2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.............................................................................................................................3
Chương 1...........................................................................................................................11
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN
CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC...........................................................................................11
1.1. Những vấn đề chung về đào tạo theo học chế tín chỉ.........................................11
1.2. Những khái niệm cơ bản của đề tài.....................................................................17
1.3. Nội dung quản lý hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường đại học ...23
1.4. Những nhân tố tác động đến quản lý hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ ở
trường đại học..............................................................................................................31
Chương 2...........................................................................................................................36
CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ
TÍN CHỈ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI ...................................36
2.1. Đặc điểm Trường Đại học Lao động - Xã hội tác động đến hoạt động đào tạo
theo học chế tín chỉ ....................................................................................................36
2.2. Thực trạng hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ ở Trường Đại học Lao
động – Xã hội................................................................................................................39
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ ở Trường Đại học
Lao động – Xã hội........................................................................................................43
Chương 3...........................................................................................................................69
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ CỦA TRƯỜNG
ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI.................................................................................69
3.1. Những yêu cầu xây dựng biện pháp quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ ......69
3.2. Hệ thống biện pháp quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ của Trường Đại học
Lao động – Xã hội........................................................................................................70
3.3. Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp ...............................90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.........................................................................................95
...........................................................................................................................................98
chất lượng và từng bước đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, phương
pháp giảng dạy, tổ chức thi, đánh giá kết quả học tập theo hướng lấy người
học là trung tâm của quá trình đào tạo. Nhà trường đang tích cực triển khai
4
chuyển đổi từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ theo
chủ trương và lộ trình thực hiện của Bộ GD&ĐT cũng như của sự nghiệp đổi
mới nền GD &ĐT của nước ta hiện nay. Ngày 25 tháng 12 năm 2012 Trường
Đại học Lao động – Xã hội ra Quyết định số 1803/QĐ-ĐHLĐXH về việc
công bố chuẩn đầu ra các ngành trình độ đại học và cao đẳng, Quyết định này
áp dụng từ đại học khóa 9, cao đẳng khóa 17 (năm học 2013-2014). Chuẩn
đầu ra là một trong những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, là
cam kết của các cơ sở giáo dục đại học về chất lượng đào tạo đối với xã hội
và năng lực người học sau khi tốt nghiệp. Công khai với xã hội về năng lực
đào tạo và các điều kiện đảm bảo chất lượng của trường để: Người học, phụ
huynh, nhà tuyển dụng biết và giám sát; Thực hiện những cam kết của nhà
trường với xã hội về chất lượng đào tạo để cán bộ quản lý, giảng viên và
người học nỗ lực vươn lên trong giảng dạy và học tập; Đổi mới công tác quản
lý đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy, phương pháp kiểm tra đánh giá
và đổi mới phương phương pháp học tập; đồng thời, xác định rõ nghĩa vụ và
nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên trong các hoạt
động giảng dạy, phục vụ giảng dạy và quản lý nhằm giúp người học vươn lên
trong học tập và tự học để đạt chuẩn đầu ra. Tiếp theo đó để từng bước hoàn
thiện công tác quản lý ngày 27 tháng 8 năm 2013 Nhà trường ra Quyết định
1482/QĐ-ĐHLĐXH về việc ban hành “Quy định đào tạo đại học và cao đẳng
hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”. Quyết định số 1540/QĐ-ĐHLĐXH ngày
09 tháng 9 năm 2013 về việc ban hành Quy định kiểm tra, thi kết thúc học
phần theo hệ thống tín chỉ.
Qua thời gian khảo sát tại Đại học Giáo dục thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội,
Khoa Quản lý giáo dục Trường đại học Sư phạm Hà Nội 1, tác giả có một số
đánh giá như sau:
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục của Nguyễn Phương
Thuý với đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo tại Trường Đại học
Thuỷ Lợi theo hệ thống tín chỉ”, năm 2013; đề tài này nêu lên cơ sở lý luận,
thực trạng công tác quản lý hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ tại Trường
Đại học Thuỷ Lợi.
6
Tác giả Lê Thị Thanh Hà với đề tài “Quản lý hoạt động dạy học ở
Trường Cao đẳng sư phạm Lào Cai đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín
chỉ” đề tài bảo vệ năm 2011 tại trường Đại học sư phạm Hà Nội với đề tài này
có nội dung về lý luận, thực trạng và một số biện pháp quản lý hoạt động dạy
học ở Trường Cao đẳng Sư phạm Lào Cai đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học
chế tín chỉ.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục tại Khoa Quản lý giáo
dục Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1 với đề tài “Các biện pháp quản lý
hoạt động dạy học của Phòng Đào tạo Trường cao đẳng Sư phạm Thái
Nguyên” đề tài chỉ nghiên cứu và đưa các giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo thông qua quản lý hoạt động dạy học của Phòng Đào tạo thuộc
Trường.
Tác giả Nguyễn Bá Khương với luận văn thạc sĩ ngành QLGD của mình
nghiên cứu đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên tại Học
viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông trong đào tạo theo tín chỉ”, năm 2012
tại Trường Đại học Giáo dục thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội cũng đã nghiên
cứu lý luận, thực tiễn và đưa ra các biện pháp để nâng cao chất lượng đào tạo
từ việc quan lý hoạt động tự học của sinh viên Học viện Công nghệ Bưu
chất, trưởng phó các khoa, bộ môn thuộc trường, thời gian tập hội nghị, tập
huấn 02 ngày tại Đại học Thái Nguyên với các nội dung chính: (1) Chuyển
đổi chương trình đạo tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ, (2) Xây dựng
chương trình đào tạo, (3) Xây dựng đề cương chi tiết cho từng môn học,
(4) Giới thiệu phần mềm quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ
Tuy nhiên với thời gian có hạn Đại học Thái Nguyên mới chỉ giới thiệu
được đào tạo theo hệ thống tín chỉ, đưa ra một số vấn đề vướng mắc khi
chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ, giới thiệu phần mềm quản
lý đào tạo, một số vấn đề khi lập kế hoạch đào tạo theo học chế tín chỉ.
Qua thời gian đọc và nghiên cứu các đề tài, các tài liệu liên quan đến
đào tạo theo học chế tín chỉ trên tác giả nhận thấy chưa có đề tài nào nghiên
cứu về “Quản lý hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ của Trường Đại học
Lao động – Xã hội”, hơn thế năm 2013 Trường Đại học Lao động – Xã hội áp
8
dụng đào tạo theo hệ thống tín chỉ với khóa 9 đại học hệ chính quy và khóa 17
cao đẳng hệ chính quy vì vậy đề tài này rất cần thiết phải nghiên cứu làm sáng
tỏ cả về cơ sở lý luận và thực tiễn để hoàn thiện hơn công tác quản lý đào tạo
theo học chế tín của Trường Đại học Lao động – Xã hội.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động đào tạo theo hệ
thống tín chỉ của Trường Đại học Lao động - Xã hội, từ đó đề xuất các biện
pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo theo học chế tín chỉ của Trường
Đại học Lao động – Xã hội
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ ở
trường đại học.
tạo theo học chế tín chỉ sẽ đạt được kết quả tốt hơn.
6. Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận:
Đề tài luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của
Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của
Đảng cộng sản Việt Nam về giáo dục và đào tạo. Đồng thời dựa trên sự cập
nhật những thành tựu của khoa học giáo dục và các khoa học khác có liên
quan
6.2. Phương pháp nghiên cứu:
* Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Nhóm phương pháp thu thập thông tin khoa học dựa trên cơ sở nghiên
cứu các văn bản, tài liệu đã có bằng các thao tác tư duy lôgic để rút ra kết luận
khoa học cần thiết: (1) Phương pháp giả thuyết; (2) Phương pháp phân tích,
tổng hợp lý thuyết, xây dựng khái niệm; (3) Phương pháp phân loại, hệ thống
hóa, mô hình hóa lý thuyết; (4) Phương pháp nghiên cứu lịch sử.
* Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Là hệ thống các phương pháp sử dụng để thu thập, xử lý thông tin khoa
học trên cơ sở nghiên cứu, khám phá các sự vật, hiện tượng trong thực tiễn rút
10
ra các kết luận khoa học từ thực tiễn: (1) Phương pháp quan sát khoa học; (2)
Phương pháp điều tra; (3) Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm.
* Các phương pháp toán học
Dùng để tính toán, xử lý số liệu điều tra thực trạng và khảo nghiệm tính
cần thiết, tính khả thi của các biện pháp.
7. Ý nghĩa của đề tài
Luận văn có ý nghĩa thiết thực cho vấn đề nghiên cứu, áp dụng quản lý
hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ của trường Đại học Lao động – Xã hội.
diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 đã nêu rõ: "Xây dựng và
thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều
kiện thuận lợi để người học tích luỹ kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên
thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nước ngoài".
Năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Quyết định số 43/2007/QĐBGDĐT ban hành “Quy chế Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo
hệ thống tín chỉ” (Gọi tắt là Quy chế 43). Theo chủ trương của Bộ, năm 2011
là hạn cuối cùng để các trường liên quan phải chuyển đổi sang hệ thống đào
tạo mới này. Thế nhưng, qua thời gian thực hiện thí điểm ở một số trường đại
học trên cả nước, có không ít những vấn đề đặt ra.
12
* Đặc điểm đào tạo theo học chế tín chỉ
Đào tạo theo hệ thống TC có những khác biệt căn bản với đào tạo theo
niên chế. Hệ thống TC cho phép SV đạt được văn bằng đại học qua việc tích
luỹ các loại tri thức giáo dục khác nhau được đo lường bằng một đơn vị xác
định, gọi là TC (credit). Theo Quy chế 43: “Một TC được quy định bằng 15
tiết học lí thuyết; 30-45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45-90 giờ
thực tập tại cở sở; 45-60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khoá luận
tốt nghiệp. Đối với những học phần lí thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để
tiếp thu được một TC, SV phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân”.
Trong hệ thống TC, chương trình đào tạo mềm dẻo và có tính liên
thông cao. Chương trình đào tạo bao gồm hai loại học phần: Học phần bắt
buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi
chương trình, bắt buộc SV phải tích luỹ. Học phần tự chọn là học phần chứa
đựng những nội dung kiến thức cần thiết, nhưng SV được tự chọn theo hướng
dẫn của trường nhằm đa dạng hoá hướng chuyên môn.
Trong hệ thống này, kiến thức được cấu trúc thành các mô - đun (học
phần). Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho
hỏng một học phần nào đó không cản trở quá trình học tiếp tục, SV chỉ học lại
các học phần không đạt yêu cầu mà không phải ở lại lớp như trong đào tạo
theo niên chế. Vì vậy, đào tạo theo đào tạo theo hệ thống TC có chi phí thấp
và hiệu quả cao hơn.
Đào tạo theo hệ thống TC tạo điều kiện cho SV năng động hơn và có
khả năng thích ứng tốt hơn những biến đổi nhanh chóng của cuộc sống xã hội
hiện đại. Nếu như trong đào tạo theo niên chế, SV hoàn toàn thụ động tuân
thủ kế hoạch học tập của nhà trường, thì trong đào tạo theo TC đòi hỏi SV
phải chủ động xây dựng cho mình một kế hoạch học tập thích hợp, có hiệu
quả cao nhất cho bản thân.
Đào tạo theo hệ thống TC cung cấp cho các trường đại học một ngôn
ngữ chung, tạo thuận lợi cho SV khi cần chuyển trường cả trong nước cũng
như ngoài nước. Nếu triển khai đào tạo theo hệ thống TC các trường đại học
lớn đa lĩnh vực có thể tổ chức những môn học chung cho SV nhiều trường,
nhiều khoa, tránh các môn học trùng lặp ở nhiều nơi; ngoài ra SV có thể học
14
những môn học lựa chọn ở các khoa khác nhau. Cách tổ chức nói trên cho
phép sử dụng được đội ngũ giảng viên giỏi nhất và phương tiện tốt nhất cho
từng môn học.
Đào tạo theo TC tạo ra một loại hình lớp học mới gọi là “lớp học
phần”, tức là lớp học tập hợp các SV đăng kí học chung một học phần. Lớp
học phần sẽ bao gồm SV nhiều khoá học và nhiều ngành học khác nhau. Đây
là cơ hội tốt cho SV giao lưu, học hỏi lẫn nhau và mở rộng các mối quan hệ
xã hội.
Với đào tạo theo hệ thống TC, các trường đại học có thể mở thêm
ngành học mới một cách dễ dàng khi nhận được tín hiệu về nhu cầu của thị
trường lao động và tình hình lựa chọn ngành nghề của SV. Đào tạo theo hệ
mỗi SV đều có một thời khoá biểu riêng. Mặt khác, việc tổ chức cho SV đi
thực tập, thực tế cũng gặp nhiều trở ngại vì các học phần SV đăng kí học rất
khác nhau nên nếu SV đi thực tập, thực tế thì phải nghỉ học các học phần
khác. Ngoài ra, một khó khăn không nhỏ là trong đào tạo theo TC rất khó bù
giờ, đổi lịch vì mỗi SV có một thời khoá biểu riêng nên đổi sang học buổi
khác thì SV này chấp nhận SV khác lại không chấp nhận.
* Các quan điểm cơ bản của đào tạo theo học chế tín chỉ
Quan điểm dân chủ hoá trong giáo dục. Đào tạo theo hệ thống tín chỉ
ra đời để đáp ứng nhiều mục tiêu, trong đó có sự thay đổi về quan niệm giáo
dục. Từ quan niệm một nền giáo dục dựa trên quyền uy, người học chỉ có
nhiệm vụ phục tùng, chấp nhận vô điều kiện, chuyển sang một nền giáo dục
bình đẳng, lấy học sinh làm trung tâm, người học tự quyết định nội dung,
phương thức học tập của riêng mình.
Dân chủ trong giáo dục, trước hết được thể hiện bằng sự quan tâm đến
điều kiện của người học. Quan niệm sư phạm cá thể hoá được thay thế cho
quan niệm đào tạo đồng loạt như nhau, người học được tạo nhiều điều kiện
thích hợp để phát triển. Quan tâm đến nhu cầu và sở thích của người học.
Người học ngày càng có nhiều “tiếng nói” trong suốt quá trình đào tạo của họ.
Chẳng những họ có quyền chọn lựa ngành nghề, mà họ còn có quyền thiết kế
lộ trình đào tạo, nội dung đào tạo của chính họ, cũng như quyền tham gia xây
dựng và tích luỹ kiến thức trong chừng mực cho phép. Quan niệm giáo dục
16
lấy người học làm trung tâm chính là biểu hiện tập trung nhất của việc trao
quyền dân chủ cho người học càng ngày càng nhiều hơn.
Quan điểm đại chúng hoá giáo dục đại học. Đào tạo theo hệ thống tín
chỉ trong thời hiện đại ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại có
tính năng động càng ngày càng cao, nhằm thực hiện mục tiêu đại chúng hoá
suy nghĩ phản ảnh, giải quyết vấn đề và hiểu biết thực tế, đã trở thành mục
đích lẫn kỹ thuật trong nhà trường tiến bộ. Phương pháp khoa học là kỹ năng
cần phải đạt được và phương thức tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề”. Đó
chính là nền tảng của nguyên lý dạy học tích cực ngày nay.
1.2. Những khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Học chế tín chỉ
* Khái niệm tín chỉ:
Tín chỉ (TC) là đơn vị quy chuẩn dùng để lượng hoá khối lượng kiến
thức và khối lượng học tập giảng dạy trong quy trình đào tạo. Tín chỉ cũng là
đơn vị để đo lường tiến độ học tập của sinh viên – đánh giá dựa trên số lượng
tín chỉ sinh viên đã tích lũy được.
Một tín chỉ được tính bằng 15 tiết học lý thuyết, hoặc 30-45 tiết thảo
luận, 45-90 giờ thực tập tại cơ sở, 45-60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn, khóa
luận tốt nghiệp. Một tiết học theo hệ thống tín chỉ được tính bằng 50 phút.
Để tiếp thu khối lượng kiến thức của 01 tín chỉ sinh viên phải dành ít
nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân.
* Khái niệm học chế tín chỉ
Học chế tín chỉ là phương thức đào tạo sinh viên chủ động lựa chọn học
từng học phần tuân theo một số ràng buộc được quy định trước nhằm tích lũy
từng phần và tiến tới hoàn tất toàn bộ chương trình đào tạo, được cấp văn
bằng tốt nghiệp.
Trên cơ sở lượng hóa quy trình đào tạo thông qua khái niệm tín chỉ, học
chế tín chỉ tạo điều kiện tối đa để cá nhân hóa quy trình đào tạo, trao quyền
cho sinh viên trong việc đăng ký sắp xếp lịch học, việc tích lũy các học phần,
kể cả sắp xếp thời gian học ở trường, thời gian tốt nghiệp. Về phía mình, sinh
viên cần phát huy tính tích cực, chủ động để thích ứng với quy trình đào tạo
này và để đạt những kết quả tốt nhất trong học tập, rèn luyện.
18
19
điều kiện riêng của bản thân. Khi thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ thì
người học có thể phát huy tối đa tiềm năng và khả năng người học, góp phần
nâng cao chất lượng, hiệu suất, hiệu quả đào tạo, hội nhập quốc tế về giáo dục
và đào tạo, thích hợp với cơ chế kinh tế thị trường.
Hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ là một loại hình hoạt động sư
phạm có mục đích, có tổ chức, có sự phối hợp giữa hoạt động của người dạy
với hoạt động của người học và hoạt động của người quản lý, nhằm thực hiện
các mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo theo học chế tín chỉ của nhà trường.
Bản chất của hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ là sự phối hợp giữa
hoạt động dạy với hoạt động học dưới sự tác động của hoạt động quản lý,
nhằm bảo đảm cho các thành tố của quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ vận
động đúng quy luật, hướng tới thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường.
Hoạt động dạy. Đào tạo theo hệ thống tín chỉ không phải chỉ là việc
giảm giờ dạy trên lớp một cách máy móc. Cái làm nên sự thay đổi căn bản về
chất của học chế tín chỉ là sự thay đổi quan niệm về đào tạo. Việc thay đổi
quan niệm này tất yếu phải dẫn đến thay đổi về phương pháp dạy học.
Nhiệm vụ của người dạy không còn là truyền thụ kiến thức. Người dạy
phải làm công tác nghiên cứu khoa học, liên tục cải tiến chương trình và
phương pháp dạy học, xây dựng môn học mới cho sinh viên có nhiều lựa
chọn ngày càng phù hợp. Người dạy phải được đầu tư nhiều hơn về chuyên
môn để thực hiện tốt cải cách giáo dục.
Học chế tín chỉ coi các giảng viên như những học giả. Với tư cách là
học giả, các giảng viên cần được đào tạo và thực hành để thực hiện giảng dạy
giỏi và đào tạo lại sinh viên từ chỗ học vẹt đến chỗ học cách giải quyết vấn đề
và có tinh thần dám nghĩ dám làm, chấp nhận rủi ro và thử thách.
Giảng viên cần phải được chuẩn bị đầy đủ về nghiệp vụ sư phạm phù
môn học. Đào tạo theo học chế tín chỉ dựa trên quan điểm của lý thuyết kiến
tạo xã hội, theo đó, đòi hỏi người học phải thay đổi thái độ trong học tập, phải
xây dựng kiến thức cho mình qua quá trình tự nghiên cứu. Giờ học trên lớp
được quan niệm là nơi “cọ xát” giữa những kiến thức mà người học có được
21
từ nhiều nguồn khác nhau. Phương châm tự chủ trong học tập được thể hiện
ngay trong từng môn học, qua việc thảo luận về lộ trình của từng học phần
Hoạt động quản lý. Phải chỉ ra các hành động cụ thể về cách lập kế
hoạch, định hướng mục tiêu, xây dựng nội dung, chương trình, các phương
pháp về dạy và học, hình thức tổ chức đào tạo, các hoạt động theo hệ thống
tín chỉ được cụ thể hoá bằng các văn bản như quy định, quy chế về học tập,
giảng dạy, tổ chức giảng dạy theo hệ thống tín chỉ.
Tóm lại, hoạt động đào tạo theo hệ thống tín chỉ là tăng cường ý thức
trách nhiệm của người học đối với hoạt động của bản thân mình trong quá
trình đào tạo, là thực hiện dân chủ hoá trong giáo dục; người học tham gia vào
tất cả các khâu trong tiến trình đào tạo của mình, từ việc cơ cấu các môn học
dựa trên hệ thống tự chọn, đến việc quy hoạch lộ trình thực hiện tiến trình đào
tạo đó tuỳ theo điều kiện và năng lực về tài chính về quỹ thời gian của mình.
1.2.3. Quản lý hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ của Trường Đại học
Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của chủ thể quản
lý lên đối tượng quản lý bằng việc vận dụng các chức năng và phương tiện
quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức
để đạt được mục tiêu đặt ra.
Quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội, trong đó chủ thể
quản lý và khách thể quản lý có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau và chịu sự
tác động của môi trường nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức đó.
Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp các hành
Người quản lý, người dạy giữ vai trò tổ chức, định hướng và phục vụ cho nhu
cầu phát triển của người học. Theo một ý nghĩa rộng hơn, người quản lý và
người dạy là “công bộc” của người học.
Các nội dung quản lý đào tạo ở trường đại học sẽ bao gồm một phổ
rộng các vấn đề liên quan chặt chẽ với nhau, đan xen vào nhau và tác động
qua lại, chi phối lẫn nhau. Đó là các nội dung: Quản lý mục tiêu đào tạo; quản
lý nội dung và chương trình đào tạo; quản lý hoạt động dạy của giảng viên;
quản lý hoạt động học của sinh viên; quản lý cơ sở vật chất, tài chính phục vụ
dạy học; quản lý môi trường đào tạo; Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông trong hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ; Quản lý hoạt
23
động đánh giá kết quả theo học chế tín chỉ. Những nội dung này trong khung
cảnh quản lý đào tạo tổ chức theo học chế tín chỉ ở các trường đại học sẽ đòi
hỏi những cách tiếp cận mới, khác biệt với đào tạo tổ chức theo niên chế hay
theo hệ thống học phần và đơn vị học trình.
1.3. Nội dung quản lý hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ ở
trường đại học
1.3.1. Quản lý mục tiêu đào tạo theo học chế tín chỉ
Quản lý mục tiêu đào tạo nhằm đảm bảo mục tiêu đào tạo được xây
dựng hợp lý và được thực hiện trọn vẹn. Quản lý mục tiêu đào tạo bắt đầu từ
việc xây dựng sứ mạng, tầm nhìn và giá trị cốt lõi của nhà trường. Sứ mạng,
tầm nhìn, giá trị cốt lõi được xây dựng trên cơ sở mục tiêu chung của đào tạo
đại học, nhưng phải phản ánh một cách cô đọng, đầy đủ và có sức thuyết phục
mục tiêu cụ thể của cơ sở giáo dục đại học. Mục tiêu cụ thể của nhà trường
phải thể hiện được đặc điểm riêng, đặc thù của trường mình, đồng thời phải
có tính khả thi, phù hợp điều kiện, hoàn cảnh của nhà trường. Việc xây dựng
mục tiêu đào tạo cũng phải đảm bảo tính mềm dẻo, cho phép sinh viên dễ
chương trình khung do Bộ GD&ĐT ban hành. Chương trình đào tạo phản ánh
mục tiêu đào tạo cụ thể của nhà trường, đồng thời hướng đến đáp ứng các nhu
cầu về chất lượng nguồn nhân lực của xã hội. Chương trình đào tạo phải đảm
bảo tính mềm dẻo, được cập nhật thường xuyên, đảm bảo hướng đích theo
chuẩn đầu ra mà nhà trường đã công bố với xã hội trên phương tiện thông tin
đại chúng cũng như website của nhà trường.
Quản lý chương trình đào tạo hướng đến mục tiêu đảm bảo các chương
trình được thiết kế và thực hiện trọn vẹn với chất lượng và hiệu quả cao nhất
trong điều kiện cụ thể của từng trường. Khi xây dựng chương trình đào tạo
phải có sự tham gia của các giảng viên, cán bộ quản lý, đại diện của các các tổ
chức, hội nghề nghiệp và các nhà tuyển dụng lao động theo quy định. Chương
trình đào tạo phải có mục tiêu rõ ràng, cụ thể, cấu trúc hợp lý, được thiết kế
một cách hệ thống, đáp ứng yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ của
đào tạo trình độ đại học và đáp ứng linh hoạt nhu cầu nhân lực của ngành đào
tạo trong giai đoạn hội nhập kinh tế, xã hội với quốc tế. Chương trình đào tạo
25
phải được định kỳ bổ sung, điều chỉnh dựa trên cơ sở tham khảo các chương
trình tiên tiến quốc tế, các ý kiến phản hồi từ phía các nhà tuyển dụng lao
động, người tốt nghiệp, các tổ chức giáo dục và các tổ chức khác nhằm đáp
ứng nhu cầu nguồn nhân lực phát triển giáo dục của địa phương hoặc cả nước.
Trong khuôn khổ học chế tín chỉ chương trình đào tạo phải được thiết kế
theo hướng đảm bảo liên thông với các trình độ đào tạo và chương trình giáo
dục khác. Chương trình đào tạo phải được định kỳ đánh giá và thực hiện cải
tiến chất lượng dựa trên kết quả đánh giá.
1.3.3. Quản lý hoạt động dạy của giảng viên theo học chế tín chỉ
Trong hoạt động đào tạo ở trường đại học, người giảng viên là chủ thể,
giữ vai trò chủ đạo trong quá trình đào tạo. Giảng viên bằng hoạt động dạy
và hoạt động học tập của sinh viên có hiệu quả hay không. Vì vậy, kiểm tra
đánh giá ngoài chức năng là công cụ để kiểm định chất lượng đào tạo, giúp
phân loại sinh viên còn là động lực để thúc đẩy giảng viên dạy tốt hơn và sinh
viên học tốt hơn. Để kiểm tra, đánh giá có thể hoàn thành tốt các vai trò và
chức năng của mình, cần phải xây dựng hệ thống công cụ và quy trình kiểm
tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên cũng như kết quả hoạt động đào tạo
của nhà trường một cách toàn diện, chính xác và khách quan.
1.3.4. Quản lý hoạt động học của sinh viên theo học chế tín chỉ
Sinh viên, một mặt là đối tượng của hoạt động dạy, mặt khác là chủ thể
của hoạt động nhận thức có tính chất nghiên cứu. Kết quả đào tạo phụ thuộc
vào tính tích cực nhận thức của sinh viên. Một trong những mục tiêu quan
trọng của việc áp dụng học chế tín chỉ là tạo điều kiện để sinh viên phát huy
được tối đa vai trò chủ thể trong hoạt động học tập, nghiên cứu của mình.
Như vậy, quản lý hoạt động học của sinh viên phải đảm bảo sao cho
người sinh viên không chỉ là khách thể của hoạt động dạy mà phải biến thành
chủ thể hoạt động tích cực, độc lập, sáng tạo chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo và năng lực nghề nghiệp tương lai.
Những nội dung quản lý hoạt động học của sinh viên bao gồm: đảm bảo
sinh viên thực hiện đầy đủ, chính xác quy chế học tập và rèn luyện; đổi mới
phương pháp học tập; xây dựng phương pháp tự kiểm tra, tự đánh giá phù
hợp; hướng dẫn sinh viên xây dựng mục tiêu và kế hoạch học tập cá nhân.