Quản lý chất lượng đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Vinh - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ KIM NHUNG

QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Chuyên ngành: Quản ly giáo dục
Mã số: 62.14.01.14

ngành: Quản lý

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Minh Hùng

Nghệ An, 2015

ye


2
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn tốt nghiệp,
tác giả đã nhận được sự động viên, giúp đỡ quý báu của nhiều đơn vị và cá
nhân.
Trước tiên, tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến quý Thầy/Cô
giảng viên lớp Cao học Quản lý giáo dục – K21A của Trường Đại học Vinh
đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và cung cấp những kinh nghiệm quý báu về
phương pháp nghiên cứu và quản lý giáo dục.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, quý thầy cô giảng viên,

Chương trình đào tạo

ĐBCL

Đảm bảo chất lượng

ĐKH
GDQP

Đăng ký học
Giáo dục Quốc phòng

GDTC
GV

Giáo dục Thể chất
Giảng viên

CVHT
HĐH
HSSV

Cố vấn học tập
Hiện đại hoá
Học sinh sinh viên

HTTC
KHCB

Hệ thống tín chỉ


6
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và
hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa
quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo
dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế
hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã nhấn mạnh: “Phát triển
giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt
Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập
quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo
viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo
dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng
thực hành, khả năng lập nghiệp”.
Nghị Quyết 29/NQ-TW đã nêu “Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo
dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm
xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng”.
Sau 25 năm đổi mới, Giáo dục Đại học nước ta đã phát triển mạnh mẽ
về quy mô, đa dạng hóa về loại hình và các hình thức đào tạo, bước đầu điều
chỉnh cơ cấu hệ thống, cải tiến chương trình, quy trình đào tạo và huy động
được nhiều nguồn lực xã hội. Chất lượng Giáo dục Đại học ở một số ngành,
lĩnh vực, cơ sở Giáo dục Đại học có những chuyển biến tích cực, từng bước
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Đội ngũ cán bộ có trình độ đại học
và trên đại học mà tuyệt đại bộ phận được đào tạo tại các cơ sở giáo dục trong
nước đã góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước.
Cùng với các trường Đại học trong cả nước, những năm qua, Trường
Đại học Vinh đã không ngừng đổi mới trên tất cả các lĩnh vực: Đào tạo,
nghiên cứu khoa học, quản lý giáo dục, xây dựng cơ sở vật chất…Tuy nhiên,

8
5.3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng
đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học Vinh.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây
dựng cơ sở lý luận của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích- tổng hợp tài liệu;
- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây
dựng cơ sở thực tiễn của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu thực
tiễn có các phơng pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp điều tra;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
- Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm.
6.3. Các phương pháp hỗ trợ khác
- Phương pháp thống kê toán học;
- Sử dụng các phần mềm để xử lý số liệu thu được.
7. Đóng góp của luận văn
7.1. Về mặt lý luận
Trên cơ sở kế thừa lí thuyết đã có, luận văn góp phần khái quát những
vấn đề cơ bản về quản lý chất lượng đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường
Đại học.
7.2. Về mặt thực tiễn
Trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý chất lượng đào tạo theo hệ
thống tín chỉ ở trường Đại học Vinh, luận văn đã chỉ ra những vấn đề còn tồn

dục higer - cách tiếp cận các bên liên quan (Defining quality in higher
education – the stakeholder approach)[5] .
- Chu Shiu Kee, Chất lượng giáo dục – Khái niệm, phạm vi và các
giải pháp. Văn phòng giáo dục UNESCO khu vực Châu Á – Thái Bình
Dương[7].
- Drennan, L and Beck. M (2001): Các chỉ số chất lượng dạy học những ảnh hưởng quan trọng trên điểm số các trường đại học Vương quốc
Anh

Teaching quality performance indicators – key influences on the UK

universities’ scores. Quality Assurance in Education 9[9].
- Lim, M. (2002), Kiểm định chất lượng giáo dục đại học – bài học
kinh nghiệm từ các nước phát triển (Quality Assurance in Higher Education:
A Study of developing Countries)[18] .
- Ellis, R. (1993), Quality assurance for university teaching: Issues
and approaches [11].


11
- Bogue, E. and Saunders, R. (1992) với Tiêu chuẩn của chất lượng
(The Evidence for Quality)[4].
- Van Vught, F. (1991) với Đánh giá chất lượng giáo dục bậc cao ở
châu Âu: Các bước tiếp theo (Higher education quality assessment in
Europe: The next step)[28].
Nhìn chung, các nghiên cứu về chất lượng dạy học trên đây thường tập
trung vào các vấn đề cơ bản như:
- Các quan niệm cơ bản về chất lượng dạy học
- Kiểm định và đánh giá chất lượng dạy học
- Các tiêu chí và chỉ số cơ bản trong đánh giá chất lượng dạy học
- Các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học ở nhà trường

giáo dục và đào tạo nước ta phải đổi mới căn bản, toàn diện và mạnh mẽ”….
Trong thời gian vừa qua, các nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng,
hiệu quả quản lý hoạt động dạy học, quản lý đào tạo nói chung đã được đề
cập trong nhiều đề tài nghiên cứu, luận văn với phạm vi rộng hoặc một số đề
tài trong phạm vi của một ngành, một địa phương. Nhiều nhà nghiên cứu đã quan
tâm đến vấn đề quản lý chất lượng giáo dục, quản lý chất lượng đào tạo như:
- Quản lý giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam của Phan Văn Kha,
1999[40].
- Quản lý quá trình đào tạo trong nhà trường của Nguyễn Đức Trí,
2004[44].
- Quản lý chất lượng giáo dục Trung cấp chuyên nghiệp – một số vấn
đề lý luận và thực tiễn, của Nguyễn Đức Trí 2006[45].
Ngoài ra, có nhiều luận văn thạc sỹ cũng quan tâm đến các giải pháp,
biện pháp nâng cao chất lượng quản lý quá trình giáo dục, dạy học hay đào
tạo trong các nhà trường, như:
- Những giải pháp quản lý đào tạo trong trường Trung học Lương thực
– Thực phẩm I –Tạ Văn Hương (năm 1998)[39];


13
- Các biện pháp chủ yếu nhằm cải tiến công tác quản lý đào tạo ở
trường Trung học Điện tử - Điện lạnh Hà Nội –Vũ Ngọc Tú (1999)[46];
- Những giải pháp tăng cường quản lý đào tạo tại trường Công nhân kỹ
thuật chế biến gỗ Trung Ương - Trần Đính (1999)[31];
- Các giải pháp tăng cường quản lý quá trình dạy học ở trường Sỹ quan
Phòng Hoá –Cao Xuân Chuyền (2000)[32];
- Một số biện pháp quản lý quá trình đào tạo tại trường trung học kinh
tế thành phố Hồ Chí Minh –Nguyễn Thị Đoan Trang (2005)[43];
- Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo ở Trường Cao đẳng tỉnh
Đồng Tháp - Đặng Huy Phương (2009)[42];

Như vậy, theo chúng tôi thì: "Chất lượng được đánh giá qua mức độ
trùng khớp với mục tiêu" và "Chất lượng là sự đáp ứng với mục tiêu đề ra"
đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới.
Trước đây người ta hiểu chất lượng theo quan niệm "tĩnh" có nghĩa là
"Chất lượng phụ thuộc vào mục tiêu", ngày nay hiểu chất lượng theo quan
niệm "động", có nghĩa là "chất lượng là một hành trình, không phải là điểm
dừng cuối cùng mà là đi tới".
Như vậy, chất lượng là một khái niệm trừu tượng và khó nắm bắt. Mặc
dù, có nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau nhưng có thể khái quát lại và tác
giả sử dụng khái niệm: Chất lượng là sản phẩm làm ra phù hợp với mục tiêu,
và khi sản phẩm đáp ứng được đòi hỏi của những người hưởng lợi: học sinh,
phụ huynh, người sử dụng, giáo viên, nhà trường, nhà nước và cộng đồng.
1.2.2. Chất lượng đào tạo
Khái niệm chất lượng đào tạo liên quan chặt chẽ với khái niệm hiệu quả
đào tạo. Nói đến hiệu quả đào tạo là nói đến các mục tiêu đã đạt được ở mức
độ nào, sự đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhà trường và sự chi phí tiền của, sức
lực, thời gian ít nhất nhưng đem lại kết quả cao nhất. Những điều kiện bảo
đảm chất lượng đào tạo là vô cùng quan trọng; Không thể có chất lượng cao
khi điều kiện quá thấp. Tính lịch sử cụ thể của chất lượng đòi hỏi phải kể đến


15
mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, đội ngũ giáo viên, cơ
sở vật chất, cơ chế quản lý... phục vụ cho giảng dạy và học tập ở mỗi giai
đoạn nhất định.
Theo từ điển giáo dục học, chất lượng đào tạo là “tổng hợp những
phẩm chất và năng lực được tạo nên trong quá trình giáo dục, đào tạo, bồi
dưỡng cho người học so với thang chuẩn giá trị của nhà nước hoặc xã hội.
Chất lượng giáo dục có tính lịch sử cụ thể và luôn luôn tùy thuộc vào các điều
kiện xã hội đương thời, trong đó có các thiết chế, chính sách và lực lượng

vực của đời sống xã hội. Đây là một hoạt động giữ vai trò hết sức quan trọng
nhưng cũng là một hoạt động hết sức khó khăn, phức tạp vì nó liên quan trực
tiếp đến con người, đến tổ chức, xã hội. Đối tượng quản lý được sử dụng một
cách rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
Theo từ điển tiếng Việt “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt
động theo những yêu cầu nhất định”.[47]
“Quản lý tức là con người đã nhận thức được quy luật vận động theo
quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn”.
Ở nước ta có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý.
Theo Nguyễn Minh Đạo: "Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển,
hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm
đạt tới mục tiêu đã đề ra" (Cơ sở khoa học quản lý, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội 1997)[30].
Các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ (2002) cho rằng: “Quản lý
là một quá trình có định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống
là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định,
những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mới của hệ
thống mà người quản lý mong muốn”.
Các định nghĩa tập trung nhấn mạnh mặt này hay mặt khác nhưng điểm
chung thống nhất đều coi “Quản lý là hành động có tổ chức, có mục đích


17
nhằm đạt tới mục tiêu xác định. Quản lý bao giờ cũng có chủ thể quản lý,
khách thể quản lý quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý”.
Nói một cách tổng quát nhất có thể xem: “Quản lý là một quá trình tác
động có tổ chức, có hướng đích gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến đối
tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra”.
Tuy nhiên, ta cần lưu ý một số điểm sau của định nghĩa trên:
- Quản lý bao giờ cũng là một tác động theo một hướng đích, có một

đứng ra lãnh đạo và dẫn dắt tổ chức chỉ đạo là quá trình tác động đến con
người để họ hoàn thành những nhiệm vụ được phân công đạt được các mục
tiêu của tổ chức.
+) Kiểm tra: Là một chức năng cơ bản và quá trình quản lý lãnh đạo
mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo, kiểm tra là đánh giá, là phát
triển và điều chỉnh những kết quả hoạt động của tổ chức nhằm đạt mục tiêu
của đơn vị, hoàn thành kế hoạch đã đề ra.
Kế hoạch hóa

Kiểm tra

Thông tin quản lý

Tổ chức

Chỉ đạo

Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý cơ bản và chu trình quản lý.
1.2.4 Quản lý chất lượng đào tạo
* Quản lý chất lượng
Quản lý chất lượng là tập hợp hoạt động của chức năng quản lý
chung để xác định chính sách chất lượng, mục đích, trách nhiệm và thực hiện
chúng qua các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, kiểm soát chất lượng,
đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ chất lượng.


19
Quản lý chất lượng là tất cả mọi hoạt động trong chức năng quản lý
tổng quát nhằm xác định các mục tiêu của chính sách và trách nhiệm bằng các
phương tiện như kế hoạch chất lượng, các quy trình chất lượng, khảo sát chất

- Quản lý tài chính
- Quản lý nhân sự
- Quản lý công tác kiểm tra đánh giá quá trình đào tạo
 Quản lý đào tạo.
Quản lý đào tạo liên quan đến cung cấp dịch vụ đào tạo cho sinh viên.
Các hoạt động trong lĩnh vực này bao gồm: Xác định mục tiêu đào tạo, các
chuẩn mực chất lượng, thiết kế và phát triển các chương trình đào tạo, giám
sát các hoạt động đào tạo, xây dựng và thực hiện quy trình đảm bảo chất
lượng đào tạo… Đây là lĩnh vực quản lý chất lượng có ý nghĩa quan trọng
nhất đối với một trường Đại học, Cao đẳng.
 Quản lý nghiên cứu khoa học.
Quản lý nghiên cứu khoa học liên quan đến quản lý chính các nghiên
cứu, môi trường khoa học, đồng thời còn liên quan đến cả lĩnh vực đào tạo,
khi Nghiên cứu khoa học được xem như một phương pháp đào tạo.
 Quản lý dịch vụ cộng đồng.
Quản lý dịch vụ cộng đồng liên quan đến Quản lý các hoạt động khác
với hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Đó có thể là các hoạt động
chính trị, xã hội, văn hóa, nghệ thuật, phát triển cộng đồng…
* Quản lý chất lượng đào tạo.
Quản lý chất lượng đào tạo là hoạt động quản lý giáo dục có nhiệm vụ
bảo đảm kết quả của các hoạt động đào tạo nhằm đạt được mục tiêu đào tạo.
“Đối với một trường Đại học, Cao đẳng, mục tiêu này là đào tạo ra các sinh
viên có thái độ đúng đắn và các kỹ năng tốt nhất, để từ đó họ có thể cung cấp
các kỹ năng nghề nghiệp tại nơi họ làm việc”. Quản lý chất lượng giáo dục
được thực hiện thông qua các quá trình đánh giá kết quả giáo dục – đào tạo
học sinh, sinh viên, đánh giá hoạt động của nhà trường và các cơ sở giáo dục.


21
Quản lý chất lượng giáo dục được tiến hành một cách có kế hoạch, có tổ chức

3/ thời gian tự học của mỗi sinh viên ở nhà cho một môn học.
1.2.5.2 Đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ (TC), còn gọi là học chế TC, là một
phương thức đào tạo tiên tiến trong hệ thống giáo dục đại học trên thế giới.
Phương thức đào tạo này ra đời từ năm 1872 tại Đại học Harvard (Hoa Kì).
Tiếp sau đó, hệ thống đào tạo này đã được áp dụng ngày càng rộng rãi tại
nhiều nước trên thế giới như các nước Bắc Mĩ, Liên minh Châu Âu, Nhật
Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaisia, Indonesia, Ấn Độ,
Senegal, Mozambic, Nigeria, Uganda, Camơrun, Trung Quốc, v.v….
Ở Việt Nam, Nghị quyết của Chính phủ số 14/2005/NQ-CP ngày
2/11/2005 về Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai
đoạn 2006-2020 đã nêu rõ: "Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế
độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích luỹ
kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp
theo ở trong nước và ở nước ngoài".
Năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Quyết định số 43/2007/QĐBGDĐT ban hành “Quy chế Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo
hệ thống tín chỉ” (Gọi tắt là Quy chế 43). Theo chủ trương của Bộ, năm 2011
là hạn cuối cùng để các trường liên quan phải chuyển đổi sang hệ thống đào
tạo mới này.
Đào tạo theo hệ thống TC có những khác biệt căn bản với đào tạo theo
niên chế. Hệ thống TC cho phép sinh viên đạt được văn bằng đại học qua việc
tích luỹ các loại tri thức giáo dục khác nhau được đo lường bằng một đơn vị
xác định, gọi là TC (credit).
Trong hệ thống TC, chương trình đào tạo mềm dẻo và có tính liên
thông cao. Chương trình đào tạo bao gồm hai loại học phần: Học phần bắt
buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi
chương trình, bắt buộc sinh viên phải tích luỹ. Học phần tự chọn là học phần


23

Còn theo Nguyễn Văn Đạm năm 1999[29] “giải pháp là toàn bộ
những ý nghĩ có hệ thống cùng với những quyết định và hành động theo sau,
dẫn tới sự khắc phục một khó khăn”.
Để hiểu rõ hơn khái niệm giải pháp, chúng ta cần phân biệt nó với
một số khái niệm tương tự như phương pháp, biện pháp. Điểm giống nhau
của các khái niệm là đều nói về cách làm, cách tiến hành, cách giải quyết một
công việc, một vấn đề. Còn điểm khác nhau ở chỗ, biện pháp chủ yếu nhấn
mạnh đến cách làm, cách hành động cụ thể, trong khi đó phương pháp nhấn
mạnh đến trình tự các bước có quan hệ với nhau để tiến hành một công việc
có mục đích.
Theo Hoàng Phê, phương pháp là “hệ thống các cách sử dụng để tiến
hành một công việc nào đó”. Còn theo Nguyễn Văn Đạm, phương pháp được
hiểu là “trình tự cần theo trong các bước có quan hệ với nhau khi tiến hành
một công việc có mục đích nhất định”.
Về khái niệm biện pháp, theo từ điển tiếng Việt, đó là “cách làm, cách
giải quyết một vấn đề cụ thể”.
Như vậy, khái niệm giải pháp tuy có những điểm chung với các khái
niệm trên nhưng nó cũng có điểm riêng. Điểm riêng cơ bản của thuật ngữ này
là nhấn mạnh đến phương pháp giải quyết một vấn đề, với sự khắc phục khó
khăn nhất định. Trong một giải pháp có thể bao gồm nhiều biện pháp.
1.2.6.2 Giải pháp quản lý chất lượng đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Giải pháp quản lý chất lượng đào tạo là những cách thức tác động hướng
vào việc tạo ra những biến đổi về chất lượng của người học trong thời gian đào
tạo, từ đó hình thành cho người học những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp của một
cử nhân, kỹ sư có trình độ đại học nhằm đáp ứng yêu cầu công việc sau khi ra
trường.
1.3. Chất lượng đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học


25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status