MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kết hợp kinh tế với quốc phòng là vấn đề có tính quy luật khi xã hội còn
tồn tại giai cấp và đấu tranh giai cấp. Sự kết hợp này nảy sinh từ mối quan hệ giữa
kinh tế với các yếu tố quân sự, quốc phòng, chiến tranh. Kết hợp kinh tế với quốc
phòng là hiện tượng phổ biến đối với mỗi quốc gia, dân tộc độc lập có chủ quyền.
Trên thế giới, các nước khác nhau, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, quy
mô lớn hay nhỏ, trình độ phát triển như thế nào cũng đều quan tâm, chăm lo thực
hiện kết hợp kinh tế với quốc phòng. Tuy nhiên, trong những điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể, trong từng giai đoạn phát triển của mỗi nước thì mục đích, nội dung và
phương thức thực hiện sự gắn kết đó không hoàn toàn giống nhau.
Đối với nước ta, kết hợp kinh tế với quốc phòng là sự kế tục quy luật
“dựng nước đi đôi với giữ nước” trong lịch sử dân tộc. Trong quá trình lãnh đạo
cách mạng, Đảng ta luôn xác định kết hợp kinh tế với quốc phòng là một chủ
trương lớn, một phương thức hiệu quả nhất để xây dựng và bảo về Tổ quốc. Chủ
trương đó đã và đang được hiện thực hoá và thực tiễn đã chứng minh, đây là chủ
trương hoàn toàn đúng đắn, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong
từng thời kỳ. Hiện nay, trong bối cảnh tình hình khu vực và thế giới đang diễn
biến phức tạp, khó lường; tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, cạnh tranh kinh tế
ngày càng gay gắt, quyết liệt, cơ hội và thách thức đan xen nhau. Tình hình đó
cho thấy việc thực hiện kết hợp kinh tế với quốc phòng lại có ý nghĩa càng quan
trọng, sự kết hợp ấy là một phương thức góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm
vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Hà Tĩnh là một tỉnh có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên rất đặc thù về phát
triển kinh tế và củng cố quốc phòng. Trong những năm qua, mặc dù Tỉnh đã có
nhiều nỗ lực thực hiện chủ trương phát triển kinh tế kết hợp với củng cố quốc
phòng - an ninh, góp phần ổn định xã hội và nâng cao đời sống nhân dân. Song,
những năm gần đây, thực hiện chủ trương phát triển kinh tế thị trường định
hướng XHCN và hội nhập quốc tế, trên địa bàn Hà Tĩnh đã và đang phát triển
3
tế với quốc phòng ở nước ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
4
Nguyễn Đức Độ - Chủ biên (2010), Một số vấn đề kết hợp kinh tế với
quốc phòng ở Việt Nam trong tình hình mới, Nhà xuất bản Quân đội nhân
dân, Hà Nội [31]. Về lý luận, cuốn sách không chỉ đã luận giải, làm rõ quan
niệm kết hợp kinh tế với quốc phòng ở nước ta trong tình hình mới, mà còn
khái lược nhận thức kết hợp kinh tế với quốc phòng ở nước ta qua các thời kỳ.
Về thực tiễn, tác giả đã chỉ rõ nhân tố tác động, mục tiêu, phương thức và nội
dung kết hợp kinh tế với quốc phòng trong một số ngành, vùng, lĩnh vực chủ
yếu ở nước ta. Các vấn đề được luận giải ở công trình này là cơ sở lý luận và
thực tiễn rất quan trọng, có thể kế thừa, phát triển để nghiên cứu về kết hợp
kinh tế với quốc phòng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
Nguyễn Đức Độ - Chủ nhiệm (2012), Tổng kết hoạt động kết hợp kinh tế
với quốc phòng trong lịch sử dân tộc Việt Nam trước 1930, Viện Khoa học xã
hội nhân văn quân sự, Hà Nội [32]. Đề tài đã phân tích những chủ trương, hình
thức, biện pháp kết hợp kinh tế với quốc phòng trong lịch sử của dân tộc Việt
Nam từ khi lập nước đến năm 1930 (chủ yếu từ đầu thế kỷ X đến năm 1930).
Đặc biệt đề tài đã khái quát những bài học kinh nghiệm kết hợp kinh tế với
quốc phòng trong lịch sử dân tộc và định hướng vận dụng những bài học này
trong giai đoạn hiện nay.
Trần Đăng Bộ - Chủ nhiệm (2013), Tổng kết hoạt động kết hợp kinh tế
với quốc phòng ở Việt Nam giai đoạn 1930 - 1975, Viện Khoa học xã hội
nhân văn quân sự, Hà Nội [11]. Đề tài đã tập trung nghiên cứu chủ trương và
thực tiễn hoạt động kết hợp kinh tế với quốc phòng, trọng tâm là thời kỳ
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975). Trên cơ sở đó
khái quát một số bài học kinh nghiệm về kết hợp kinh tế với quốc phòng giai
đoạn này và ý nghĩa của các bài học đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam trong tình hình mới.
nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta. Tuy nhiên, công
trình này chưa đi vào nghiên cứu kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh ở
lĩnh vực hay ở từng địa phương cụ thể.
Dương Văn Minh - Chủ nhiệm (2012), Kết hợp kinh tế với quốc phòng, an
ninh và đối ngoại ở Việt Nam trong tình hình mới, Viện Khoa học xã hội nhân
6
văn quân sự, Hà Nội [49]. Đề tài đã làm rõ quan niệm, nhân tố tác động, những
vấn đề đặt ra cần giải quyết và đề xuất quan điểm, giải pháp thực hiện kết hợp
kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại ở Việt Nam trong tình hình mới.
Trần Đăng Bộ (2011), “Kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối
ngoại trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng” Tạp chí Quốc phòng toàn dân,
số12 [8]. Bài viết đã chỉ rõ: sự kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối
ngoại là một trong các nguồn lực tạo thành sức mạnh quốc gia; là sự kết hợp
của nhiều yếu tố và phải được triển khai thực hiện với hệ thống các giải pháp
đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến cơ sở. Tuy nhiên, công trình trên chưa
đi vào nghiên cứu kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh, đối ngoại gắn với
từng địa phương cụ thể.
* Những công trình khoa học nghiên cứu về kết hợp kinh tế với quốc
phòng ở phạm vi ngành, lĩnh vực
Phạm Đức Nhuấn (2002), Xây dựng tiềm lực kinh tế quân sự Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quân sự, Hà
Nội [50]. Luận án đã đề cập tới việc xây dựng tiềm lực kinh tế quân sự Việt Nam
luôn gắn với tiềm lực kinh tế; tiềm lực khoa học kỹ thuật của xã hội; tiềm lực kinh
tế quân sự là cơ sở nền tảng cho KT - XH. Sự phát triển về kinh tế quân sự có ý
nghĩa trực tiếp cho sự phát triển quốc phòng, an ninh và xét trên một phương diện
khác, nó là động lực cho sự phát triển trên các mặt của đời sống xã hội.
Trần Đăng Bộ (2012), Một số vấn đề cơ bản về kết hợp công nghiệp
quốc phòng với công nghiệp dân dụng ở nước ta hiện nay, Nhà xuất bản
đảm quốc phòng; làm rõ quan điểm, chủ trương của Đảng, các nhân tố ảnh hưởng
và quá trình kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng ở Tây Nguyên
giai đoạn 1996 - 2010; rút ra một số kinh nghiệm về sự kết hợp đó ở Tây Nguyên.
Phạm Bằng Luân (2007), Phát triển kinh tế trang trại và vai trò của nó đối
với xây dựng tiềm lực quốc phòng các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc, Luận án
tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội [46]. Luận án đã trình bày khá
hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại; đồng
thời phân tích làm rõ vai trò của kinh tế trang trại đối với xây dựng tiềm lực quốc
phòng gắn với một địa bàn cụ thể. Đây là một trong những đóng góp mới của luận
8
án, tuy nhiên, kinh tế trang trại chỉ là một bộ phận nhỏ trong lĩnh vực nông
nghiệp, chưa phán ánh đầy đủ vấn đề kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng.
Vũ Văn Tài (2010), Nghiên cứu xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng
trên biên giới phía Bắc, Luận án tiến sĩ, Học viện Quốc phòng [53]. Tác giả
đã đề cập tới những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng các khu kinh tế quốc phòng trên biên giới phía Bắc; khẳng định những kết quả bước đầu đạt
được, có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong việc điều chỉnh lại dân cư, xây
dựng thế trận quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh phát triển KT - XH. Đồng thời
đề xuất một số giải pháp sát thực, khả thi cho việc xây dựng các khu kinh tế quốc phòng trên biên giới phía Bắc.
Bùi Thị Quỳnh Thơ (2015), “Một số giải pháp thu hút đầu tư vào Hà
Tĩnh”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số chuyên đề, 8/2015 [57]. Tác giả đánh
giá thành tựu, hạn chế hoạt động thu hút đầu tư ở Hà Tĩnh thời gian qua; đề
xuất những giải pháp đồng bộ, tạo cơ chế nhằm thu hút, quản lý có hiệu quả
các dự án đầu tư ở Hà Tĩnh thời gian tới.
Nguyễn Xuân Bé (2016), “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực - Nội
dung quan trọng trong nhiệm vụ đột phá của tỉnh Hà Tĩnh hiện nay”, Tạp chí
Cộng sản, số 5/ 2016 [2]. Bài viết khẳng định xây dựng và phát huy nguồn
nhân lực trong điều kiện CNH, HĐH và hội nhập quốc tế đối với một tỉnh mà
điểm xuất phát thấp như Hà Tĩnh là nhiệm vụ hết sức khó khăn. Do đó, việc
là hoàn toàn mới, không trùng lặp với các công trình đã công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn kết hợp kinh tế với quốc phòng trên
địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm và giải pháp đẩy mạnh
kết hợp kinh tế với quốc phòng thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải cơ sở lý luận về kết hợp kinh tế với quốc phòng trên địa bàn
tỉnh Hà Tĩnh;
- Khảo sát, đánh thực trạng kết hợp kinh tế với quốc phòng trên địa bàn
tỉnh Hà Tĩnh từ 2010 đến 2015;
10
- Đề xuất quan điểm và giải pháp đẩy mạnh kết hợp kinh tế với quốc
phòng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Kết hợp kinh tế với quốc phòng.
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Luận văn nghiên cứu kết hợp kinh tế với quốc phòng.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu sự kết hợp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
- Phạm vi thời gian: Luận văn tập trung phân tích, nghiên cứu, khảo sát
số liệu từ năm 2010 đến 2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Luận văn thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, trong đó chủ yếu sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu các vấn đề về lý luận và thực
tiễn kết hợp kinh tế với quốc phòng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
* Phương pháp nghiên cứu
quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ chính trị - xã hội, lợi ích quốc gia dân tộc
luôn ở trong trạng thái tự bảo vệ và được bảo vệ” [6, tr. 862].
Kết hợp kinh tế với quốc phòng là hoạt động có mục đích, được thực
hiện thông qua phương thức nhất định, do giai cấp nắm quyền lãnh đạo xã hội
tổ chức, quản lý nhằm gắn hoạt động kinh tế với hoạt động quốc phòng trong
một quá trình, làm cho mỗi hoạt động của xã hội đều dẫn đến sự mạnh lên của
kinh tế và quốc phòng; kinh tế phát triển sẽ là tiền đề vật chất, kỹ thuật để xây
dựng tiềm lực kinh tế quân sự và tăng cường sức mạnh quốc phòng; quốc
phòng vững mạnh sẽ là yếu tố bảo vệ và thúc đẩy kinh tế phát triển [9, tr. 9].
Kết hợp kinh tế với quốc phòng là phạm trù khách quan, nảy sinh trong quan
hệ KT - XH nhất định. Sự kết hợp này phản ánh hoạt động chủ quan của nhà
nước trên cơ sở nhận thức quy luật KT - XH nhằm gắn kết chặt chẽ hoạt động
kinh tế và hoạt động quốc phòng trong một chỉnh thể thống nhất.
Kết hợp kinh tế với quốc phòng diễn ra theo hai chiều, “kinh tế với quốc
phòng” và chiều ngược lại “quốc phòng với kinh tế”. Văn kiện Đại hội XI của
Đảng xác định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh; quốc phòng,
12
an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT XH; chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo” [25, tr. 234]. Văn kiện Đại
hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định và phát triển vấn đề trên: “Kết hợp chặt chẽ
kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội; chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo” [28, tr. 149].
Kết hợp kinh tế với quốc phòng, hiểu theo một nghĩa nhất định, là nói
đến hoạt động kết hợp kinh tế với quốc phòng của lực lượng làm kinh tế, trên
cơ sở hoạt động kinh tế để đạt được mục đích quốc phòng, phát triển kinh tế
để tăng cường sức mạnh quốc phòng. Ngược lại, kết hợp quốc phòng với kinh
tế là nói đến hoạt động kết hợp quốc phòng với kinh tế của lực lượng vũ
trang, trên cơ sở hoạt động quân sự, quốc phòng để đạt được mục tiêu kinh tế,
Quốc phòng phụ thuộc rất lớn vào tình trạng sức sản xuất và tính chất quan
hệ sản xuất hiện có của mỗi một quốc gia; hay kinh tế quyết định đối với quốc
phòng, thể hiện trên nhiều mặt, cả về nguồn gốc ra đời, tổ chức biên chế, vũ khí
trang bị, phương thức tác chiến… Xét đến cùng, kinh tế quyết định đến kết cục
của chiến tranh và sự thắng lợi trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Điều
này được Ph. Ăngghen nhấn mạnh: “Không có gì lại phụ thuộc vào những điều
kiện kinh tế tiên quyết hơn là chính ngay quân đội và hạm đội. Vũ trang, biên chế,
tổ chức, chiến lược, chiến thuật phụ thuộc trước hết vào trình độ của sản xuất đã
đạt được trong một thời điểm nhất định và vào phương tiện giao thông” [48, tr.
255]. Kết cục của chiến tranh và của “toàn bộ việc tổ chức và phương thức chiến
đấu của quân đội, và do đó thắng lợi hay thất bại đều rõ ràng phụ thuộc vào các
điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế, vào chất liệu của con người và của
vũ khí, nghĩa là vào chất lượng, số lượng của dân cư và của kỹ thuật” [48, tr. 241].
Kế tục quan điểm của Ph. Ăngghen, V.I.Lênin khẳng định: trong bất cứ
cuộc chiến tranh nào, kinh tế giữ vai trò quyết định, đặc biệt “trong chiến tranh
hiện đại, tổ chức kinh tế có một ý nghĩa quyết định” [42, tr. 260]. Và cũng theo
V.I.Lênin: “Muốn tiến hành chiến tranh một cách thực sự, phải có hậu phương
được tổ chức vững chắc. Một quân đội giỏi nhất, những người trung thành nhất
với sự nghiệp cách mạng đều sẽ lập tức bị kẻ thù tiêu diệt, nếu họ không được vũ
14
trang, tiếp tế lương thực và huấn luyện đầy đủ” [43, tr. 497]. Nếu “không chuẩn
bị hết sức đầy đủ về mặt kinh tế, thì việc tiến hành một cuộc chiến tranh hiện đại
chống chủ nghĩa đế quốc tiên tiến là điều không thể làm được” [43, tr. 475].
Bản chất của chế độ chính trị - xã hội giữ vai trò quyết định đến bản chất
chính nghĩa hay phi nghĩa của một cuộc chiến tranh, đến khả năng huy động được
nhiều hay ít các nguồn lực cho quốc phòng. V.I.Lênin khẳng định: “Khả năng
phòng thủ, sức mạnh ở một nước mà ngân hàng đã được quốc hữu hóa thì cao hơn
khả năng phòng thủ ở một nước mà ngân hàng nằm trong tay tư nhân. Sức mạnh
* Xuất phát từ tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp kinh tế với quốc phòng
Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp kinh tế với quốc phòng được thể
hiện ở những nội dung cơ bản sau:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng. Theo
Chủ tịch Hồ Chí Minh, kinh tế và quốc phòng là hai hoạt động thuộc hai lĩnh vực
khác nhau; song giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Phải thực hiện
kết hợp chặt chẽ hai lĩnh vực đó, bởi “Hai bên công việc khác nhau, nhưng thật ra là
hợp tác” [33, tr. 134] để cùng thực hiện kháng chiến và kiến quốc. Vai trò quyết
định của kinh tế đối với quốc phòng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, được thể hiện ở
khả năng bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật cho lực lượng vũ trang, “Cung cấp đủ
súng đạn, đủ cơm áo cho bộ đội, thì bộ đội mới đánh thắng trận, điều đó rất rõ ràng
dễ hiểu” [33, tr. 114]; hay là “Muốn đánh thắng thì quân ta phải ăn no. Muốn ăn no
thì phải có nhiều lương thực..., thực túc thì binh cường” [35, tr. 497]. Nhưng quân
sự, quốc phòng, chiến tranh không chỉ phụ thuộc vào kinh tế một cách thụ động mà
nó tác động trở lại đối với KT - XH, được Hồ Chí Minh chỉ ra: "Một khi chiến
tranh đã bùng nổ ở nơi nào, ảnh hưởng của nó sẽ lan tràn khắp các nơi khác. Chẳng
những thế, nó còn ảnh hưởng sâu sắc đến tất cả các hoạt động kinh tế, chính trị, văn
hoá của toàn xứ... Chiến tranh không những chỉ phát động trong địa hạt quân sự ở
tiền phương mà còn phát động cả trong địa hạt ở hậu phương" [33, tr. 498].
Kinh tế và quốc phòng có vị trí, vai trò khác nhau nên sự kết hợp giữa
chúng được tiến hành dưới những hình thức và mức độ khác nhau tùy thuộc vào
mức độ ưu tiên của từng nhiệm vụ theo phương châm: “Lúc chiến tranh thì quân
16
đội đánh giặc, lúc hòa bình thì tập luyện”[38, tr. 258]. Để kết hợp kinh tế với
quốc phòng có hiệu quả, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, một mặt, phải nhận thức
đúng vai trò của từng lĩnh vực, từng nhiệm vụ, chống mọi biểu hiện lệch lạc, chủ
quan như: chỉ coi trọng xây dựng kinh tế mà xem thường xây dựng quân đội,
củng cố quốc phòng, hoặc ngược lại. Mặt khác, phải động viên ngành công
góp công sức, vật chất, trí tuệ cho kháng chiến, để mỗi công dân là một chiến
sĩ, mỗi làng là một chiến hào. Nhờ đó mà huy động tối đa sức người, sức của
cho kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công.
Tư tưởng về xây dựng căn cứ địa và hậu phương cho tiền tuyến trong
chiến tranh. Đây là sự vận dụng sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối
quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng. Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận ra ý
nghĩa quan trọng của căn cứ địa và hậu phương đối với kết quả hoạt động của
lực lượng vũ trang ngoài tiền tuyến. Sẽ không có thắng lợi nào ở nơi tiền
tuyến nếu như không có sự đóng góp, chi viện thường xuyên về nhân tài, vật
lực của hậu phương cho tiền tuyến. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, căn cứ
địa và hậu phương là "nơi đứng chân làm cơ sở" cho lực lượng vũ trang hoạt
động, nơi “đội du kích tích trữ lương thực, thuốc đạn, lâu lâu về đó nghỉ ngơi,
luyện tập” [33, tr. 536]. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, căn cứ địa và hậu
phương chiến lược phải là nơi đủ mạnh để tự bảo vệ khi bị tấn công, đáp ứng
yêu cầu trước mắt cho cuộc kháng chiến, đồng thời chuẩn bị tiền đề xây dựng
và phát triển kinh tế, kiến thiết đất nước sau chiến tranh. Phương châm đó thể
hiện trong tư tưởng “Nếu cần phải thoái, thì kiến thiết thế nào? Kháng chiến
thắng lợi, thì kiến thiết thế nào?” [33, tr. 545]. Do đó, theo Người căn cứ địa
và hậu phương chiến lược phải được xây dựng và phát triển toàn diện trên tất
cả các mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, ngoại giao.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về sử dụng quân đội tham gia phát triển kinh tế.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mặc dù đánh giặc cứu nước là nhiệm vụ chủ
yếu của quân đội, song bên cạnh đó quân đội còn phải tích cực tăng gia sản
xuất. Đó là việc làm có nghĩa thiết thực để vừa khắc phục sự bao vây của kẻ
thù đối với nền kinh tế nước ta lúc bấy giờ; vừa góp phần làm giảm bớt phần
nào gánh nặng của nền kinh tế trong việc đáp ứng các yêu cầu của chiến
18
tranh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tuy công việc chuyên môn vẫn là
20
phản ánh sự nhận thức đúng đắn và vận dụng linh hoạt, sáng tạo của Đảng về kết
hợp kinh tế với quốc phòng, được thể hiện trên những vấn đề cơ bản sau:
Về mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng, mục tiêu, nội dung,
phương thức kết hợp kinh tế với quốc phòng. Đây là những vấn đề lớn được
Đảng ta thường xuyên quan tâm và có sự bổ sung, phát triển. Theo quan điểm
của Đảng ta, kinh tế và quốc phòng tuy là hai công việc thuộc hai lĩnh vực,
nhưng giữa chúng có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau. Vì vậy, vừa
“phải giải quyết đúng mối quan hệ giữa xây dựng kinh tế và củng cố quốc
phòng” [21, tr. 535], đồng thời “Phải kết hợp củng cố quốc phòng với xây dựng
hậu phương vững chắc” [20, tr. 3] nhằm “Cung cấp đủ súng đạn, đủ cơm áo
cho bộ đội thì bộ đội mới đánh thắng trận” [36, tr. 179]. Trong thời kỳ đổi mới,
mối quan hệ giữa kinh tế và quốc phòng được Đảng ta nhiều lần khẳng định,
KT - XH phát triển không chỉ tạo cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn lực kinh tế cho
tăng cường tiềm lực quốc phòng, mà còn tạo cơ sở chính trị - xã hội thuận lợi
cho việc nâng cao ý thức trách nhiệm của toàn dân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ
quốc. Đảng ta xác định: “Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống
KT - XH là nền tảng vững chắc của quốc phòng, an ninh” [25, tr. 82].
Trong công cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, Đảng
lãnh đạo kết hợp kinh tế với quốc phòng thông qua đường lối “vừa kháng
chiến vừa kiến quốc”. Kháng chiến là để giành và giữ vững nền độc lập, tự
do của dân tộc. Muốn kháng chiến mau thắng lợi phải xây dựng căn cứ địa,
hậu phương vững chắc. Trong hoàn cảnh nước ta phải tiến hành một cuộc
kháng chiến không cân sức chống kẻ thù xâm lược mạnh hơn nhiều lần, thì
điều đó càng cấp thiết hơn. Kiến quốc, xây dựng chế độ KT - XH mới về
mọi mặt, thực sự đưa lại quyền lợi cho nhân dân là phát huy thành quả của
cách mạng, đồng thời cũng là tạo dựng căn cứ địa - hậu phương vững mạnh,
làm cơ sở để giành thắng lợi trong kháng chiến. Kháng chiến và kiến quốc
tế với các nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh thường xuyên vững chắc.
Những năm cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980, trong lúc nền
kinh tế đang bị kiệt quệ sau tàn phá của chiến tranh, chủ trương Đại hội IV với
mục tiêu nhanh chóng phục hồi nền kinh tế mới chỉ được thực hiện bước đầu
22
thì đất nước lại gặp nhiều khó khăn phức tạp mới, vừa phải đương đầu với hai
cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, lại bị chủ
nghĩa đế quốc bao vây, cấm vận kinh tế. Mặt khác, về cơ chế quản lý kinh tế
thời kỳ này ở nước ta vẫn tiếp tục thực hiện theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung.
Thực tế, cơ chế này trước đó đã góp phần tích cực vào huy động nguồn lực cho
kháng chiến chống Mỹ thắng lợi nhưng khi lịch sử đất nước chuyển giai đoạn
mới thì trong nó đã tiềm ẩn những yếu tố không tạo động lực cho sự phát triển;
tình trạng lạm phát tăng cao, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn; xuất hiện
những biểu hiện của tư tưởng lệch lạc, như chỉ coi trọng phát triển kinh tế, xem
nhẹ củng cố quốc phòng, hoặc ngược lại. Trước tình hình đó, cùng với chủ
trương tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế, Đảng ta vẫn kiên trì đường lối kết
hợp kinh tế với phòng, phát huy những kết quả xây dựng kinh tế để bảo đảm
cho quốc phòng. Đại hội V của Đảng tiếp tục khẳng định: "Kết hợp chặt chẽ
kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, từng bước phát triển công
nghiệp quốc phòng đi đôi với tăng cường tiềm lực kinh tế của đất nước". [19,
tr. 44]. Từ quan điểm trên cho thấy, mặc dù trong thời kỳ này đất nước đã hoàn
toàn độc lập, thống nhất, công cuộc xây dựng đất nước trong điều kiện thời
bình, Đảng ta vẫn tiếp tục nhận thức đúng đắn về kết hợp chặt chẽ kinh tế với
quốc phòng và khẳng định xây dựng đi đôi với bảo vệ Tổ quốc là yêu cầu cấp
thiết, liên quan đến sự sống còn của dân tộc.
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta chủ trương kết hợp kinh tế với quốc
phòng theo phương hướng cơ bản, lâu dài; kết hợp toàn diện, chú trọng những
vùng chiến lược, địa bàn trọng điểm nhằm chuẩn bị sớm, từ trước về mọi mặt
gắn kết đó có sự khác nhau. Ngay ở mỗi nước, sự kết hợp kinh tế với quốc
phòng trong từng giai đoạn phát triển cũng không hoàn toàn giống nhau. Kết
hợp kinh tế với quốc phòng ở nước ta, không những là một tất yếu khách
quan mà còn là vấn đề gắn liền quy luật “dựng nước đi đôi với giữ nước” và
là một truyền thống qúy báu trong lịch sử dân tộc.
Các triều đại phong kiến trước đây, thời nào cũng vậy, đứng trước nguy cơ
thường xuyên bị các thế lực bên ngoài đe dọa và xâm lược, để tồn tại và phát triển
đất nước, các triều đại luôn lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm trọng, đề ra kế sách
24
giữ nước với tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc, khoan thư sức dân làm kế sách sâu
rễ bền gốc”. Khi đất nước hòa bình luôn chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết các
dân tộc, phát triển sản xuất đi đôi với chăm lo củng cố thế trận phòng thủ, xây
dựng tiềm lực quân sự theo quan điểm “ngụ binh nông”, “động vi binh, tĩnh vi
dân”. Xây dựng kinh tế bằng việc khai hoang, lập ấp ở những nơi xung yếu để
“phục binh sẵn, phá thế giặc”; phát triển nghề thủ công để cung cấp vũ khí,
phương tiện cho toàn dân đánh giặc; mở mang đường sá, xây dựng đê điều, đào
sông, lấn biển, vừa phát triển sản xuất, vừa sẵn sàng chống giặc và tạo thuận lợi
cho việc cơ động lực lượng lên các vùng biên ải; thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng những người có chí lớn, tài cao và thấm nhuần đạo lý dân tộc; lấy nhân
nghĩa làm cốt lõi và nhiều kế sách khác để đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc.
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời lãnh đạo cách mạng Việt Nam,
do nắm bắt được quy luật, biết kế thừa kinh nghiệm lịch sử nên đã thực hiện
kết hợp kinh tế với quốc phòng một cách nhất quán bằng những chủ trương,
giải pháp sáng tạo, phù hợp với từng thời kỳ, từng giai đoạn của cách mạng
Việt Nam, nhất là từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), Đảng đề ra chủ
trương "Vừa kháng chiến vừa kiến quốc"; tiến hành phát triển kinh tế ở hậu
phương với tiến hành chiến tranh nhân dân rộng khắp ở mọi nơi địch đến; xây
1.2. Quan niệm, nội dung và yếu tố ảnh hưởng đến kết hợp kinh tế
với quốc phòng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
1.2.1. Quan niệm về kết hợp kinh tế với quốc phòng trên địa bàn
tỉnh Hà Tĩnh
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về kết hợp kinh tế
với quốc phòng; kế thừa, phát triển các quan niệm về kết hợp kinh tế với quốc
phòng của các công trình nghiên cứu gần đây ở nước ta, có thể hiểu: Kết hợp
kinh tế với quốc phòng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh là tổng thể các hoạt động
của chủ thể nhằm gắn kết lĩnh vực kinh tế và quốc phòng trong một chỉnh thể
thống nhất, tạo điều kiện cho nhau, thúc đẩy nhau từng bước phát triển, góp
phần tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến
lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên địa bàn Tỉnh.
26
Mục đích kết hợp kinh tế với quốc phòng là một bộ phận trong mục
tiêu phát triển KT - XH, là cái đích cần đạt tới trong các hoạt động kinh tế và
quốc phòng trong một phạm vi không gian, thời gian xác định. Mục đích kết
hợp kinh tế với quốc phòng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh là nhằm khai thác, sử
dụng hiệu quả nhất các nguồn lực, thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu nhiệm vụ
phát triển kinh tế và tăng cường sức mạnh quốc phòng. Làm cho hai nhiệm vụ
phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng được thực hiện nhịp nhàng, cân đối,
thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển. Mỗi bước phát triển của kinh tế có tác dụng
nâng cao sức mạnh quốc phòng và mỗi bước phát triển của quốc phòng lại tạo
thêm điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát triển, tăng cường khả năng bảo vệ
đất nước, sẵn sàng đối phó thắng lợi với mọi âm mưu xâm lược và phá hoại
của các thế lực thù địch.
Hoạt động kết hợp kinh tế với quốc phòng đối với từng vùng lãnh thổ,
từng địa phương và trên phạm vi cả nước nói chung luôn đặt dưới sự lãnh đạo
của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước. Theo cơ chế phân cấp trong