1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
------------------
TRẦN CHÍ THÀNH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
1
2
HÀ NỘI, NĂM 2019
2
3
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
---------------------------------------
TRẦN CHÍ THÀNH
4
5
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản
thân, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình, sự đóng góp quý báu của nhiều
cá nhân và tập thể.
Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Ban
Giám hiệu, Khoa Sau Đại học trường Đại học Thương Mại đã tạo điều kiện thuận
lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Mai
Thanh Lan đã tận tình hướng dẫn, chỉ đạo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
hiện luận văn!
Tôi xin trân trọng cảm ơn UBND, Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh
Hà Nam, trường Cao đẳng nghề Hà Nam, trường Trung cấp nghề công nghệ Hà
Nam, trường Dạy nghề huyện Bình Lục, Trung tâm Dạy nghề và Giới thiệu việc
làm huyện Lý Nhân, Trung tâm Dạy nghề và Giới thiệu việc làm huyện Duy Tiên…
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cung cấp số liệu, tài liệu, ý kiến đóng góp… và giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này!
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động
viên khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu!
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2019
ĐVT
: Đơn vị tính
DN
: Doanh nghiệp
LĐ
: Lao động
GDNN-GDTX
: Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên
THCS
: Trung học cơ sở
THPT
: Trung học phổ thông
TB-XH
: Thương binh - xã hội
UBND
7
DANH MỤC BẢNG BIỂU
7
8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc cách mạng khoa học đang phát triển với tốc độ nhanh và có những bước
nhảy vọt, công nghệ mới tiên tiến, hiện đại ngày càng được áp dụng nhiều trong các
ngành sản xuất, nhiều ngành nghề mới xuất hiện đòi hỏi người lao động luôn phải
cập nhật, bổ xung kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp để có thể thích ứng với những
thay đổi trong sản xuất.
Trong những năm qua, thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đã
mang lại cho đất nước ta những thành tựu to lớn, nền kinh tế đã đạt tốc độ tăng
trưởng cao, cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch mạnh theo hướng CNH - HĐH. Các
vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu chế xuất ngày càng được đầu tư
xây dựng, mở rộng và phát triển; Đầu tư trong nước, đầu tư quốc tế ngày càng tăng,
công nghệ mới tiên tiến hiện đại được áp dụng trong sản xuất ngày càng nhiều đòi
hỏi lực lượng lao động phải được nâng cao về chất lượng, tăng về số lượng đặc biệt
đối với lực lượng lao động chuyên môn kỹ thuật. Cũng từ đó công tác dạy nghề
luôn phải có sự đổi mới và phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lao động
có chuyên môn kỹ thuật đáp ứng được những đòi hỏi trong sản xuất cũng như ở thị
trường lao động.
Hà Nam là một trong những tỉnh đông dân cư, có truyền thống hiếu học, cần
cù, sáng tạo. Đây là lợi thế của tỉnh trong việc cung cấp nguồn nhân lực để phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội. Công tác đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong
những năm gần đây đã có những thay đổi đáng kể, đóng góp tích cực vào sự phát
2. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thời gian gần đây có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về đào tạo nghề và quản
lý công tác đào tạo nghề trong các cơ sở đào tạo và địa phương. Điều này chứng tỏ
đào tạo nghề và quản lý công tác đào tạo nghề ngày càng được quan tâm, trở thành
đề tài nóng hổi không chỉ trên các diễn đàn giáo dục và đào tạo, các trang truyền
thông chính thống mà còn được các tác giả đưa vào công trình nghiên cứu khoa học
cấp bộ, cấp quốc gia.
Luận văn thực hiện nghiên cứu về quản lý công tác đào tạo nghề trên địa bàn
tỉnh Hà Nam dựa vào một số công trình nghiên cứu có liên quan như:
Phan Chính Thức (2003), “Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần
9
10
đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, luận án
tiến sỹ, Đại học Sư phạm Hà Nội. Đề tài đã đi sâu nghiên cứu, đề xuất những khái
niệm, cơ sở lý luận mới về đào tạo nghề, về lịch sử đào tạo nghề và giải pháp phát
triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nước. Nghiên cứu này góp phần bổ sung cơ sở lý luận về đào
tạo nghề, đồng thời cung cấp một số giải pháp phát triển đào tạo nghề cho các nhà
quản lý tại các cơ sở đào tạo.
Trần Ngọc Quang (2007), “Một số biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo của trường Trung cấp nghề Kinh tế Kỹ thuật số 1 Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam”, luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học
Vinh. Trong bài nghiên cứu, tác giả đã hệ thống cơ sở lý luận về quản lý chất lượng
đội ngũ giáo viên dạy nghề, đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của các trường dạy nghề
trong sự phát triển của nền kinh tế của đất nước. Từ thực trạng đội ngũ giáo viên
dạy nghề hiện nay và của trường Trung cấp nghề Kinh tế Kỹ thuật số 1 - Tổng Liên
đoàn Lao động Việt Nam, tác giả đề xuất năm nhóm biện pháp gồm: nhóm biện
pháp quản lý, nhóm biện pháp bồi dưỡng năng lực trình độ chuyên môn nghiệp vụ,
nhóm biện pháp kiểm định chất lượng, nhóm biện pháp bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
Lại Xuân Hạnh (2015), “Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề đáp
ứng nhu cầu thị trường lao động tỉnh Nam Định”, luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học
Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội. Tác giả đã hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực
tiễn phát triển đào tạo nghê; đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo nghề trên địa
bàn tỉnh Nam Định. Trên cơ sở thành tựu và hạn chế trong công tác đào tạo nghề,
tác giả đề xuất 05 giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề trên địa bàn
tỉnh Nam Định gồm: giải pháp về công tác tuyên truyền, về quy hoạch mạng lưới cơ
sở dạy nghề, về điều kiện đảm bảo cho hoạt động dạy nghề, giải pháp gắn kết dạy
nghề với doanh nghiệp và các nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách. Các nghiên
cứu của tác giả góp phần cung cấp cơ sở lý luận về dạy nghề, đồng thời những giải
pháp được đề xuất là nguồn tài liệu tham khảo để các địa phương nâng cao chất
lượng đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động hiện nay.
Phạm Thị Tuyến (2015), Đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Hiệp
Hoà, tỉnh Bắc Giang, luận văn thạc sĩ Quản trị nhân lực, Đại học Lao động - Xã
hội. Trong bài nghiên cứu của mình, tác giả đã hệ thống hoá cơ sở lý luận về đào tạo
11
12
nghề cho lao động nông thôn, đánh giá những thành công và hạn chế trong công tác
đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Hiệp Hoà và xác định 05 giải pháp
nhằm phát triển công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Hiệp Hoà,
tỉnh Bắc Giang. Các giải pháp đề xuất có tính thực tiễn và khả thi cao nên sẽ là
nguồn tài liệu tham khảo cho công tác đào tạo nghề trên địa bàn huyện Hiệp Hoà
nói riêng và các địa phương khác trong cả nước nói chung.
Huỳnh Ngọc Hoa (2016), “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào
tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai”, Đại học Lâm
nghiệp. Đề tài nghiên cứu về những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chất
lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn, trong đó tập trung vào các vấn đề về
chất lượng cơ sở đào tạo; các phương thức, loại hình, cơ chế tổ chức đào tạo nghề;
động đào tạo nghề.
- Đánh giá thực trạng quản lý công tác đào tạo nghề của tỉnh Hà Nam trong giai đoạn
2015 - 2017, từ đó chỉ ra được những thành công và tồn tại cũng như những bài học
kinh nghiệm của quản lí công tác đào tạo nghề của tỉnh.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lí hoạt động đào tạo nghề
cho tỉnh Hà Nam trong giai đoạn tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý hoạt động đào tạo nghề trên địa
bàn tỉnh Hà Nam (các trường Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề và các cơ sở có đăng
ký hoạt động đào tạo nghề)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu về quản lý hoạt động đào tạo nghề trên địa bàn
tỉnh Hà Nam, bao gồm: hoạch định chính sách, chương trình đào tạo nghề của tỉnh
và kiểm soát công tác đào tạo nghề tại các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh.
- Về không gian:
Chỉ nghiên cứu quản lý hoạt động đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
- Về thời gian
Đề tài nghiên cứu thực trạng và phân tích các số liệu trong giai đoạn 2015 đến
2017 và đề xuất giải pháp đến năm 2025.
13
14
5. Phương pháp nghiên cứu
14
15
+ Lấy ý kiến chuyên gia: nhằm nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của
họ cho việc nhìn nhận về thực trạng về chất lượng đào tạo nghề và đặc biệt để đưa
ra những giải pháp cũng như mô hình đào tạo cho việc phát triển đào tạo nghề tại
tỉnh Hà Nam.
5.3 Phương pháp tổng hợp xử lý số liệu
- Đối với thông tin thứ cấp : Sau khi thu thập được các thông tin thứ cấp, tiến
hành phân loại, sắp xếp thông tin theo thứ tự ưu tiên về độ quan trọng của thông tin.
Đối với các thông tin là số liệu thì tiến hành lập các bảng, biểu, sơ đồ...
- Đối với thông tin sơ cấp : Phiếu điều tra sau khi hoàn thành sẽ được kiểm tra
và nhập vào máy tính bằng phần mềm Excel 2007 để tiến hành xử lý tổng hợp.
Riêng đối với các phiếu khảo sát người lao động sau khi thu thập phiếu sử dụng
phần mềm stata xử lý, phân tích số liệu.
6. Đóng góp mới của đề tài
- Luận văn nghiên cứu một cách hệ thống lý luận về quản lý hoạt động đào tạo
nghề, qua đó góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận về quản lý hoạt động đào tạo
nghề trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
- Luận văn nghiên cứu về thực trạng quản lý hoạt động đào tạo nghề trên địa
bàn tỉnh Hà Nam, đánh giá kết quả và tồn tại của công tác này, tìm ra nguyên nhân
làm cơ sở đưa ra giải pháp khắc phục.
- Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý hoạt động đào
tạo nghề trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là bài học kinh nghiệm quý báu cho công
tác phát triển đào tạo nghề cho tỉnh và các địa phương khác.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục và các danh mục nội
dung chính của đề tài luận văn gồm 3 chương cơ bản sau:
Tổng quan lại, có thể thấy: Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao
động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang tính tương đối,
nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội.
Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta
có thể nhận thấy một số nét đặc trưng nhất định sau: đó là hoạt động, là công việc
về lao động của con người được lặp đi lặp lại; là sự phân công lao động xã hội, phù
16
17
hợp với yêu cầu xã hội; là phương tiện để sinh sống; là lao động kỹ năng, kỹ xảo
chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo
nhất định.
Thứ hai, khái niệm đào tạo
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư mở, đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng
thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể để người
học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, nghề nghiệp một cách có hệ
thống để chuẩn bị cho người học đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận
được một công việc nhất định.
Để hiểu bản chất của đào tạo cần xuất phát từ những khái niệm gốc “giáo dục”
và “đào tạo”. Từ điển Tiếng Việt có sự phân biệt giữa “giáo dục” là “đào tạo”.
“Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền
cho lớp người mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự
nhiên, về xã hội và tư duy, để họ có thể có đủ khả năng tham gia vào lao động và
đời sống xã hội” [27, tr 350]. Còn “Đào tạo là sự đào luyện, gây dựng, làm phát
triển và bồi dưỡng khả năng”.
Tổng quan lại đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm
truyền đạt các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng
lực để thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội cần thiết.
Mục tiêu chung của giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp
cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ
đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo,
thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng
cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành
khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn.
Theo Điều 4 Luật Giáo dục nghề nghiệp: Mục tiêu cụ thể đối với từng trình độ
của giáo dục nghề nghiệp được quy định như sau:
- Đào tạo trình độ sơ cấp để người học có năng lực thực hiện được các công
việc đơn giản của một nghề;
- Đào tạo trình độ trung cấp để người học có năng lực thực hiện được các công
việc của trình độ sơ cấp và thực hiện được một số công việc có tính phức tạp của
18
19
chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc,
làm việc độc lập, làm việc theo nhóm;
- Đào tạo trình độ cao đẳng để người học có năng lực thực hiện được các công
việc của trình độ trung cấp và giải quyết được các công việc có tính phức tạp của
chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện
đại vào công việc, hướng dẫn và giám sát được người khác trong nhóm thực hiện
công việc.
Người học nghề được tham gia đào tạo với hai hình thức:
Đào tạo chính quy: là hình thức đào tạo theo các khóa học tập trung toàn bộ
thời gian do cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp có
đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp (sau đây gọi chung là cơ sở hoạt động giáo
dục nghề nghiệp) thực hiện để đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng.
Đào tạo thường xuyên: là hình thức đào tạo vừa làm vừa học, học từ xa hoặc
tự học có hướng dẫn đối với các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp, trung cấp, cao
những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu
của xã hội và nhu cầu bản thân người học nghề. Đào tạo nghề có vai trò quan trọng
trong vấn đề cung ứng nhân lực kỹ thuật, công nhân, nhân viên trực tiếp lao động
cho xã hội.
1.1.1.2. Quản lý hoạt động đào tạo nghề
Tư tưởng và quan điểm “quản lý” đã có từ cách đây hơn 2500 năm nhưng cho
đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vấn đề quản lý theo khoa học mới xuất hiện.
Người khởi xướng là Fredrich Winslow Taylor với cuốn sách “Các nguyên tắc quản
lý theo khoa học”. Theo ông, người quản lí phải là nhà tư tưởng, nhà lên kế hoạch
chỉ đạo tổ chức công việc.
Trong cuốn “Khoa học Tổ chức và Quản lý”, tác giả Đặng Quốc Bảo quan
niệm: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra
những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ
20
21
chức để đạt được những mục tiêu cụ thể”.
Từ các định nghĩa được nhìn nhận từ nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng tất cả
các tác giả đều thống nhất về cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là trả lời câu hỏi; Ai
quản lý? (Chủ thể quản lý); Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Khách thể quản lý); Quản
lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (Công cụ quản lý);
quản lý để làm gì? (Mục tiêu quản lý). Từ đó tác giả đưa ra khái niệm:
Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối
tượng quản lý bằng việc vận dụng các chức năng và phương tiện quản lý, nhằm sử dụng
có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra.
Quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội. Bất kỳ ở đâu, lúc nào
con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất hiện quản
lý. Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động
nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách
tạo, bồi dưỡng, bổ sung đội ngũ cán bộ, giáo viên và đầu tư, phát triển cơ sở vật
chất - kỹ thuật) cho các cơ sở đào tạo nghề thuộc địa phương.
- Hướng dẫn tổ chức thực hiện sau khi kế hoạch được phê duyệt.
- Kiểm tra việc tổ chức thực hiện quy chế, nội dung chương trình đào tạo nghề
và việc chấp hành pháp luật, chính sách chế độ về đào tạo nghề đối với các cơ sở
đào tạo nghề thuộc địa bàn tỉnh quản lí.
Như vậy, quản lý công tác đào tạo nghề của tỉnh là sự tác động của các chủ
thể quản lí đến công tác đào tạo nghề tại các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh
với các nội dung hoạch định chương trình, chính sách; tổ chức và kiểm tra, đánh
giá công tác đào tạo nghề nhằm đạt được các mục tiêu đào tạo nghề đề ra.
1.1.2 Mục tiêu quản lý hoạt động đào tạo nghề của tỉnh
Thứ nhất, đảm bảo chất lượng đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH.
Với nhu cầu nhân lực của thị trường lao động ngày càng cao, không chỉ đơn
thuần là đảm bảo chất lượng nhất định mà còn phải tính đến sự phù hợp và thích
ứng với công việc trên thị trường lao động nên tránh được hiện tượng mất cân đối,
vừa thừa vừa thiếu nhân lực. Quản lí công tác đào tạo nghề giúp định hướng đúng
nghề đào tạo mà nhu cầu xã hội cần, yêu cầu công việc mà thị trường cần…, định
hướng cho các cơ sở đào tạo nghề (CSĐTN) bắt kịp xu hướng của thị trường lao
22
23
động, đảm bảo người học sau khi ra trường có chất lượng đáp ứng nhu cầu của thị
trường lao động, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, góp phần
phát triển KT-XH của đất nước.
Thứ hai, đảm bảo cho người học nhận được chất lượng đào tạo tương xứng
với chi phí học tập. Nhờ quản lí công tác đào tạo nghề nên chất lượng đào tạo nghề
tại các cơ sở đào tạo sẽ được đảm bảo, trật tự và kỷ cương trong hoạt động đào tạo
nghề được duy trì, người học khi tham gia chương trình đào tạo nghề sẽ được
hưởng đầy đủ các quyền lợi của mình.
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội là cơ quan thuộc Chính phủ có chức
năng quản lý nhà nước về đào tạo nghề ở trung ương, chịu trách nhiệm trước chính
phủ thực hiện quản lý nhà nước về đào tạo nghề với các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát
triển đào tạo nghề; Xây dựng và tổ chức thực hiện các văn bả quy phạm pháp luật
về đào tạo nghề; Quy định mục tiêu, nội dung và phương pháp đào tạo; tiêu chuẩn
nhà giáo, danh mục đào tạo ở các trình độ, tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị đào
tạo; ban hành quy chế tuyển sinh, kiểm tra, thi, xét công nhận tốt nghiệp và cấp văn
bằng, chứng chỉ đào tạo nghề; Quy định việc đăng ký và cấp giấy chứng nhận đăng
ký hoạt động đào tạo nghề; Quản lý và tổ chức thực hiện việc kiểm định chất lượng
giáo dục; Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động đào tạo
nghề; Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về đào tạo nghề; Giải quyết
khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đào tạo nghề… trình Chính phủ quy
định hoặc quy định theo sự phân cấp của Chính phủ để thi hành thống nhất trong cả
nước…
Tổng cục Dạy nghề thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, trực tiếp quản
lý CSĐTN tại các tỉnh, thành phố, huyện, xã.
Tổ chức bộ máy quản lí công tác đào tạo nghề được thể hiện qua sơ đồ sau:
Quốc hội
Chính phủ
Chính quyền địa phương
Bộ LĐTB-XH
Tổng cục dạy nghề
24 nghề
Cơ sở dạy
trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng…).
25