i
LỜI CAM ĐOAN
Với sự giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn T.S Nguyễn Thanh Phương và ban lãnh
đạo NHTM cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Kinh Bắc, tôi đã hoàn
thành luận văn. Tôi xin cảm đoan những nghiên cứu trong luận văn là của riêng tôi.
Các số liệu được lấy từ thực tế tại NHTM cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam
chi nhánh Kinh Bắc.
Bắc Ninh, Ngày….. tháng…… năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Hằng
ii
LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế, không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ
trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác. Trong suốt
thời gian từ khi bắt đầu học tập, nghiên cứu chương trình Cao học chuyên ngành
Quản lý kinh tế của trường Đại học Thương Mại đến nay, tác giả đã nhận được rất
nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy/Cô, gia đình, bè bạn và đồng nghiệp.
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tác giả xin gửi đến quý Thầy/Cô trong và ngoài
Trường Đại học Thương Mại đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền
đạt vốn kiến thức quý báu, phương pháp nghiên cứu khoa học trong suốt thời gian
tác giả học tập, nghiên cứu tại Trường và tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển
Việt Nam chi nhánh kinh Bắc.
Tác giả xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Thanh Phương đã dành nhiều thời
gian, công sức để nghiên cứu và hướng dẫn tác giả hoàn thành đề tài luận văn “
Quản lý hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng
thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Kinh Bắc”.
Thứ nhất: DNNVV đa dạng về loại hình sở hữu:thực tếDNNVV tồn tại và phát triển ở
mọi loại hình khác nhau như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp Nhà
nước, doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, hợp tác xã.
..........................................................................................................................................11
Thứ hai: DNNVV còn nhiều hạn chế về sản phẩm, dịch vụ và năng lực tài
chính:DNNVV có khối lượng sản phẩm dịch vụ hạn chế, chủ yếu dựa vào lao động thủ
công: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chỉ kinh doanh một vài sản phẩm dịch vụ
phù hợp với trình độ và kinh nghiệm của chủ doanh nghiệp cũng như năng lực tài chính
của doanh nghiệp. Phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa có nguồn tài chính hạn chế:
Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp này chủ yếu là vốn tự có của chủ sở hữu doanh
nghiệp, vay mượn từ người thân, bạn bè, khả năng tiếp cận các nguồn vốn từ các tổ chức
tín dụng thấp.....................................................................................................................11
Thứ ba:Tính năng động và linh hoạt của DNNVV cao: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có
mức đầu tư ban đầu thấp, sử dụng ít lao động và tận dụng các nguồn lực tại chỗ. Do đó,
các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể dễ dàng chuyển đổi phương án sản xuất, chuyển đổi
mặt hàng kinh doanh, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp và thậm chí là dễ dàng giải thể
doanh nghiệp....................................................................................................................12
Thứ tư: Trình độ quản lý của DNNVV chưa cao: Bộ máy quản lý của DNNVV thường
gọn nhẹ, trình độ quản lý chưa cao. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập và
hoạt động chủ yếu dựa vào năng lực và kinh nghiệm của bản thân chủ doanh nghiệp nên
tổ chức bộ máy rất gọn nhẹ, các quyết định trong quản lý cũng được thực hiện nhanh
chóng................................................................................................................................12
Thứ năm:Lao động trong các DNNVV thấp và sử dụng công nghệ cũ: Lao động trong
các doanh nghiệp nhỏ và vừa có trình độ thấp vì các doanh nghiệp này thường không có
đủ khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thuê những lao động có tay
iv
nghề cao do hạn chế về khả năng tài chính. Mặt khác, người lao động cũng ít được đào
NHNN
Ngân hàng TMCP
MHB
BIDV
DNNVV
QLKH
QLRR
GDKH
Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng thương mại cổ phần
Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông cửu Long
ngân hàng thương mại cổ phẩn đầu tư và phát triển
Việt nam
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Quản lý khách hàng
Quản lý rủi ro
Giao dịch khách hàng
vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Hoạt động huy động vốn tại BIDV Kinh Bắc giai đoạn 2012-2014.........Error:
Reference source not found
Bảng 2.2.Tỷ trọng nguồn vốn của BIDV Kinh Bắc trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn
2012-2014................................................................... Error: Reference source not found
Bảng 2.3. Một số chỉ tiêu về hoạt động cho vay tại BIDV chi nhánh Kinh Bắc giai đoạn
2012-2014................................................................... Error: Reference source not found
Bảng 2.4. Một số chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng DNNVV tại ngân hàng BIDV
Hình 1.1: Chức năng của ngân hàng thương mại..........Error: Reference source not found
Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức quản lý tín dụng................Error: Reference source not found
Sơ đồ 1.2: Mô hình tổ chức quản lý tín dụng................Error: Reference source not found
Sơ đồ 1.3: Mô hình tổ chức quản lý tín dụng................Error: Reference source not found
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức tại BIDV Kinh Bắc.............Error: Reference source not found
Sơ đồ2.2: Mô hình quản lý tín dụng tại BIDV chi nhánh Kinh Bắc.........Error: Reference
source not found
Sơ đồ 2.3. Quy trình tín dụng của BIDV......................Error: Reference source not found
1
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, thị trường tín dụng dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang
được các NHTM tại Việt Nam hết sức quan tâm. Đây là một khu vực thị trường có
nhiều tiềm năng, vừa góp phần làm tăng doanh thu lại vừa góp phần phân tán rủi ro
cho các ngân hàng. Nhận thấy rõ vai trò của phân khúc thị trường tín dụng doanh
nghiệp nhỏ và vừa trong tương lai, từ năm 2002 đến nay, Ngân hàng TMCP Đầu
tư và phát triển Việt Nam đã hết sức chú trọng đầu tư cả về nhân lực và vật lực để
phát triển mảng thị trường này.
Do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới diễn ra từ nửa
cuối năm 2008 đến nay, hoạt động tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại
Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam nói chung và Ngân hàng TMCP
Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Kinh Bắc nói riêng đang phải đối mặt với
rất nhiều khó khăn như: tốc độ tăng trưởng tín dụng không cao qua các năm, số
lượng khách hàng có quan hệ tín dụng với chi nhánh tăng không đáng kể ,cơ cấu
cho vay theo ngành nghề chưa đa dạng…biểu hiện rõ nét nhất là chất lượng tín
dụng chưa đạt được những kết quả cao so với các chi nhánh cùng địa bàn. Điều đó
cho thấy công tác quản lý tín dụng đối với mảng nghiệp vụ này chưa được tốt
động tín dụng đối với DNNVV tại các ngân hàng, đưa ra được các giải pháp mang tính
khả thi và đạt được những kết quả nhất định. Tiêu biểu có một số công trình:
- Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Hà Nội” của tác giả
Trần Kiều Trang, học viện ngân hàng 2014. Trong luận văn, tác giả đã đưa ra một
số lý luận cơ bản về tín dụng và rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng, từ đó
phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý rủi ro
tín dụng tại chi nhánh
- Luận văn thạc sỹ “ Quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của
ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Hồng Hà” của tác
giảNguyễn Quốc Hưng, học viện ngân hàng năm 2013. Trong luận văn, tác giả đã tập
trung vào nghiên cứu về rủi ro tín dụng và đưa ra các giải pháp tăng cường quản lý rủi ro
tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Hồng Hà.
3
- Luận văn thạc sỹ “ Quản lý rủi ro tín dụng tại NHTM cổ phần công thương
Việt Nam chi nhánh Đông Anh” của tác giả Lê Thị Hương, học viện ngân hàng năm
2013. Trong luận văn tác giả đã đánh giá thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại chi
nhánh NHTM cổ phần công thương Việt Nam chi nhánh Đông Anh và đề xuất giải
pháp nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng.
- Luận văn thạc sỹ “ Quản lý rủi ro tín dụng tại NHTM cổ phần Tiền Phong
chi nhánh Hà Nội” của tác giả Đỗ Thị Huệ, trường Đại Học Thương Mại năm 2015.
Trong luận văn tác giả đã đánh giá thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh
NHTM cổ phần Tiền Phong chi nhánh Hà Nội và đề xuất giải pháp nâng cao chất
lượng quản lý rủi ro tín dụng.
Từ những phân tích trên cho thấy đề tài luận văn “ Quản lý hoạt động tín
dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại NHTM cổ phần đầu tư và phát triền Việt
Nam chi nhánh Kinh Bắc” là không trùng lặp với các luận văn đã được công bố.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt
động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại NHTM cổ phần Đầu tư và Phát
triển Việt Nam- chi nhánh Kinh Bắc.
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ
VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại
a. Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Để đưa ra được một định nghĩa về NHTM, người ta thường phải dựa vào tính
chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính, và đôi khi còn kết hợp
tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động.Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều
khái niệm về NHTM:
Ví dụ như Ở Mỹ: NHTM là Công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ
tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Còn Ở Pháp (1941) NHTM được định nghĩa là: "NHTM là những xí nghiệp
hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình
thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ
trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính".
Ở Việt Nam, NHTM được quan điểm là:tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt
động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền ký gửi từ khách hàng với trách nhiệm
hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm
phương tiện thanh toán. Từ những nhận định trên có thể thấy:NHTM là một trong
những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với
sự phát triển của nền kinh tế.
b. Chức năng trung gian thanh toán
NHTM làm trung gian thanh toán khi ngân hàng thực hiện thanh toán theo yêu
cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền
hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán
7
hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Ở đây NHTM đóng vai trò là người
"thủ quỹ" cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tài khoản
của họ.
NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở thực hiện
chức năng trung gian tín dụng vì tiền đề để khách hàng thực hiện thanh toán qua
ngân hàng chính là một phần tiền gửi trước đó. Việc các NHTM thực hiện chức
năng trung gian thanh toán có ý nghĩa to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế. Với chức
năng này, các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán thuận
lợi. Nhờ đó, các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian và đảm
bảo được việc thanh toán an toàn. Qua đó, chức năng này thúc đẩy lưu thông hàng
hoá, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển
kinh tế. Đồng thời, việc thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm
được lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như chi
phí in ấn, đếm nhận, bảo quản tiền...
Đối với NHTM, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân
hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán. Thêm nữa,chức nàng này làm tăng nguồn
vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách
hàng. Chức năng này cũng chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của NHTM.
c. Chức năng "tạo tiền"
Khi có sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng, hình thành nên ngân hàng phát
hành và các ngân hàng trung gian thì ngân hàng trung gian không còn thực hiện
trong hoạt động huy động vốn:
Thứ nhất: huy động vốn chủ sở hữu
Thứ hai: huy động vốn nợ bao gồm: vốn tiền gửi (trong vốn tiền gửi có tiền
gửi thanh toán tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm), huy động tiền vay và các
loại vốn khác.
b. Hoạt động sử dụng vốn
Thứ nhất: hoạt động ngân quỹ:
Ngân quỹ của ngân hàng là những tài sản có độ thanh khoản lớn nhất như tiền
mặt, ngoại tệ tại quỹ, tại các máy ATM, tại các chi nhánh ngân hàng trong cùng hệ
thống hay tiền gửi thanh toán ở Ngân hàng nhà nước. Thành phần ngân quỹ bao
gồm dự trữ bắt buộc và dự trữ đảm bảo khả năng thanh toán hay dự trữ vượt mức
9
Dự trữ bắt buộc là khoản dự trữ mà ngân hàng nhà nước yêu cầu các NHTM
nộp vào tài khoản bị phong tỏa tại ngân hàng nhà nước hoặc các NHTM trực tiệp
quản lý nhằm mục đích: hỗ trợ, bảo đảm an toàn cho hoạt động của NHTM, vận
hành chính sách tiền tệ quốc gia, quản lý hoạt động NHTM.
Dự trữ vượt quá là các khoản dự trữ tồn tại dưới dạng tiền mặt tại quỹ, các
khoản tiền gửi tại ngân hàng khác, tiền mặt trong quá trình thu.
Nhìn chung, ngân quỹ của NHTM là tài sản không sinh lời (hoặc sinh lời thấp
trong trường hợp tiền gửi tại ngân hàng nhà nước và các ngân hàng khác được
hưởng lãi) song lại là tài khoản có tính thanh khoản cao nhất, đáp ứng nhu cầu chi
trả thường xuyên. Do vậy, mỗi ngân hàng đều cố gắng giữ ngân quỹ ở mức thấp
nhất có thể được.
Thứ hai: Hoạt động cho vay
Là việc ngân hàng nhường quyền sử dụng vốn cho người khác trong một thời
gian, sau đó được quyền thu cả gốc và lãi. Cho vay là khoản mục có tỷ lệ cao nhất
trong các loại tài sản của ngân hàng. Có rất nhiều loại hình cho vay khác nhau đáp
khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác. Trong một
vài trường hợp, các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi
giới chứng khoán để cung cấp dịch vụ môi giới.
Thứ sáu: Cung cấp dịch vụ đại lý: nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động
không thể thiết lập chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi, đặc biệt trong quá
trình hội nhập kinh tế thế giới. Dịch vụ ngân hàng đại lý đáp ứng nhu cầu thanh
toán, phát hành hộ chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối đồng tài trợ...
Thứ bảy: Mua bán ngoại tệ là việc ngân hàng mua hoặc bán một loại ngoại tệ
đáp ứng nhu cầu của khách hàng và thu phí dịch vụ.
NHTM là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế
và có rất nhiều hoạt động khác nhau. Các hoạt động của NHTM luôn có ảnh hưởng
đáng kể tới sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Trong các hoạt động nêu trên của
NHTM thì hoạt động cho vay là hoạt động kinh doanh chủ chốt của NHTM để tạo ra
lợi nhuận, luôn chiếm khoảng 70% tổng tài sản của Ngân hàng và là hoạt động mang
tính chất sống còn đối với hầu hết các NHTM truyền thống ở Việt Nam hiện nay.
1.1.2. Hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của NHTM
1.2.2.1. Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
a. Khái niệm
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ được du nhập từ bên ngoài vào Việt
Nam. Định nghĩa về DNNVV, doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ rõ ràng phải dựa vào
quy mô doanh nghiệp. Thông thường đó là tiêu chí về số nhân công, vốn đăng kí,
11
doanh thu..., các tiêu chí này thay đổi theo từng quốc gia, từng chương trình phát
triển khác nhau.
Ở Việt Nam theo công văn số 681/CP-KTN ban hành ngày 20/06/1998 về việc
định hướng chiến lược và chính sách phát triển các DNNVV của Chính phủ thì
DNNVV là doanh nghiệp có số công nhân dưới 200 người và số vốn kinh doanh
chính hạn chế: Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp này chủ yếu là vốn tự có của
chủ sở hữu doanh nghiệp, vay mượn từ người thân, bạn bè, khả năng tiếp cận các
nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng thấp.
Thứ ba:Tính năng động và linh hoạt của DNNVV cao: Các doanh nghiệp nhỏ
và vừa có mức đầu tư ban đầu thấp, sử dụng ít lao động và tận dụng các nguồn lực
tại chỗ. Do đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể dễ dàng chuyển đổi phương án
sản xuất, chuyển đổi mặt hàng kinh doanh, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp và
thậm chí là dễ dàng giải thể doanh nghiệp.
Thứ tư: Trình độ quản lý của DNNVV chưa cao: Bộ máy quản lý của
DNNVV thường gọn nhẹ, trình độ quản lý chưa cao. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa
được thành lập và hoạt động chủ yếu dựa vào năng lực và kinh nghiệm của bản thân
chủ doanh nghiệp nên tổ chức bộ máy rất gọn nhẹ, các quyết định trong quản lý
cũng được thực hiện nhanh chóng.
Thứ năm:Lao động trong các DNNVV thấp và sử dụng công nghệ cũ: Lao
động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa có trình độ thấp vì các doanh nghiệp này
thường không có đủ khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thuê
những lao động có tay nghề cao do hạn chế về khả năng tài chính. Mặt khác, người
lao động cũng ít được đào tạo lại do kinh phí hạn hẹp. Bên cạnh đó thì việc khả
năng tài chính thấp cũng khiến cho các doanh nghiệp này cũng thường sử dụng
công nghệ cũ, lạc hậu phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nên chất lượng
sản phẩm chưa cao.
Thứ sáu:Khả năng tiếp cận thị trường của DNNVV kém: Đặc biệt là đối với
thị trường nước ngoài. Nguyên nhân chủ yếu là do các doanh nghiệp nhỏ và vừa
thường là những doanh nghiệp mới hình thành, khả năng tài chính cho các hoạt
động Marketting rất hạn chế và họ chưa có nhiều khách hàng truyền thống. Thêm
vào đó, quy mô thị trường của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường bó hẹp trọng
phạm vi địa phương, việc mở rộng ra các thị trường mới là rất khó khăn.
Thứ bẩy: Khả năng tiếp cận nguồn vốn Ngân hàng của các DNNVV còn hạn
chủ yếu các DNNVV cần vốn phục vụ mục đích bổ sung vốn lưu động, do đó thời
hạn tín dụng chủ yếu mà các DNNVV sử dụng là vay ngắn hạn.
14
Thứ ba: Các quan hệ tín dụng thường phải có tài sản đảm bảo. Vì đặc điểm
của các DNNVV là quy mô nhỏ, sổ sách chứng từ kế toán không minh bạch, rõ
ràng, chưa có uy tín trên thị trường nên khi tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng thì
các DNVV buộc phải có tài sản đảm bảo để bảo đảm cho các khoản vay của doanh
nghiệp tại ngân hàng.
Thứ tư:Lãi suất của các hợp đồng tín dụng đối với DNNVV thường cao hơn đối
với các hợp đồng tín dụng khác vì cácDNNVVchưa có sự tín nhiệm cao từ các NHTM.
Thứ năm:Mức độ rủi ro của các hợp đồng tín dụng được ký kết giữa ngân
hàng và khách hàng thường cao hơn các hợp đồng tín dụng khác vì trình độ quản lý
của DNNVV chưa tốt, khả năng thích nghi khi với biến động trên thị trường tài
chính, tiền tệ như: lạm phát, khủng hoảng kinh tế…..còn kém
1.2. QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Quan niệm về quản lý hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ
và vừa
“Quản lý” là một cụm từ có nội hàm rộng và có nhiều quan niệm theo các giác
độ tiếp cận khác nhau. Xét trên phương diện nghĩa của từ, quản lý thường được hiểu
là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó.
Mặt khác, khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa
rộng và nghĩa hẹp. Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp
nên quản lý cũng có nhiều cách giải thích, lý giải khác nhau. Cùng với sự phát triển
của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người
thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lí càng trở nên rõ rệt
Các nhà quản lý học đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về quản lý như:
trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện và hoàn thành mục tiêu chung. Công
việc quản lý bao gồm 5 nhiệm vụ: Xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp
và kiểm soát. Trong đó, các nguồn lực có thể được sử dụng và để quản lý là nhân
lực, tài chính, công nghệ và thiên nhiên.
Như vậy dù công việc quản lý có liên quan đến từng ngành, từng lĩnh vực và
từng đối tượng quản lý cụ thể thì đều phải dựa trên những quan niệm chung về quản
lý nói trên.
16
Trong hoạt động ngân hàng, quản lý tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
được hiểu đơn giản là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách
quản lý hoạt động tín dụng đối với các DNNVV nhằm đạt được mục tiêu phát triển
tín dụng an toàn, có hiệu quả. Hoạt động quản lý tín dụng đối với DNNVV này
được thực hiện ở tất cả các cấp, các phòng ban nhằm thực hiện nhất quán các văn
bản, chính sách từ hội sở tới chi nhánh nhằm đạt được hiệu quả của công tác quản
lý một cách tốt nhất. Hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động tín dụng đối với
DNNVV nói riêng thì luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro vì thế quản lý tốt hoạt động này là
tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
1.2.2. Nội dung quản lý hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ngân hàng là tổ chức hoạt động theo hệ thống, từ hội sở đến các chỉ nhánh do
đó, công việc quản lý sẽ được thực hiện thống nhất trong các cấp trên:
1.2.2.1. Nội dung quản lý tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của hội
sở
Công tác quản lý rủi ro tín dụng tại hội sở thực chất là việc xây dựng mô hình
quản lý tín dụng: Mô hình quản lý tín dụng phản ánh một cách hệ thống các vấn
đề về cơ chế, chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động
an toàn và các chốt kiểm soát hoạt động tín dụng trong một quy trình thực hiện
nghiệp vụ.Mô hình quản lý tín dụng chính là hệ thống các mô hình bao gồm mô
Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức quản lý tín dụng
(Nguồn: Ban hành chính tổng hợp- Hội sở chính)
- Ban pháp chế: Chịu trách nhiệm soạn thảo các văn bản, quy định liên quan
đến pháp lý của các khoản tín dụng nói chung và tín dụng đối với DNNVV nói
riêng. Ban này ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể về tính pháp lý đối với từng
đối tượng khách hàng và đối với từng loại tài sản đảm bảo để giảm thiểu tối đa
những sai sót, rủi ro không đáng có.
- Ban khách hàng doanh nghiệp: Thực hiện quản lý chung đối tượng khách
hàng là doanh nghiệp, ban hành các văn bản, quy định liên quan đến việc cấp tín
dụng đến từng đối tượng khách hàng doanh nghiệp cụ thể.
- Ban quản lý rủi ro tín dụng: Chịu trách nhiệm ban hành các văn bản liên
quan đến chính sách, biện pháp phát triển và nâng cao chất lượng tín dụng, ngoài ra
còn ban hành các văn bản về công tác quản lý rủi ro tín dụng, công tác quản lý rủi
ro tác nghiệp, công tác phòng chống rửa tiền, công tác quản lý hệ thống chất lượng
và công tác kiểm tra nội bộ.
- Ban quản lý tín dụng: Quản lý chung và xây dựng các chính sách khác.
Chính sách tín dụng là tổng thể các quy định của Ngân hàng về hoạt động tín dụng
nhằm đưa ra định hướng và hướng dẫn hoạt động của cán bộ Ngân hàng trong việc
cấp tín dụng cho khách hàng. Quy định này gồm toàn bộ các vấn đề liên quan đến
cấp tín dụng như: Quy mô, lãi suất, kỳ hạn, đảm bảo, phạm vi, các khoản tín dụng
có vấn đề và các nội dung khác … Chính sách tín dụng là đường lối, chủ trương
đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi đúng hướng liên quan đến việc mở rộng hay thu