
và nâng cao tầm ảnh hưởng, uy tín của mình đối với các đối tác. Người bán
có thể giải quyết được nhu cầu cấp bách về vốn nhưng bị hạn chế về tài sản

1.1.2.2. Đối với người mua/nhà nhập khẩu
Hiện nay L/C vẫn là phương thức thanh toán được chấp nhận phổ
biến nhất trên toàn cầu,
bảo

đảm
rằng nhà xuất khẩu sẽ cung cấp hàng đúng như quy định trong L/C và nhà nhập khẩu sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán
của mình. Nhưng nếu hàng đến chậm hay ghé vào nơi không định trước,
không theo lệ thường thì L/C sẽ gây khó khăn rất lớn cho nhà nhập khẩu.
Nói tóm lại, sử dụng bao thanh toán quốc tế, nhà nhập khẩu có những lợi ích
sau đây:
- Được mua chịu hàng dễ dàng; không cần phải mở L/C;
- Tăng sức mua hàng mà vẫn không vượt quá hạn mức tín dụng cho
phép;
- Có thể nhanh chóng đặt hàng mà không bị trì hoãn, không tốn phí
mở L/C, hay phí thương lượng;
- Các cản ngại về ngôn ngữ được giải quyết bởi đơn vị bao thanh
toán, [4]
1.1.2.3. Đối với đơn vị bao thanh toán
Thực hiện nghiệp vụ BTT, các khoản tiền thu được như lãi suất,
phí, là một phần quan trọng giúp doanh thu hoạt động hàng năm của đơn
vị thực hiện BTT tăng lên nhanh chóng. Việc gia tăng doanh thu đồng
nghĩa với việc gia tăng lợi nhuận hoạt động. Trên cơ sở đó, các quỹ trích
lập được gia tăng và nguồn vốn họat động ngày càng được mở rộng. Đây
là điều rất quan trọng đối với các định chế tài chính trung gian. Trên cơ sở
nguồn vốn hoạt động gia tăng, dòng tiền mặt của
đơn


thu,
lưu giữ sổ cái bán hàng và tiến hành thu nợ
các hóa đơn bán hàng chưa thanh toán. Nếu thực hiện hoạt động BTT
thường xuyên, NH có thể kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh của các
khách hàng hiện có, mở rộng quy mô hoạt động và có thể tiếp thị được
những khách hàng tiềm năng trong tương lai. [3]
* Lợi thế của bao thanh toán so với một số hình thức cấp tín dụng
khác:
- Lợi thế của bao thanh toán so với chiết khấu hóa đơn:
Bao Thanh Toán
Chiết khấu hóa đơn
Đối tượng của bao thanh toán
là các khoản phải thu.
Đối tượng của chiết khấu hóa
đơn là hối phiếu và giấy tờ có giá. Bao Thanh Toán
Chiết khấu hóa đơn
Quan hệ có sự ràng buộc của ba
bên: bên mua, bên bán,và đơn vị bao
thanh toán.
Quan hệ tài trợ mang tính độc
lập có sự ràng buộc giữa hai bên: bên
bán và bên mua.
Bên bán gửi thông báo về hợp
đồng bao thanh toán cho bên mua,
bên mua phải xác nhận đồng ý thanh
toán khoản nợ đó cho Ngân Hàng.

phí quản lý sổ sách, trong khi đó đối với nghiệp vụ bao thanh toán thì ngân
hàng trực tiếp quản lý sổ sách, theo dõi và thu khoản phải thu cho bên bán 17
hàng, vừa giảm chi phí quản lý số sách mà còn đảm bảo có thể thu hồi được
các khoản phải thu, hạn chế rủi ro tín dụng. Ngoài ra, đối với nghiệp vụ chiết
khấu hóa đơn ngân hàng không quản lý bên mua,vì người bán là người chịu
trách nhiệm cuối cùng về thu nợ từ người mua, trong khi đó đối với nghiệp vụ
bao thanh toán ngân hàng quản lý bên mua hàng chặt chẽ và ngân hàng sẽ thu
hộ tiền từ bên mua, hoặc phải chịu rủi ro tín dụng. Với khoản ứng trước có thể
đạt 80-90% giá trị khoản phải thu, nên đáp ứng nhu cầu tái sản xuất cho người
bán , tiết kiệm được thời gian, tăng nguồn vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh
doanh. Bên cạnh đó khách hàng có thể chủ động trong việc lập kế hoạch tài
chính vì dự đoán được dòng tiền vào. Chiết khấu hóa đơn tính trên giá trị khoản
phải thu, thời gian tài trợ và lãi suất tái chiết khấu nên lãi suất hiệu dụng cao
hơn lãi suất chiết khấu. Còn bao thanh toán lãi tính trên số tiền ứng trước, thời
gian tài trợ và lãi suất. Phí tính trên giá trị khoản phải thu. Chiết khấu được
quyền truy đòi theo pháp luật. Còn bao thanh toán có thể truy đòi hoặc miễn
truy đòi tùy thỏa thuận.
- Lợi thế của bao thanh toán so với đi vay thông thường:
Bao Thanh Toán
Cho vay thông thƣờng
Có với hai chủ thể gắn liền với
khoản tín dụng: Bên bán và bên mua.
Có một chủ thể gắn liền với
khoản tín dụng đó là người đi vay.
Việc cấp hạn mức tín dụng
dựa trên năng lực giữa bên bán và
bên mua.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status