Pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở việt nam hiện nay - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI
NƯỚC THẢI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

NGUYỄN THỊ THU BÌNH

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRẦN VŨ HẢI

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn cao học luật này là do chính tôi thực hiện dưới
sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Vũ Hải. Mọi số liệu, kết quả nghiên cứu đã
công bố sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn đầy đủ theo quy định. Tôi
hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu luận văn.
Tác giả

NGUYỄN THỊ THU BÌNH


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin cảm ơn TS. Trần Vũ Hải - Giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội

1.2. Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật phí bảo vệ môi trường đối
với nước thải.................................................................................................... 20
1.2.1. Khái niệm pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
....................................................................................................................... 20
1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật phí bảo vệ môi trường đối với
nước thải ...................................................................................................... 22


1.2.3. Quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở một số
quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam.............................. 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .................................................................................. 30
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP
LUẬT VỀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY................................................................................................. 32
2.1. Thực trạng pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở Việt
Nam hiện nay ................................................................................................... 32
2.1.1. Sơ lược sự hình thành và phát triển quy định của pháp luật Việt
Nam về phí BVMT đối với nước thải .......................................................... 32
2.1.2. Quy định về đối tượng chịu phí, đối tượng không chịu phí BVMT
đối với nước thải ......................................................................................... 35
2.1.3. Quy định về chủ thể tham gia quan hệ pháp luật phí BVMT đối
với nước thải ................................................................................................ 38
2.1.3.1. Các cơ quan có thẩm quyền trong việc ban hành, quản lý và thu
phí BVMT đối với nước thải .................................................................... 39
2.1.3.2. Người nộp phí ............................................................................... 43
2.1.4. Quy định về mức thu phí, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí
BVMT đối với nước thải ............................................................................ 45
2.1.4.1. Quy định về cách tính phí và mức thu phí .............................. 45
2.1.4.2. Quy định về quản lý và sử dụng phí ........................................ 52
2.1.4.3. Quy định về tổ chức thu phí ...................................................... 54

3.2.2. Một số giải pháp hoàn thiện quá trình thực thi pháp luật về phí bảo
vệ môi trường đối với nước thải ở Việt Nam hiện nay................................ 80
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 .................................................................................... 83
KẾT LUẬN CHUNG........................................................................................... 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 86


DANH MỤC VIẾT TẮT

BVMT

Bảo vệ môi trường

NSNN

Ngân sách Nhà nước

HĐND

Hội đồng nhân dân

UBND

Ủy ban nhân dân

TW

Trung ương



2

Tại thời điểm hiện nay, những văn bản ghi nhận và điều tiết về phí
BVMT nói chung và phí BVMT đối với nước thải nói riêng có thể kể tới: Nghị
quyết số 41/NQ-TW của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày
03/6/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa XI) về chủ
động ứng phó biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi
trường; Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020; Luật bảo vệ môi trường năm 2014, đặc biệt là Nghị định số 25/2013/NĐCP ngày 29/3/2013 của Chính phủ. Những văn bản này đã thể hiện sự quyết tâm
của Đảng, Nhà nước trong công tác BVMT nói chung và BVMT do nước thải
gây ra nói riêng. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành các quy định về phí BVMT đối
với nước thải trong thời gian qua đã bộc lộ một số hạn chế, những điểm chưa
phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý và BVMT. Do đó, việc nghiên cứu để
tiếp tục hoàn thiện công cụ kinh tế quan trọng này trong hệ thống các công cụ
kinh tế trong lĩnh vực BVMT là điều cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
BVMT là vấn đề cấp bách của mỗi quốc gia, trong đó, phí BVMT nói
chung và phí BVMT đối với nước thải nói riêng là một công cụ kinh tế quan
trọng trong việc BVMT và công tác quản lý môi trường. Đây là vấn đề thu hút
được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn, do đó, đã
có nhiều công trình nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau luận giải về vấn
đề này.
Trên thế giới, các công trình nghiên cứu về vấn đề này có thể kể đến như:
(i) ấn phẩm “OECD environmental performance reviews” của Tổ chức Hợp tác
và phát triển kinh tế OECD. Ấn phẩm đưa ra những luận cứ khá chi tiết về các
vấn đề tác động tới môi trường, từ chính sách, quản lý cho tới hoạt động bảo vệ
của các nước thành viên, trong đó có chính sách thu phí đối với nguồn gây ô
nhiễm môi trường. (ii) ấn phẩm “The U.S Experience with Economic Incentives




4

3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Với đề tài “Pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở Việt
Nam hiện nay”, tác giả tập trung nghiên cứu những quy định hiện hành của Nhà
nước về phí BVMT đối với nước thải, từ đó phân tích những quy định của pháp
luật, tìm hiểu thực tiễn thi hành những quy định này. Ngoài ra, tác giả còn tiến
hành tìm hiểu quy định về loại phí này ở một số quốc gia trên thế giới nhằm rút
ra được bài học kinh nghiệm để hoàn thiện pháp luật về phí BVMT ở Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
cơ bản sau đây:
(i) Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin;
(ii) Một số phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Phương pháp phân tích, bình luận, diễn giải, phương pháp so sánh, phương
pháp lịch sử… được sử dụng trong chương 1 khi nghiên cứu những vấn đề lý luận
về pháp luật phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
Phương pháp so sánh luật học, phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá
được sử dụng trong chương 2 và chương 3 khi tìm hiểu thực trạng pháp luật và thực
tiễn thi hành pháp luật về phí BVMT đối với nước thải nhằm (i) làm rõ những quy
định của pháp luật về vấn đề này; (ii) chỉ ra những điểm đạt được và chưa đạt được
của pháp luật để từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.
5. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực
tiễn về phí BVMT đối với nước thải ở Việt Nam hiện nay, qua đó đề ra những
phương hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này nhằm
đáp ứng tốt hơn yêu cầu BVMT thực tế đang đặt ra trong tiến trình phát triển

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP
LUẬT PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI
NƯỚC THẢI
1.1. Những vấn đề cơ bản về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
1.1.1. Khái niệm và phân loại phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
1.1.1.1. Cơ sở lý luận và pháp lý của phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Nước là khởi nguồn cho mọi sự sống và là một trong những nhu cầu
không thể thiếu với bất kì loài sinh vật nào, trong đó có con người. Chất lượng
môi trường nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe cũng như sự sống của các
loài. Tuy nhiên, hiện nay nhu cầu sống này đang dần bị đe dọa nghiêm trọng, do
lượng nước bị thâm hụt bởi được sử dụng một cách bừa bãi và không đúng mục
đích, đặc biệt là chất lượng nước đang suy giảm một cách trầm trọng. Nguyên
nhân chính của thực trạng này xuất phát từ phía chủ quan của chính con người.
Hằng ngày, một lượng nước thải lớn được xả trực tiếp hoặc gián tiếp ra ngoài
môi trường mà chưa qua xử lý gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước.
Với mục tiêu bảo vệ môi trường nói chung, giảm thiểu số lượng nước
thải chưa qua xử lý xả trực tiếp ra môi trường nói riêng, từ đó hạn chế các chủ
thể tiến hành xả thải, đồng thời, có được nguồn tài chính sử dụng để đầu tư trở
lại cho hoạt động BVMT, việc tiến hành thu phí BVMT đối với nước thải được
xác định là hữu hiệu hơn cả. Bên cạnh đó, phí bảo vệ môi trường đối với nước
thải được xác định là công cụ kinh tế chủ yếu được áp dụng ở nhiều nước trên
thế giới, đặc biệt là những nước phát triển [i] và đem lại những kết quả đáng ghi
nhận trong việc quản lý ô nhiễm do nước thải gây ra ở những nước này [27].
Ngoài việc xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn, sự ra đời của phí BVMT đối với nước


7

thải cũng được dựa trên những cơ sở lý luận và cơ sở chính trị, pháp lý nhất
định.

tới việc người hưởng thụ các thành phần môi trường phải trả tiền cho việc
hưởng thụ cũng như các tác động tiêu cực đến môi trường do việc hưởng thụ
các thành phần môi trường đó gây ra. Đồng thời, nguyên tắc này cũng đưa ra
giải pháp BVMT với một cách nhìn nhận khá mới, đó là chú trọng tới việc
phòng ngừa và cải thiện môi trường. Tuy nhiên, hiệu quả của nó lại phụ thuộc
chủ yếu vào việc xác định chính xác và hợp lý các khoản phí cũng như việc sử
dụng chúng cho các mục đích BVMT. Đối nghịch với việc người trực tiếp gây ô
nhiễm phải trả tiền, người được hưởng một môi trường đã được cải thiện cũng
phải trả một khoản phí. Mức phí tính theo đầu người càng cao và càng có nhiều
người nộp phí, thì số thu được càng nhiều. Số tiền thu được theo nguyên tắc
BPP có thể do các cá nhân muốn BVMT, hoặc do những cá nhân không phải trả
tiền cho việc thải ra các chất gây ô nhiễm trong giá thành sản phẩm nộp. Tuy
nhiên, hạn chế của nguyên tắc này đó là tiền không phải do các chủ thể gây ô
nhiễm trực tiếp trả, nên sự khuyến khích đối với việc BVMT khó có thể đạt
được hiệu quả cao nhất.
Thực chất, nguyên tắc BPP có thể được sử dụng như một định hướng hỗ
trợ nhằm đạt được các mục tiêu BVMT, cho dù đó là mục tiêu bảo vệ hay là
phục hồi môi trường. Nếu mức phí có thể được thu đủ để dành cho các mục tiêu
môi trường, thì lúc đó chính sách này có thể được coi là chính sách có hiệu quả
về môi trường [7; tr.20].
Thứ hai, về cơ sở chính trị, pháp lý. Bảo vệ môi trường luôn được xác
định là một chủ trương, chính sách lớn, là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và
Nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhằm khắc
phục hiện trạng môi trường và BVMT nói chung, cũng như xử lý nước thải và
khắc phục nguồn nước bị ô nhiễm do chất thải gây ra, Nhà nước phải tiến hành
đồng bộ cả ba biện pháp: hành chính – kinh tế - giáo dục, trong đó, biện pháp
kinh tế là quan trọng nhất. Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền, do đó, để quán
triệt các nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” và “người thụ hưởng phải





10

bảo vệ môi trường. Đây là quy định mang tính chất nguyên tắc có tác dụng chi
phối và quyết định đến các quy định của pháp luật về thu phí BVMT cụ thể.
Theo đó, mọi cá nhân, tổ chức có hành vi xả thải ra môi trường đều phải nộp
phí BVMT đối với nước thải.
Bên cạnh những văn bản pháp luật môi trường, thì việc xây dựng phí
BVMT đối với nước thải còn dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật tài
chính. Theo quy định tại Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001, thì phí là “khoản tiền
mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ
được quy định trong Danh mục phí ban hành kèm theo Pháp lệnh này” [25; Điều 2].
Chủ thể thực hiện đầu tư vốn để cung cấp các dịch vụ được phép thu phí có thể là
Nhà nước hoặc tư nhân, do đó, khoản thu về phí cũng có thể là khoản thu của Nhà
nước hoặc thu của các tổ chức, cá nhân. Danh mục phí ban hành kèm theo Pháp
lệnh bao gồm 73 khoản phí được phân thành 12 nhóm theo tính chất công việc gắn
với lĩnh vực, nhóm ngành có những đặc điểm về kinh tế kỹ thuật tương tự như nhau,
trong đó có phí BVMT.
Tuy nhiên, cách xác định về phí như trên không phù hợp với những loại phí
do tư nhân đầu tư ban đầu hoặc mua lại của Nhà nước, khi nhóm chủ thể này vẫn
phải tính theo cách thu và cách quản lý do Nhà nước quy định. Đồng thời, nhằm đẩy
mạnh xã hội hóa các dịch vụ công và phù hợp với thông lệ quốc tế, Luật Phí và lệ
phí năm 2015 đã xác định lại khái niệm về phí như sau: “Phí là khoản tiền mà tổ
chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được
cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công được quy định trong Danh mục phí ban
hành kèm theo Luật phí, lệ phí” [15; Khoản 1 Điều 3]. Theo đó, Luật phí, lệ phí sẽ
chỉ điều chỉnh đối với các khoản thu phí thuộc dịch vụ công do cơ quan nhà nước,
đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức khác được giao thực hiện, không điều chỉnh

thể xả thải phải thực hiện, nhưng Nhà nước đã đứng ra thực hiện thay họ.
Về khái niệm phí BVMT đối với nước thải, thực tế, pháp luật hiện hành
không đưa ra một khái niệm cụ thể thế nào là phí BVMT đối với nước thải,
nhưng dựa vào những nội dung trên, có thể hiểu, phí BVMT đối với nước thải
như sau:


12

“Phí BVMT đối với nước thải là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải
trả cho việc xả nước thải gây ô nhiễm vào môi trường với mục đích giảm thiểu
số lượng nước thải chưa qua xử lý xả trực tiếp ra môi trường và cơ bản nhằm
bù đắp chi phí cho việc khôi phục, bảo vệ môi trường”.
Phí BVMT đối với nước thải có những dấu hiệu cơ bản để nhận diện
như sau:
Một là, phí BVMT đối với nước thải là một trong những công cụ kinh tế
trong quản lý và bảo vệ môi trường.
Phí BVMT được coi là công cụ kinh tế hữu hiệu trong kiểm soát ô
nhiễm nước vì nó có tác dụng điều chỉnh hành vi của người xả thải: Người xả
thải phải chi trả một khoản tiền nhất định cho mỗi đơn vị chất gây ô nhiễm,
nồng độ càng cao thì số phí doanh nghiệp bỏ ra càng lớn. Ngược lại, nếu doanh
nghiệp giảm lượng nước thải cũng như hàm lượng chất gây ô nhiễm trong nước
thải khi xả ra môi trường thì số phí phải nộp sẽ ít đi. Như vậy, mục đích của
việc áp dụng phí BVMT đối với nước thải là khuyến khích giảm các tác nhân
gây ô nhiễm, giảm thiểu lượng chất gây ô nhiễm thải ra môi trường và tăng
thêm nguồn thu cho Nhà nước để sử dụng cho việc khôi phục cải thiện chất
lượng môi trường sống.
Việc thu phí BVMT đối với nước thải có thể bù đắp một phần chi phí
thường xuyên và không thường xuyên cho việc duy trì, bảo vệ và cải thiện các
thành phần môi trường, giữ gìn sự cân bằng sinh thái và các chi phí khác về tổ

nghiệp, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã. Còn ở Việt
Nam, nước thải là nước đã được thải ra từ sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra
trong một quá trình công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó
[22; tr.1]. Nước thải được phân thành nhiều loại khác nhau để tiện cho việc
quản lý và tạo cơ sở cho việc lựa chọn biện pháp giải quyết hay công nghệ xử lý
phù hợp.
Theo quan điểm quản lý môi trường, xuất phát từ các nguồn gây ô
nhiễm nước, nước thải được phân thành hai loại: nước thải có nguồn xác định
và nước thải không có nguồn xác định:


14

(i) Nước thải có nguồn xác định bao gồm nước thải đô thị và nước thải
công nghiệp, các cửa cống xả nước mưa và tất cả các nguồn tiếp nhận nước có
tổ chức qua hệ thống cống và kênh thải.
(ii) Nước thải có nguồn không xác định bao gồm nước chảy trôi trên bề
mặt đất, nước mưa và các nguồn phân tán khác.
Với hai loại nước thải này, khi tác động một khoản thu tài chính với
những chủ thể xả thải, thông thường Nhà nước chỉ thu phí BVMT đối với nước
thải có nguồn gốc xác định.
Căn cứ phổ biến hơn để phân loại nước thải, đó là dựa theo nguồn gốc
phát sinh ra chúng. Theo đó, nước thải được phân thành các loại sau [2]:
(i) Nước thải công nghiệp là nước từ các cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến
nông sản, lâm sản, thủy sản xả thải ra môi trường…[6; khoản 2 Điều 2]
(ii) Nước thải sinh hoạt là từ các hộ gia đình, tổ chức khác không phải là
các cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản xả thải ra môi
trường [6; Khoản 3 Điều 2].
(iii) Nước thấm qua: là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều
cách khác nhau, qua các khớp nối, có khuyết tật hoặc thành hố ga hay hố xí.

công nghiệp phụ thuộc vào từng loại hình sản xuất của nhà máy.
Tuy nhiên, dù là nước thải sinh hoạt hay nước thải công nghiệp, nếu
không được xử lý thì khi thải trực tiếp vào nguồn nước tự nhiên sẽ gây ra những
thay đổi về tính chất vật lý, thành phần hóa học và sinh học của nguồn nước.
1.1.2. Ý nghĩa và vai trò của phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
1.1.2.1. Ý nghĩa của phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Thứ nhất, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải thể hiện sự quan
tâm của Nhà nước đến lĩnh vực môi trường, phù hợp với xu hướng phát triển
của thế giới.
Môi trường hiện nay đang là vấn đề nóng bỏng của mỗi quốc gia, dù đó
là quốc gia phát triển hay đang phát triển. Sự xuất hiện của các định chế pháp lý


16

quốc tế liên quan đến môi trường thể hiện rõ tính chất toàn cầu của vấn đề môi
trường. Những thập kỷ cuối của thế kỷ XX được đánh dấu bằng sự ra đời của
hàng loạt các công ước quốc tế về môi trường và các tổ chức quốc tế về môi
trường. Ngay cả trong các Hiệp định được ký kết giữa các quốc gia với nhau
cũng có các quy định cụ thể về môi trường.
Bảo vệ môi trường đã trở thành một trong những chính sách quan trọng
của Đảng và Nhà nước. Bằng những biện pháp và chính sách khác nhau, Nhà
nước ta đã can thiệp mạnh vào các hoạt động của các cá nhân, tổ chức trong xã
hội để bảo vệ các yếu tố của môi trường, ngăn chặn việc gây ô nhiễm, suy thoái
và sự cố môi trường. Trong những biện pháp mà Nhà nước sử dụng trong lĩnh
vực này và cũng như tuyệt đại đa số các lĩnh vực khác, pháp luật đóng vai trò
đặc biệt quan trọng.
Phí BVMT đối với nước thải chính là một trong những quy định của
pháp luật phát huy được hiệu quả sự quan tâm của Nhà nước, góp phần bảo vệ
môi trường quốc gia. Nhà nước đã xây dựng phí BVMT đối với từng loại hình

giúp họ hiểu được tác hại của nước thải, đặc biệt là nước thải có chứa các chất
độc hại tới môi trường sống như thế nào, làm ô nhiễm môi trường ra sao, từ đó
có ý thức hơn trong việc xả thải cũng như BVMT.
1.1.2.2. Vai trò của phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Thứ nhất, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải là một trong những
công cụ kinh tế hữu hiệu trong quản lý và BVMT
Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy, không thể chỉ dùng một biện pháp,
chính sách đơn giản, hoặc một vài biện pháp nhỏ lẻ là có thể bảo vệ được môi
trường. Nhiều trường hợp, các biện pháp, chính sách BVMT đã không đạt hiệu
quả. Do đó, để BVMT một cách hiệu quả cần phải có sự tiếp cận chính sách
đồng bộ. BVMT có thể bằng nhiều biện pháp: hành chính, giáo dục, kinh tế,
trong đó, công cụ kinh tế càng ngày càng được nhiều nước sử dụng.
Dưới góc độ pháp lý, công cụ kinh tế trong quản lý và BVMT là những
biện pháp, chính sách do pháp luật quy định, được sử dụng nhằm tác động tới
chi phí và lợi ích của các hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng thường


18

xuyên, tác động tới môi trường, từ đó làm thay đổi hành vi của con người theo
hướng có lợi cho môi trường. Hay nói cách khác, các công cụ kinh tế trong
quản lý và BVMT là những biện pháp sử dụng lợi ích và chi phí để tác động
đến hành vi của con người theo hướng có lợi cho môi trường được pháp luật
quy định. Việc áp dụng các công cụ kinh tế trong BVMT đã chứng tỏ có hiệu
quả rõ rệt nhằm thay đổi hành vi môi trường của các đối tượng gây ô nhiễm
cũng như người được hưởng thụ môi trường trong sạch.
Ở Việt Nam, cùng với những công cụ kinh tế trong quản lý và BVMT
như: thuế môi trường; ký quỹ cải tạo; phục hồi môi trường trong khai thác tài
nguyên thiên nhiên; quỹ BVMT và các chính sách ưu đãi và hỗ trợ hoạt động
BVMT, thì phí BVMT đối với nước thải được xác định là công cụ kinh tế khá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status