LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý HOẠT ĐỘNG GIÁO dục đạo đức CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG ở HUYỆN BA vì THÀNH PHỐ hà nội HIỆN NAY - Pdf 42

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
Chương 1

1.1.
1.2.
1.3.
Chương 2

2.1.

Tran
g
3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Các khái niệm cơ bản của đề tài
Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
trung học phổ thông

12
12
25

Các yếu tố tác động đến quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

cho học sinh trung học phổ thông
CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH

37

2.2.

39
50

66

66
68
91
97
100
103


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, trước những tác động mạnh mẽ của khoa
học, kỹ thuật và nền kinh tế thị trường trong thời kỳ hội nhập quốc tế đã làm
biến đổi các giá trị xã hội, đặc biệt là các giá trị nhân văn. Giải quyết hài hoà
mối quan hệ giữa sự phát triển của khoa học công nghệ và tác động tiêu cực
của xã hội với những biểu hiện sa sút các giá trị nhân văn đã và đang là những
thách thức, khó khăn đối với giáo dục xã hội nói chung, giáo dục học sinh ở
các trường THPT nói riêng. Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo xác định “Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn
chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa
trong phát triển giáo dục và đào tạo... Giáo dục con người Việt Nam phát triển
toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân;

Ba Vì là huyện nằm ở phía Tây Bắc của thành phố Hà Nội, có tốc độ đô
thị hoá cao, nơi đang chịu tác động rất lớn từ mặt trái của cơ chế thị trường
với những biểu hiện và những diễn biến phức tạp về tệ nạn xã hội và những
rạn nứt trong đạo đức và lối sống. Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến công
tác giáo dục đạo đức cho học sinh và đặc biệt là học sinh các trường THPT
của huyện. Những biểu hiện như bỏ học, đánh nhau, dối trá, lười lao động,
sống hưởng thụ, ích kỉ…trong lối sống của học sinh ngày càng gia tăng đang
ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường.
Đứng trước tình trạng xuống cấp trong đạo đức, lối sống của một bộ phận học
sinh THPT đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng, các nhà giáo dục, quản lý
giáo dục cần nhận thức sâu sắc về vấn đề này, đặc biệt là việc nghiên cứu
quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trên địa bàn huyện Ba vì.
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt
động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành
phố Hà Nội hiện nay” với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý
hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT huyện Ba Vì, thành phố Hà
Nội trong giai đoạn hiện nay.

4


2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội, là vấn đề thường xuyên
được đặt ra và giải quyết nhằm đảm bảo cho cá nhân và cộng đồng tồn tại
phát triển. Đó là thước đo thang giá trị của con người mọi thời đại và trở
thành mục tiêu đồng thời cũng là động lực cho sự tiến bộ, phát triển của xã
hội, đặc biệt là GDĐĐ cho thế hệ trẻ rèn luyện, trưởng thành, góp phần hình
thành lý tưởng, đạo đức cao đẹp, lối sống nghĩa tình, từng bước hoàn thiện
nhân cách nhằm xây dựng sự phát triển bền vững cho quốc gia, dân tộc. Phạm
trù đạo đức, GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ luôn được các nhà giáo và

cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ nền giáo dục Việt Nam với mục đích giáo
dục con người phục vụ “Kháng chiến, kiến quốc” đã luôn gắn chặt hai mặt
đức và tài trong mục tiêu giáo dục thế hệ trẻ, trong đó lấy đức làm gốc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn
hoá lớn của nhân loại đã đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức
cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thống kê trong di sản Hồ Chí
Minh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Đó là cơ sở
lý luận xuyên suốt, luôn hướng dẫn, chỉ đường cho Đảng, quân đội, nhân dân
ta học tập, rèn luyện, phấn đấu trong sự nghiệp xây dựng đất nước thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Về phương diện nghiên cứu đã có một số công trình nghiên cứu khoa học
trong nước đề cập vấn đề GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ. Tiêu biểu như:
Tác giả Phạm Minh Hạc đã nêu lên các định hướng giá trị đạo đức con
người Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước và nêu lên 6 giải pháp cơ
bản GDĐĐ cho con người Việt Nam thời kỳ này đó là: “Tiếp tục đổi mới nội
dung, hình thức GDĐĐ trong các trường học, củng cố ý tưởng giáo dục ở gia
đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường trong việc
GDĐĐ cho con người, kết hợp chặt chẽ GDĐĐ với việc thực hiện nghiêm
chỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp luật; tổ chức thống nhất các
phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức, lối sống
6


cho toàn dân, trước hết cho cán bộ đảng viên, cho thầy cô các trường học; xây
dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về GDĐĐ, nâng
cao nhận thức cho mọi người” [23, tr.171].
Tác giả Trần Hậu Kiểm và Đoàn Đức Hiếu trong cuốn “Hệ thống phạm
trù đạo đức học sinh và GDĐĐ cho sinh viên” đã khái quát hoá những phạm
trù đạo đức cơ bản đó là: lẽ sống, hạnh phúc, danh dự, nghĩa vụ, lương tâm
thiện và ác…Những phạm trù này phản ánh nội dung khách quan của đời

ngoài giờ lên lớp của hiệu trưởng trường THPT Thành phố Hà Nội”. Tác giả
Phạm Thanh Bình Quận Cầu Giấy Hà Nội với đề tài: "Quản lý hoạt động
giáo dục đạo đức cho học sinh THPT Quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội"
(2012).
Tóm lại, các công trình khoa học trên đây đã đi sâu vào việc nghiên cứu
thực trạng và tìm ra các giải pháp cho công tác giáo dục đạo đức và nâng cao
chất lượng giáo dục nhân cách cho học sinh phổ thông. Tuy nhiên, quản lý
hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT nói chung và hoạt động giáo
dục đạo đức học sinh THPT của huyện Ba Vì nói riêng trong điều kiện phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay vẫn
còn là vấn đề chưa được quan tâm đúng mức. Đặc biệt là trước sự sa sút về
đạo đức của học sinh nói chung và chất lượng đạo đức của học sinh THPT
huyện Ba Vì nói riêng đang có những diễn biến phức tạp, công tác quản lý
giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT trên địa bàn của huyện đang
đứng trước những thách thức mới cần phải được giải quyết, trong khi đó ở
huyện Ba Vì đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn hoạt động giáo dục đạo
đức học sinh THPT, đề xuất biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất
lượng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT huyện Ba Vì,
thành phố Hà Nội.
* Nhiệm vụ nghiên cứu

8


- Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về GDĐĐ và quản lý hoạt
động GDĐĐ cho học sinh THPT.
- Đánh giá thực trạng về GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ ở các

6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật
biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và quản lý giáo dục; trực tiếp là các nội
dung liên quan đến giáo dục phẩm chất, đạo đức lối sống cho học sinh phổ
thông theo quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thời kỳ hội nhập quốc tế.
Quá trình nghiên cứu vận dụng các quan điểm hệ thống - cấu trúc, lôgíc
- lịch sử và quan điểm thực tiễn để phân tích, đánh giá, xem xét các vấn đề
nghiên cứu.
* Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Trên cơ sở nghiên cứu các văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, các
tài liệu, văn bản, tạp chí, sách báo, công trình khoa học có liên quan đến đề tài
nghiên cứu, đề tài xác định cơ sở lý luận của GDĐĐ và quản lý hoạt động
GDĐĐ đối với học sinh.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu điều tra để khảo sát tìm hiểu các
vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu, tìm ra nguyên nhân đề xuất biện
pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh.
Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động quản lý GDĐĐ cho học
sinh thông qua việc tổ chức học tập, rèn luyện học sinh tại các trường THPT.
Phương pháp toạ đàm: Trực tiếp trao đổi với cán bộ, giáo viên và học
sinh về thực trạng đạo đức của học sinh và thực trạng quản lý hoạt động
GDĐĐ hiện nay.

10



trị được mọi người công nhận và được củng cố bằng sức mạnh của phong tục, tập
quán, của dư luận xã hội, của lương tâm mỗi con người.
Bàn về đạo đức đã có nhiều định nghĩa từ nhiều góc độ khác nhau, tuy
nhiên có thể hiểu đạo đức một cách khái quát như: theo giáo trình Đạo đức
học - “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc,
quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con
người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện
bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [18,
tr.8]; Học thuyết Mác-Lênin cho rằng: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã
hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội. Đạo đức
là một hình thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội.
Vì vậy, tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi theo. Và như vậy đạo
đức xã hội luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc”; Theo Bách
khoa triết học của Nga (30 tập) có định nghĩa "Đạo đức là tập hợp những
nguyên tắc, quy chế, chuẩn mực nhờ đó con người điều chỉnh được hành vi
12


của mình" [30, tr.35]; Từ điển Tiếng Việt: "Đạo đức là những tiêu chuẩn,
những nguyên tắc, quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và
đối với xã hội. Đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo những
tiêu chuẩn, đạo đức của một giai cấp nhất định" [28, tr.211]. Tác giả Phạm
Minh Hạc định nghĩa “Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý, những quy định và
chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người”. Nhưng bên trong điều kiện
hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng và đạo đức bao gồm
những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người với con người, với
công việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống.
Như vậy, theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với
phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống. Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân
cách, phản ánh bộ mặt nhân cách đã được xã hội hoá… đạo đức của mỗi cá

học cấp Nhà nước: Chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam trong
giai đoạn CNH-HĐH đất nước (Mã số KHXH-04-04-1996- 2000) làm những
chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam hiện nay. Những chuẩn mực đạo
đức đó là: Yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có tinh thần quốc tế xã hội chủ
nghĩa trong thời đại mới, yêu lao động và có thái độ lao động đúng đắn, có tinh
thần tập thể, ý thức cộng đồng và tình đoàn kết kỷ luật, có tinh thần nhân đạo
xã hội chủ nghĩa, có nếp sống văn minh, lành mạnh.
Giáo dục đạo đức cho học sinh là một nhiệm vụ quan trọng nằm trong
định hướng chung của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng ở các trường học.
Đây là quá trình lâu dài và liên tục, có sự tham gia của nhiều thành tố, trong
đó nhà trường giữ một vai trò rất quan trọng tác động đến người được giáo
dục nhằm biến ý thức đạo đức thành tình cảm, hành vi và thói quen đạo đức.
Như vậy, giáo dục đạo đức cho học sinh là quá trình tác động có mục
đích, có kế hoạch, có tổ chức của nhà giáo dục và yếu tố tự giáo dục của học
sinh nhằm trang bị những tri thức, ý thức đạo đức, niềm tin, tình cảm đạo đức
và quan trọng nhất là hình thành hành vi, thói quen đạo đức phù hợp với các

14


chuẩn mực xã hội.
Giáo dục đạo đức trong nhà trường là một bộ phận không thể thiếu
được của quá trình giáo dục tổng thể có quan hệ biện chứng với các quá trình
bộ phận khác như giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo
dục lao động hướng nghiệp. Giáo dục đạo đức vừa có mối quan hệ mật thiết
với các bộ phận khác trong quá trình giáo dục tổng thể, lại vừa có vai trò định
hướng cho các hoạt động giáo dục khác và có ảnh hưởng quan trọng đến kết
quả giáo dục. Trong quá trình giáo dục đạo đức, để đạt được kết quả cao cần
có sự tác động và phối hợp của rất nhiều yếu tố từ mục đích, kế hoạch, nội
dung, phương pháp, phương tiện giáo dục đạo đức đến tác động của các lực

triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này. Ở lứa tuổi thiếu
niên có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều này
phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống,
hoạt động… của các em.
Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát
triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn - điều này do hoàn cảnh
sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên. Hoàn cảnh đó có cả hai mặt:
Những yếu điểm của hoàn cảnh kiềm hãm sự phát triển tính người lớn: trẻ chỉ
bận vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu
thế không để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình,
của xã hội. Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn:
sự gia tăng về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp
khó khăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống. Điều
đó đưa đến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn.
Xu hướng phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ra theo các
hướng sau: Đối với một số em, tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết
nhiều, nhưng còn nhiều mặt khác nhau trong đời sống thì các em hiểu biết rất
ít. Có những em ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâm

16


đến những vấn đề làm thế nào cho phù hợp với mốt, coi trọng việc giao tiếp
với người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn bạc, trao đổi với họ về các vấn đề trong
cuộc sống, để tỏ ra mình cũng như người lớn. Ở một số em khác không biểu
hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực tế đang cố gắng rèn luyện mình
có những đức tính của người lớn như: dũng cảm, tự chủ, độc lập …
Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên có
một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đây là thời kỳ phát triển phức tạp
nhất, và cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng

trọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa.
Hoạt động GDĐĐ có mục đích, có chức năng chủ yếu là giúp học sinh
nhận thức đúng các yêu cầu, chuẩn mực, các giá trị đạo đức xã hội và rèn
luyện các thói quen, hành vi đạo đức phù hợp. Dưới sự tác động tích cực của
các lực lượng giáo dục trong nhà trường, các em học sinh phải tiếp nhận các
yêu cầu, chuẩn mực, giá trị tư tưởng, đạo đức, pháp luật, hướng nghiệp,
chuyển hoá thành ý thức, niềm tin, thái độ, hành vi cá nhân, trong suốt hoạt
động GDĐĐ thì nhà giáo dục và đối tượng giáo dục luôn có mối quan hệ
tương tác; nhưng tác động của nhà giáo dục đóng vai trò định hướng, sự tiếp
nhận và chuyển hoá có ý thức các giá trị của đối tượng giáo dục đóng vai trò
quyết định sự thành công của quá trình giáo dục.
Từ cách tiếp cận trên tác giả quan niệm: Hoạt động giáo dục đạo đức
cho học sinh THPT là hệ thống các tác động có mục đích, có kế hoạch của
các chủ thể giáo dục đến học sinh nhằm nâng cao nhận thức, xây dựng tình
cảm, hình thành thói quen, hành vi đạo đức, góp phần hình thành phẩm
chất nhân cách toàn diện cho học sinh, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu giáo dục
của nhà trường.
GDĐĐ cho học sinh THPT là GDĐĐ đạo đức xã hội chủ nghĩa. Nâng
cao chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, làm cho học sinh có tinh
thần yêu nước, thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say mê học tập,
có ý thức tổ chức kỷ luật, kính thầy, yêu bạn, có nếp sống lành mạnh, biết tôn
18


trọng pháp luật. Là cách thức, con đường tác động có định hướng của chủ thể
quản lý tới các thành tố tham gia vào quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh
nhằm làm cho mọi lực lượng giáo dục nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng
của công tác giáo dục đạo đức, tích cực tham gia vào quá trình giáo dục đạo
đức để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đã đề ra.
Mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh THPT: Giúp cho học sinh

trọng của quá trình GDĐĐ, nó tác động trực tiếp đến kết quả của quá trình
GDĐĐ cho học sinh. Có các nhóm phương pháp GDĐĐ cơ bản sau: Nhóm
các phương pháp hình thành ý thức cả nhân; Nhóm phương pháp kích thích
hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử của học sinh.
Trong các trường THPT, giáo dục đạo đức là hoạt động rất quan trọng,
không thể thiếu, là một nội dung để xem xét đánh giá học sinh. Vì vậy,
GDĐĐ là nhiệm vụ, trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, Ban Giám hiệu, các
thầy giáo cô giáo, cán bộ quản lý giáo dục nhằm bồi dưỡng, hình thành cho
học sinh những tri thức đạo đức, chuẩn mực đạo đức, tình cảm đạo đức trong
sáng, từ đó góp phần hình thành và phát triển nhân cách học sinh với những
phẩm chất đạo đức mới, tạo nền tảng cho sự phát triển sau này.
1.1.3. Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học
phổ thông
Quản lý là bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội, nó đã xuất
hiện từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội. Với nhiều cách tiếp cận khác
nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm QLGD như sau:
Theo Aunapuff: “Quản lý là một hệ thống xã hội, là một khoa học và là
một nghệ thuật tác động vào hệ thống xã hội, chủ yếu là quản lý con người
nhằm đạt được những mục tiêu xác định. Hệ thống đó vừa động, vừa ổn định
bao gồm nhiều thành phần có tác động qua lại lẫn nhau” [14, tr.54].
Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: "QLGD là hệ
thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể
quản lý nhằm làm cho hệ vận hành đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng,
20


thực hiện các tính chất của nhà trường, xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu
điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ đưa hệ giáo dục tới mục
tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [ 29, tr.22].
Tác giả Đặng Quốc Bảo khẳng định "QLGD là hoạt động điều hành,

động GDĐĐ cho học sinh, nhằm bảo đảm cho hoạt động GDĐĐ diễn ra
đúng yêu cầu, nội dung và đạt hiệu quả cao, đáp ứng mục tiêu yêu cầu giáo
dục của nhà trường.
Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh thực chất là hoạt động có tổ
chức, có mục đích, có chỉ đạo của nhà quản lý đối với toàn bộ lực lượng giáo
dục trong nhà trường, để hình thành, phát triển ý thức, tình cảm, niềm tin,
hành vi, thói quen đạo đức và hoàn thiện phẩm chất nhân cách theo mục tiêu,
yêu cầu đào tạo của nhà trường, giúp học sinh biết ứng xử đúng mực trong
quan hệ hàng ngày, giữa cá nhân với tập thẻ, với mọi người xung quanh trong
quá trình học tập ở nhà trường phổ thông cũng như sau này.
Mục đích của quản lý GDĐĐ cho học sinh là đảm bảo cho các hoạt động
giáo dục diễn ra theo một hệ thống nhất quán, phù hợp với quy luật giáo dục,
nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả các tiềm lực của nhà trường và xã hội cùng
tham gia vào quá trình giáo dục. GDĐĐ cho học sinh là một nhiệm vụ trung tâm
của nhà trường, đòi hỏi mọi giáo viên, mọi tổ chức lực lượng trong nhà trường
cùng phải tham gia. GDĐĐ cho học sinh không phải chỉ bằng những bài giảng
về đạo đức công dân, mà phải thông qua mọi loại hình hoạt động đa dạng của
nhà trường. Điều đó đòi hỏi quá trình GDĐĐ cho học sinh cần phải được quản
lý, tổ chức theo một kế hoạch chung, thống nhất cho mọi lực lượng, mọi hoạt
động. Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh có nhiệm vụ huy động mọi tiềm
lực và tổ chức, phối hợp các lực lượng cùng tham gia vào quá trình giáo dục.
Đảm bảo cho hoạt động của các lực lượng không mâu thuẫn với nhau mà phải
cùng hướng tới một mục tiêu chung của nhà trường.
Nội dung quản lý GDĐĐ cho học sinh là quản lý toàn bộ các lực lượng
tham gia vào quá trình giáo dục và mọi hoạt động của các lực lượng đó.

23


Phương thức quản lý chủ yếu là thông qua hệ thống kế hoạch giáo dục của nhà


quản lý là sự tác động hai chiều. Đối tượng quản lý tiếp nhận những tác động
của chủ thể quản lý một cách có ý thức, có chọn lọc. Kết quả hoạt động của
đối tượng quản lý cao hay thấp phụ thuộc vào thái độ tiếp nhận các tác động
của chủ thể quản lý có tích cực hay không. Kết quả hoạt động GDĐĐ cho học
sinh THPT cao hay thấp phần lớn phụ thuộc vào thái độ tích cực của đối
tượng quản lý trong tiếp nhận các tác động giáo dục của chủ thể quản lý hoạt
động GDĐĐ.
1.2. Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
trung học phổ thông
1.2.1. Quản lý mục tiêu và kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh
trung học phổ thông
Trong mọi hoạt động của con người, vấn đề xác định đúng và quán triệt
sâu sắc mục tiêu trong quá trình thực hiện là điều kiện quyết định cho kết quả
hoạt động.
Quản lý mục tiêu GDĐĐ cho học sinh phải bắt đầu từ xây dựng mục
tiêu một cách phù hợp. Đó là những phẩm chất cần có và có thể đạt được của
học sinh trong môi trường giáo dục nhà trường, phù hợp với đặc điểm học sinh
và điều kiện kinh tế - xã hội địa phương. Khi xây dựng mục tiêu giáo dục đạo
đức trước hết phải quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về nguồn lực con
người, về những chủ trương phát triển giáo dục, nhất là những quan điểm về
đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo đã được nêu trong Nghị quyết của Đảng.
Trên cơ sở những tư tưởng, quan điểm cơ bản của Đảng, căn cứ quan trọng
khác trong xây dựng mục tiêu GDĐĐ phải là mục tiêu giáo dục quốc gia đã
được xác định cho từng cấp học, bậc học, được các cơ quan QLGD địa phương
triển khai. Khi cụ thể hoá mục tiêu giáo dục của mỗi trường cần phải tính đến
các điều kiện thực hiện, những đặc điểm kinh tế xã hội địa bàn để phản ánh
được nét độc đáo của địa phương, vừa thuận lợi cho tổ chức thực hiện hoạt
động giáo dục của nhà trường. Như vậy, quá trình GDĐĐ cho học sinh vừa
25

26



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status