ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HOÀI THU
KẾT HỢP GIÁO DỤC PHÁP LUẬT, GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
Ở NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HOÀI THU
KẾT HỢP GIÁO DỤC PHÁP LUẬT, GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
Ở NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số
: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TSKH. Đào Trí Úc
1.1.3 Mục đích cung cấp tri thức, hình thành kỹ năng pháp luật, quyền con người
cho người chưa thành niên ..................................................................................... 32
1.1.4 Yêu cầu về sự kết hợp giáo dục đạo đức và giáo dục pháp luật cho người chưa
thành niên .............................................................................................................. 33
1.1.5 Các chuẩn giá trị pháp luật và đạo đức đối với quá trình hình thành hành vi xã
hội của người chưa thành niên ............................................................................... 39
1.2. Các hình thức kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức cho người chưa
thành niên .............................................................................................................. 46
1.2.1. Thông qua chương trình giáo dục cơng dân ở nhà trường............................. 46
1.2.2. Thơng qua sách, báo, phương tiện truyền thông, games ............................... 50
1.2.3. Thơng qua các chương trình kể chuyện về đạo đức và thi tìm hiểu những câu
chuyện hay về đạo đức và pháp luật....................................................................... 53
1.2.4. Thông qua việc xét xử của tòa án từ các vụ án cụ thể ................................... 53
1.2.5. Thông qua hành động thực tiễn của người lớn trong đời sống hàng ngày ..... 55
Chương 2: THỰC TRẠNG KẾT HỢP GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC
CHO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN Ở NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY ............ 58
2.1. Thực trạng về người chưa thành niên và sự hiểu biết pháp luật của người chưa
thành niên .............................................................................................................. 58
2.1.1. Thực trạng về người chưa thành niên ở nước Việt Nam hiện nay ................. 58
2.1.2 Thực trạng về sự hiểu biết pháp luật của người chưa thành niên hiện nay ..... 61
2.2 Thực trạng của việc kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức cho người
chưa thành niên ở nước ta ...................................................................................... 69
2.2.1. Thực trạng về chủ thể thực hiện công tác kết hợp giáo dục pháp luật và giáo
dục đạo đức cho người chưa thành niên ở Việt Nam hiện nay................................ 69
2.2.2 Thực trạng về nội dung kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức cho
người chưa thành niên ở Việt Nam hiện nay hiện nay ............................................ 73
2.2.3. Thực trạng về phương pháp kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức
cho người chưa thành niên ở Việt Nam hiện nay hiện nay ..................................... 78
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bộ LĐ – TB&XH
Bộ Lao động – Thương binh & xã hội
ĐĐ
Đạo đức
GDĐĐ
Giáo dục đạo đức
GDPL
Giáo dục pháp luật
NCTN
Người chưa thành niên
PL
Pháp luật
VPHC
Vi phạm hành chính
Biểu đồ đánh giá của NCTN về sự phối hợp của
các chủ thể trong GDPL, GDĐĐ
73
Biểu đồ 2.4:
Biểu đồ đánh giá của NCTN về mức độ triển khai
các nội dung GDPL, GDĐĐ
74
Biểu đồ 2.5:
Biểu đồ các phương pháp GDPL,GDĐĐ
79
Biểu đồ 2.6:
Biểu đồ hình thức GDPL
83
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, thế hệ trẻ Việt Nam đã và đang có những cống hiến
thiết thực cho đất nước, bởi lẽ, những người trẻ là những người hăng hái, nhiệt tình
đi đầu trên mọi mặt trận: học tập, lao động, sản xuất… Họ xứng đáng là thế hệ kế
mức ngày càng cao, quy mô cũng như tính chất, mức độ phạm tội ngày càng
nghiêm trọng, nguy hiểm. Điều này cho thấy sự ảnh hưởng tiêu cực từ tội phạm đã
tác động đến những người trẻ tuổi là thái độ coi thường pháp luật, coi thường tính
mạng, nhân phẩm và tài sản của người khác.
Đất nước ta ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng
lên song nhược điểm lớn ở đây là vấn đề “người người bận rộn, nhà nhà bận rộn”,
cha mẹ mải mê kiếm tiền, con cái thì ham chơi hơn ham học, khơng được sự quan
tâm, chăm sóc của gia đình, nhà trường và tồn xã hội nhất là lứa tuổi chưa thành
niên. Đây là lứa tuổi dễ bị tác động từ các yếu tố ngoại cảnh, độ tuổi này dễ bị chi
phối từ các tác nhân bên ngoài, thích nổi trội, hay bị kích động, thích khám phá
những cái mới nên rất cần có sự quan tâm chăm sóc, quản lý đặc biệt của người lớn,
của tồn xã hội.
Trong thời gian dài Đảng và nhà nước ta rất quan tâm, chú trọng đến việc
giáo dục pháp luật ở lứa tuổi thanh thiếu niên, họ là nguồn trí tuệ cho cho xã hội
tương lai và là thế hệ trẻ tiếp nối thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Chính vì
vậy Đảng và nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách pháp luật để thực hiện, điển
hình như:
Ngày 7/12/1982, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành chỉ thị số 315/CT về
việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật đã xác định: “Hình thức
tuyên truyền cần phong phú, hấp dẫn, thích hợp với từng loại đối tượng”[7]. Cần sử
dụng rộng rãi báo chí, phát thanh, truyền hình và các hình thức văn hố, nghệ thuật
khác để phổ biến pháp luật…Tiếp đó chỉ thị số 300/CT ngày 22/10/1987 của Chủ
tịch Hội đồng Bộ trưởng về một số công tác trước măt nhằm tăng cường quản lý
Nhà nước bằng pháp luật đã yêu cầu.
Tiếp đó trong Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg ngày 07/01/1998 của Thủ tướng
Chính phủ về việc tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn
hiện nay và Quyết định số 03/1998/QĐ-TTg về việc ban hành Kế hoạch triển khai
2
giờ lên lớp và giáo dục ngoại khóa ở tất cả các cấp học từ Phổ thông cơ sở đến Phổ
3
thông trung học rồi đến trung cấp, cao đẳng và đại học với mục đích tạo sự chuyển
biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật và hành vi nghiêm chỉnh
chấp hành pháp luật ở lứa tuổi chưa thành niên và cả lứa tuổi đã thành niên.
Trên thực tế công tác giáo dục môn học đạo đức, giáo dục công dân trong
các trường phổ thông đã và đang tiến hành thường xuyên ở các cấp học song hiệu
quả mà các môn học này mang lại cho xã hội cịn rất kém. Cụ thể tình trạng học
sinh vi phạm pháp luật ngày càng nhiều ở các lĩnh vực giao thơng, trận tự an tồn xã
hội…. và rất đáng lên án là tình trạng học sinh nữ đánh nhau chỉ vì những lý do rất
đơn giản xảy ra ở nhiều nơi trên cả nước, đồng thời với hành vi khơng đẹp ấy là một
bộ phận học sinh đứng ngồi khơng can ngăn mà lại cổ vũ, khuyến khích, tệ hại hơn
nữa một số em còn quay video qua điện thoại để tung lên mạng. Điều này cho thấy
ý thức pháp luật của học sinh quá kém và sự xuống cấp thê thảm về đạo đức ở một
bộ phận không nhỏ học sinh phổ thơng hiện nay.
Tình trạng vi phạm pháp luật hình sự diễn ra ở độ tuổi chưa thành niên
ngày càng diễn biến phức tạp. Nếu như trước đây các em phạm tội do suy nghĩ
bột phát, ngây thơ thì hiện nay mức độ phạm tội của người chưa thành niên ngày
càng nghiêm trọng, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hơn, các em phạm tội có tổ chức,
băng nhóm, sử dụng nhiều loại phương tiện, cơng cụ nguy hiểm gây hậu quả
nghiêm trọng về người và tài sản. Một vấn đề báo động và là câu hỏi đặt ra cho
tồn xã hội hiện nay, đó là tại sao tính “hăng máu”, tính “ anh hùng rơm” và tình
trạng “ bạo lực học đường” đang diễn ra gây nhức nhối cho tồn xã hội đến như
vậy. Chỉ có câu trả lời duy nhất là sự xuống cấp về đạo đức và sự kém hiểu biết về
pháp luật trong việc hình thành nhân cách của người chưa thành niên mà hệ quả
của sự việc này là kết quả của nền giáo dục từ gia đình, từ nhà trường và tồn xã
hội trong thời gian dài.
trình nghiên cứu chun sâu của GS.TS Hồng Thị Kim Quế về mối quan hệ giữa
pháp luật và đạo đức như: Một số suy nghĩ về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo
đức trong hệ thống điều chỉnh xã hội - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7/
1999; Trần Minh Đoàn (2001), Giáo dục đạo đức cho thanh niên, học sinh theo tư
tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị
- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; Nguyễn Đình Đặng Lục (2008), Giáo dục
pháp luật trong nhà trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội; Nguyễn Thúy Hoa (2005), Kết
hợp pháp luật và đạo đức trong quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Luận văn
thạc sĩ luật, Học viện chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; Một số suy nghĩ
5
về trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức- Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số
3/2000; Xu hướng vận động, phát triển của pháp luật và đạo đức ở Việt Nam qua
các thời kỳ lịch sử - Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 7, 8 /2002…là những bài
viết có giá trị. Bên cạnh đó, phải kể đến một số cơng trình đáng chú ý khác
như: Bàn về giáo dục pháp luật của TS. Trần Ngọc Đường, Nhà xuất bản Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 1995; Tìm hiểu về mối liên hệ giữa đạo đức và pháp
luật của Luật gia Lê Quang Thưởng; Đạo đức truyền thống của dân tộc là môi
trường thuận lợi của việc thực hiện pháp luật của Luật gia Phạm Văn Tỉnh; Tư
tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp pháp luật và đạo đức trong quản lý xã hội của tác
giả Lương Hồng Quang, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị - Hành
chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2003….
Người chưa thành niên là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều tác giả, trong
lĩnh vực luật học, có nhiều luật gia nghiên cứu, có thể kể đến các sách:
Phịng ngừa người chưa thành niên phạm tội, Nhà xuất bản pháp lý Hà Nội,
1987 do Phó Tiến sĩ Vũ Đức Khiển làm chủ biên. Tác giả đề cập đến vấn đề NCTN,
vấn đề phạm tội của NCTN để từ đó đưa ra một số giải pháp thiết thực.
Tư pháp với người chưa thành niên và quyền trẻ em, 1996, NXB Chính trị
Nhiệm vụ của luận văn:
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Thứ nhất, phân tích được cơ sở lý luận của sự liên hệ giữa pháp luật và
đạo đức- cơ sở cho việc xây dựng hành vi xã hội của người chưa thành niên.
- Thứ hai, phân tích thực trạng của việc kết hợp giáo dục pháp luật và giáo
dục đạo đức cho người chưa thành niên ở nước Việt Nam hiện nay.
-Thứ ba, đề xuất một số phương hướng và giải pháp tăng cường kết hợp
giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức cho người chưa thành niên ở nước Việt Nam
hiện nay
Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn ở mức độ nhất định có thể sử dụng làm tài liệu
tham khảo, góp thêm cơ sở cho việc hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước
để phát huy việc giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức cho người chưa thành niên ở
Việt Nam hiện nay.
Luận văn đóng góp một hướng giáo dục pháp luật kết hợp với giáo dục đạo đức
cho người chưa thành niên chứ không chỉ đơn thuần là giáo dục pháp luật cho đối
tượng này hiện nay vẫn đang thực hiện. Luận văn cịn góp phần nâng cao nhận thức
và phương hướng cho các cơ quan nhà nước trong việc giáo dục pháp luật và đạo
7
đức cho người chưa thành niên. Luận văn là tài liệu tham khảo bổ ích đối với cán
bộ, giáo viên, giảng viên làm công tác giáo dục pháp luật.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Với đề tài này tác giả tập trung tìm hiểu
chuẩn giá trị pháp luật và đạo đức và việc kết hợp giữa hai giá trị ấy vào việc giáo
dục nhân cách, phẩm chất, biết tuân thủ pháp luật cho người chưa thành niên. Từ đó
giáo dục đạo đức cho đối tượng là người chưa thành niên chứ không dừng lại ở việc
giáo dục, phổ biến pháp luật như các đề tài khác.
- Luận văn đóng góp việc giáo dục pháp luật kết hợp với giáo dục đạo đức
cho người chưa thành niên khơng chỉ về phương diện lý luận mà cịn cần phải áp
dụng việc giáo dục pháp luật kết hợp với giáo dục đạo đức cho người chưa thành
niên về mặt thực tiễn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương.
Chương 1: Pháp luật và đạo đức với nhu cầu giáo dục pháp luật và giáo dục
đạo đức cho người chưa thành niên ở Việt Nam
Chương 2: Thực trạng của việc kết hợp giáo dục pháp luật và đạo đức cho
người chưa thành niên ở nước Việt Nam hiện nay
Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường kết hợp giáo dục pháp luật, giáo
dục đạo đức cho người chưa thành niên ở nước Việt Nam hiện nay
9
Chương 1
PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC VỚI NHU CẦU GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN Ở
VIỆT NAM
1.1. Sự liên hệ giữa pháp luật và đạo đức- cơ sở cho việc xây dựng hành vi xã
hội của người chưa thành niên
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của người chưa thành niên
* Khái niệm người chưa thành niên:
Khái niệm NCTN là một khái niệm được sử dụng nhiều trong các văn bản
pháp luật. Bên cạnh khái niệm này, chúng ta cũng thường xuyên sử dụng khái niệm
niên được xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con
người và được cụ thể hoá bằng giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật của
từng quốc gia. Theo đó, người ta quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của
người chưa thành niên. Có thể khái niệm: Người chưa thành niên là người dưới 18
tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có khả năng nhận
thức, kiểm sốt được hành vi của mình chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp
lý như người đã thành niên.
* Đặc điểm của người chưa thành niên:
Dưới góc độ tâm lý học, con người trải qua các giai đoạn lứa tuổi khác nhau,
trong đó mỗi giai đoạn có đặc điểm tâm sinh lý riêng, đặc trưng cùng với tác động bên
ngồi làm hình thành những hành vi ứng xử khác nhau. Giai đoạn chưa thành niên là
giai đoạn quan trọng trong quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách của con người.
Nghiên cứu NCTN qua các đặc điểm tâm sinh lý giúp chúng ta lý giải được cơ sở khoa
học của những quy định pháp luật nói chung và pháp lệnh xử lý vi phạm đối với người
NCTN nói riêng. Những đặc điểm của NCTN được biểu hiện cụ thể:
Trong phạm vi đề tài, tác giả đi tìm hiểu NCTN gồm những người ở độ tuổi
từ 12 đến dưới 18 tuổi. Với NCTN ở giai đoạn này họ cần có thời gian để chuẩn bị
về mọi mặt để chuyển sang một giai đoạn mới: giai đoạn trưởng thành (giai đoạn
lớn lên về cơ thể, mở rộng các quan hệ xã hội, tích lũy tri thức, phương thức hoạt
động...). Tuổi của NCTN cũng có thể gọi là “thời kỳ quá độ” (chưa phải là người
lớn cũng khơng cịn là trẻ con), “tuổi khủng hoảng” (cả về tâm lý lẫn sinh lý), “tuổi
khó bảo”, “tuổi bất trị”...những nguyên nhân của cách gọi trên xuất phát từ đặc
điểm sau:
11
Thứ nhất, đặc điểm sinh lý. Thời kỳ này, cơ thể phát triển mạnh mẽ những
chưa đồng đều, biểu hiện bên ngồi là các em lớn lên trơng thấy. Tùy thuộc vào độ
tuổi, ngay trong cùng một giai đoạn mà sự phát triển giữa nam và nữ là khác nhau,
nghĩ, cảm xúc của NCTN thường dao động giữa tính kiêu ngạo và tính tự ti, giữa sự
điềm tĩnh và sự nóng nảy, giữa niềm hạnh phúc và nỗi đau buồn” [18, tr.7- 8].
Do có thể tự ý thức về bản thân mình, các em đơi khi có những thái độ khó chịu
với sự thay đổi về tâm sinh lý. Các em biết những việc nào thì được phép làm, những
việc nào không nhưng đôi khi vẫn làm theo cách của mình với những lý do rất riêng.
Do đó, khi mắc lỗi, thay vì nhìn nhận thẳng vào vấn đề, một số em lại cố che giấu, cử
chỉ bên ngoài thiếu tự nhiên, các em muốn bộc lộ cá tính, tự khẳng định mình, muốn
nhanh chóng được trở thành người lớn và cố gắng đối xử như người lớn, song nhận
thức về xã hội, đạo đức, đặc biệt là pháp luật còn nhiều hạn chế.
Từ sự thay đổi về thể chất và tinh thần dẫn đến việc biến đổi mạnh mẽ trong
hành vi ở nhóm tuổi chưa thành niên. Rất nhiều hành vi của nhóm tuổi chưa thành
niên ln khó hiểu và không lường trước được đối với những thế hệ khác đặc biệt là
người lớn tuổi. Các em hành động một cách bột phát mà không cần cân nhắc, tính
tốn chín chắn. Các em đã biết nhìn nhận về bản thân và mong muốn tạo cho mình
uy tín, sự mến phục trong con mắt bạn bè, đặc biệt là bạn khác giới. Trẻ chưa thành
niên có thể là những người vị tha, độ lượng, có thể hy sinh thân mình để làm những
điều tốt đẹp nhưng cũng có thể ngay sau đó lại bị lơi kéo vào những hành vi xấu mà
không nhận biết được. Các em cũng dễ bị lây nhiễm vào các tệ nạn xã hội như cờ
bạc, rượu chè, trộm cắp, đánh nhau khi ở vào tuổi này mà đến khi trưởng thành đã
không thể dễ dàng từ bỏ những tệ nạn đó.
NCTN cần có sự quan tâm, chăm sóc của cha mẹ bởi những khó khăn, rắc
rối về mặt tâm sinh lý là không tránh khỏi. Cha mẹ phải là người hiểu rõ điều đó và
cần có sự quan tâm đúng mức, sao cho các em vẫn phát huy được tính độc lập của
mình nhưng cũng không tách rời sự quản lý cần thiết và chặt chẽ của cha mẹ.
Phần lớn NCTN sống phụ thuộc vào gia đình, trong mối quan hệ với gia
đình, cụ thể là đối với cha mẹ, sự hiểu biết tâm sinh lý đối với NCTN là rất quan
trọng. Tuy nhiên, sự hiểu biết này mới dừng lại ở những thay đổi bên ngồi, cịn
những thay đổi tâm sinh lý bên trong cha mẹ ít quan tâm hơn. Do đó, khi ý thức của
NCTN lệch lạc dẫn đến vi phạm pháp luật, cha mẹ lại nghĩ nguyên nhân chính do
bản thân chúng gây ra, rất nhiều trong số các em bị cha mẹ bỏ mặc và không quan
lang thang; sử dụng các chất kích thích; hoặc gây ra những hành vi rối loạn xã hội
như gây hấn với người khác, phá hoại tài sản, trộm cắp; thậm chí tự hủy hoại bản
thân mình như tự hành xác, tự tử.
14
NCTN vi phạm pháp luật là một hiện tượng xã hội vô cùng phức tạp và
nguyên nhân của hiện tượng này cũng vơ cùng đa dạng. Nhìn từ góc độ bản thân
người NCTN thì mỗi người lại có những hành động vi phạm pháp luật dưới sự chi
phối của những ý thức xã hội khác nhau. Những ý thức xã hội khác nhau ấy là
những phản ứng của NCTN trước những biến động xã hội khi tác động vào bộ não
của họ. NCTN có sự phát triển và thay đổi sinh lý khá nhanh chóng, nhưng lại có sự
phát triển tâm lí và nhận thức xã hội tương đối chậm. Lúc này, gia đình, nhà trường,
bạn bè và mơi trường khách quan bên ngồi sẽ có tác động hai chiều đến sự hình
thành và phát triển tâm lý, ý thức của họ. Nếu sự tác động là tích cực, phù hợp thì
sự phát triển tâm lý, ý thức của NCTN sẽ theo hướng tích cực. Ngược lại, nếu sự tác
động là tiêu cực, chưa phù hợp thì sự phát triển tâm lý, ý thức của NCTN sẽ theo
hướng tiêu cực, và đây chính là mầm mống hình thành ý thức phạm tội của họ.
Nghiên cứu này chủ yếu xem xét những ảnh hưởng từ mơi trường bên ngồi dẫn
đến tâm lý phạm tội của NCTN bao gồm: gia đình, nhà trường, xã hội và pháp luật.
Do vậy, NCTN là giai đoạn phát triển đặc biệt quan trọng trong cả cuộc đời
con người, mỗi người ở độ tuổi này thường có những thay đổi rõ nét về tâm sinh lý
và hành vi. Hiểu được những đặc điểm mang tính đặc thù này là chìa khóa mở ra
cánh cửa thành cơng cho công tác giáo dục NCTN.
Nếu ở độ tuổi này NCTN có những hành vi vi phạm pháp luật, hình thành
thế giới quan, nhân sinh quan không phù hợp với chuẩn mực đạo đức của xã hội thì
rất có thể đến lứa tuổi trưởng thành họ sẽ là đại diện cho những thành phần bất
kham trong xã hội.
NCTN vẫn đang ở trong giai đoạn hình thành để đi đến tương đối ổn định về
người trưởng thành cho rằng khó chấp nhận và khó thực hiện được trong cuộc sống
thì các em lại dễ dàng chấp nhận và dễ dàng theo đuổi. Các em dám bước qua
những quan niệm truyền thống để tạo dựng cho thế hệ mình những nấc thang mới,
xét trên khía cạnh này thì sự dũng cảm của thanh thiếu niên được đánh giá là cao
hơn người trưởng thành. Nếu khơng có sự bứt phá trong tư duy và hành động của
NCTN thì xã hội của chúng ta trong tương lai sẽ không thể phát triển hơn xã hội
hiện tại. Nhưng trong thực tế những điều mới mẻ của NCTN lại dễ bị người lớn phủ
nhận và bác bỏ, người lớn hay những người đang làm chủ cuộc sống hiện tại luôn
mong muốn NCTN sẽ trưởng thành trong sự quản lý và bao bọc của họ, cũng như
làm theo những điều mà họ đã đề ra, chấp hành những luật lệ mà họ đưa ra. Khi
đứng trước những rào cản này một bộ phận NCTN trở nên cô độc, những hành động
16
bộc phát mang tính tiêu cực chính là những ví dụ điển hình cho việc chống lại
những quy tắc gị bó. Do vậy, giúp cho thế hệ trẻ của chúng ta có cơ hội phát triển
đúng đắn mà vẫn đảm bảo phát huy được những tư duy mới mẻ của trẻ cần kết hợp
giáo dục đạo đức và giáo dục pháp luật, để cung cấp cho NTCN những kiến thức về
đạo đức và pháp luật, những chuẩn giá trị về đạo đức, chuẩn giá trị về pháp luật
nhằm ngăn chặn những hành vi lệch lạc của trẻ.
1.1.2. Mối liên hệ giữa pháp luật và đạo đức
Điều chỉnh hành vi con người, xã hội có nhiều cơng cụ khác nhau, trong đó,
pháp luật và đạo đức là cơng cụ quan trọng bậc nhất. Bên cạnh những ưu thế vốn
có, cả pháp luật và đạo đức đều có những hạn chế nhất định. Song pháp luật và đạo
đức có mối liên hệ mật thiết, tác động qua lại, bổ sung cho nhau. Do vậy, để quản lý
xã hội có hiệu quả, cần phải có sự kết hợp giữa pháp luật và đạo đức.
Để tìm hiểu mối liên hệ giữa đạo đức và pháp luật trước hết chúng ta cần tìm
hiểu đạo đức, pháp luật và vai trò của đạo đức và pháp luật trong đời sống xã hội.
*Đạo đức