Pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở Việt Nam hiện nay - Pdf 27

Pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở Việt Nam hiện nay

Phí bảo vệ môi trường (BVMT) đối với nước thải là một công cụ kinh tế hữu hiệu trong
BVMT, là một bước tiến hết sức quan trọng trong công tác quản lý môi trường ở nước
ta. Cùng với Nghị quyết số 41/NQ – TW của Bộ Chính trị, Chiến lược BVMT quốc gia
đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Luật BVMT năm 2005, phí bảo vê môi
trường đối với nước thải được quy định theo Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày
13/6/2003 (nay được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày
08/11/2007), thể hiện sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước ta trong công tác bảo vê môi
trường. Bài viết dưới đây đề cập thực tiễn việc áp dụng các quy định về phí BVMT đối
với nước thải sinh hoạt (NTSH), nước thải công nghiệp (NTCN), nguyên nhân và một
số giải pháp khắc phục những bất cập trong tình hình hiện nay.
1. Thực tiễn áp dụng các quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh
hoạt và nước thải công nghiệp
Theo Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phí BVMT đối với
nước thải và Thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTN&MT ngày 18/2/2003 của Bộ Tài
chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT) về hướng dẫn thực hiện Nghị định
67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phí BVMT đối với nước thải, kể từ ngày
01/01/2004, các tổ chức, hộ gia đình phải nộp phí BVMT đối với NTSH và NTCN. Nguồn phí
thu được này được sử dụng để đầu tư trở lại cho các công trình, dự án BVMT, đầu tư xây
dựng mới, nạo vét cống rãnh, duy tu, bảo dưỡng hệ thống thoát nước tại địa phương.
Ngày 06/9/2007, Bộ Tài chính và Bộ TN&MT ban hành Thông tư liên tịch số
106/2007/TTLT/ BTC-BTN&MT về sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 125 đã có những
quy định hướng dẫn tính toán khối lượng chất gây ô nhiễm NTCN. Việc này có ý nghĩa quan
trọng trong việc hỗ trợ các Sở Tài nguyên và Môi trường thẩm định tờ khai nộp phí của các
doanh nghiệp cũng như giúp các doanh nghiệp có thể tự kê khai.
Ở cấp địa phương, tại hầu hết các tỉnh, thành phố trên cả nước, các Sở Tài nguyên và Môi
trường phối hợp cùng với Sở Tài chính đã lập đề án triển khai thực hiện việc thu phí BVMT
đối với nước thải theo Nghị định 67/CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 04/NĐ-CP) trình
Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương phê duyệt. Sau đó, dựa trên Nghị quyết của HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực

đồng), Bà Rịa – Vũng Tàu (2,7 tỷ đồng), Đồng Nai (2,3 tỷ đồng), Khánh Hoà (1,1 tỷ đồng)
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả từ tháng 10/2004 cho đến nay đã thu được gần 17,5 tỉ
đồng tiền phí BVMT (cho cả NTSH và NTCN). Theo quy định, với loại NTSH thu từ đối tượng
sử dụng nước sạch qua hóa đơn tiền nước, công ty cấp nước là đơn vị chịu trách nhiệm tổ
chức thu phí BVMT. Thực ra, cách thu này cũng tương tự như cách thu theo quy định cũ (thu
phí NTSH). Riêng UBND phường, xã sẽ thực hiện thu phí BVMT với các đối tượng hộ gia
đình tự khai thác nước ngầm (trừ những nơi chưa có hệ thống cấp nước sạch) để sử dụng
cho mục đích sinh hoạt. Đây chính là điểm mới vì trước đây, Thành phố Hồ Chí Minh chỉ thu
phí nước thải đối với những người sử dụng nước máy của Công ty cấp nước qua đồng hồ;
còn các hộ gia đình sử dụng nước giếng khoan coi như nằm ngoài diện phải nộp phí nước
thải. Thế nhưng, từ khi Quyết định về thu phí BVMT của UBND Thành phố Hồ Chí Minh có
hiệu lực (ngày 01/8/2004), đến nay hầu hết các UBND phường, xã trên địa bàn Thành phố Hồ
Chí Minh vẫn chưa thể thu phí BVMT của các hộ gia đình sử dụng nước giếng. Lý giải việc
chậm trễ thực hiện thu phí, ông Phan Văn Rắc, Chủ tịch UBND phường Bình Trị Đông (Quận
Bình Tân), cho biết: “Khi quyết định có hiệu lực, chúng tôi đã thông báo việc thu phí đến từng
tổ dân phố nhưng... tất cả chỉ dừng ở mức thông tin, tuyên truyền là chính”. Theo ông, chính
quyền địa phương còn lúng túng khi triển khai quy định quá mới này, mặt khác cũng thiếu cán
bộ chuyên trách thực hiện thu phí. Trong khi đó, theo nhận định từ một số UBND phường, xã
thì việc thu phí BVMT đối với các hộ sử dụng nước giếng là không dễ vì phải thực hiện khảo
sát, thống kê sau đó mới có thể tính toán mức phí cho phù hợp.
Về công tác nộp phí
Đối với công tác nộp phí, đã đạt được một số kết quả đáng kể, số phí thu được tương đối
lớn. Một số địa phương đã có trách nhiệm nộp phí đúng thời hạn như Thái Nguyên (395 triệu
đồng), Quảng Ninh (393 triệu đồng), Khánh Hoà (370 triệu đồng). Có nhiều tỉnh khác, tuy số
phí thu được còn thấp, song đã nghiêm túc thực hiện việc nộp phí như Bình Phước (62 triệu
đồng), Gia Lai (97 triệu đồng), Phú Thọ (104 triệu đồng), Thanh Hoá (56 triệu đồng).
Mặc dù đã thu được những kết quả bước đầu, nhiều địa phương đã nỗ lực triển khai và
thu được nguồn thu đáng kể, song công tác thu và nộp phí còn gặp nhiều vướng mắc cần
tháo gỡ.
Trên địa bàn cả nước mới có 45/64 tỉnh, thành phố thực hiện việc thu phí, hiện vẫn còn 19

nhiễm chưa được ban hành cụ thể và hợp lý để giúp các Sở Tài nguyên và Môi trường thẩm
định tờ khai của các doanh nghiệp. Việc thẩm định tờ khai của các doanh nghiệp chỉ dựa trên
ước lượng, chưa có cơ sở khoa học, đặc biệt là các cơ sở sản xuất theo thời vụ rất khó thẩm
định tờ khai. Mặt khác, các Sở Tài nguyên và Môi trường còn gặp nhiều khó khăn trong việc
phổ biến, hướng dẫn và triển khai và thực hiện Nghị định đến cộng đồng doanh nghiệp.
Phương pháp thu phí rườm rà, chưa xác định được lưu lượng và nồng độ các chất ô nhiễm
có trong nước thải. Bên cạnh đó, mức phí thải công nghiệp quá thấp làm giảm vai trò, ý nghĩa
của phí BVMT đối với nước thải.
Thứ hai, nhân lực và kinh phí thiếu thốn khiến cho việc triển khai thu phí kém hiệu quả.
Nhân sự thực hiện thu phí ở các địa phương còn thiếu, trình độ nghiệp vụ chưa cao. Cả
nước mới chỉ có khoảng gần 500 cán bộ quản lý nhà nước về BVMT, một con số rất thấp so
với các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Ở cấp trung ương, số lượng biên chế tại
các cơ quan quản lý môi trường rất hạn chế, chưa thực hiện được khối lượng công việc cần
giải quyết. Lực lượng cán bộ của các Phòng Quản lý môi trường thuộc các Sở Tài nguyên
và Môi trường vừa thiếu số lượng, vừa yếu về trình độ, trong khi phải đảm nhận một khối
lượng lớn các công việc liên quan từ việc xây dựng chính sách, chiến lược BVMT của địa
phương, xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường hàng năm cho đến thực thi các hoạt động
cụ thể như kiểm soát ô nhiễm, thanh tra môi trường, giải quyết sự cố, bảo tồn đa dạng sinh
học... Ở cấp huyện, mới chỉ có trên 50% số tỉnh đã thành lập Phòng Tài nguyên và Môi
trường, còn ở cấp xã nhiệm vụ quản lý BVMT hầu hết bị bỏ trống. Nhiều khu công nghiệp,
cơ sở sản xuất, kinh doanh chưa có bộ phận hoặc bố trí cán bộ chuyên trách về môi
trường. Một số địa phương, bộ, ngành còn chưa tích cực trong công tác thu phí đối với các
cơ sở thuộc quyền như quy định tại Nghị định 67 và Nghị định 04.
Thứ ba, do ý thức tuân thủ pháp luật của đối tượng nộp phí còn thấp. Nhiều doanh
nghiệp né tránh, không chịu kê khai hoặc kê khai thấp hơn nhiều so với thực tế. Khó khăn
lớn nhất hiện nay, theo đánh giá của các địa phương, vẫn là các doanh nghiệp kê khai rất ít,
chưa có ý thức chấp hành việc nộp phí.
Thứ tư, do thiếu các biện pháp hỗ trợ như chưa có danh sách các tổ chức có thẩm
quyền phân tích nước thải, Nhà nước cũng chưa có các biện pháp chế tài đủ mạnh để
cưỡng chế các doanh nghiệp trây ỳ không chịu nộp phí.

trường có thể vận dụng linh hoạt các cơ chế quản lý tài nguyên tùy thuộc vào điều kiện cụ thể
của địa phương mình để yêu cầu các doanh nghiệp phải nộp phí.
Bộ TN&MT nên xây dựng phần mềm quản lý việc thu nộp phí để phục vụ tốt hơn công tác
thu phí. Ngoài ra, nó còn giúp cập nhật thông tin một cách nhanh chóng, đầy đủ hơn. Phần
mềm quản lý giúp cho Bộ TN&MT có thể nắm bắt thông tin về tình hình thu phí trên cả nước
trong một thời gian ngắn, biết được những tỉnh nào thực hiện tốt, những tỉnh nào còn triển
khai kém hiệu quả... Từ đó tìm hiểu nguyên nhân và trao đổi kinh nghiệm cho nhau để thực
hiện tốt công tác thu phí.
Việc thu phí BVMT nếu được thực hiện đồng bộ ở các tỉnh thành trong cả nước sẽ đảm
bảo cho hoạt động thu phí bảo đảm cho hoạt động thu phí triển khai tốt.
Đồng thời, Bộ TN&MT cần công bố danh sách các tổ chức, phòng thí nghiệm có thẩm
quyền phân tích nước thải. Hiện tại, việc chưa có danh sách các tổ chức này là một trong
những nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình thu phí. Chính vì vậy, việc công bố một danh
sách cụ thể những tổ chức nào được quyền phân tích nước thải khiến cho các doanh nghiệp
thuận tiện hơn trong quá trình tự kê khai.
Thứ hai, đối với các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) bắt buộc phải có khu xử
lý chất thải tập trung, tránh tình trạng các doanh nghiệp khi đầu tư vào KCN, KCX không biết
đổ chất thải đi đâu. Thực tế các doanh nghiệp khi đầu tư vào KCN đều muốn KCN phải có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status