1
1
LỜI CAM ĐOAN
Với sự giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn T.S Nguyễn Thanh Phương và ban lãnh
đạo ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Kinh
Bắc, tôi đã hoàn thành luận văn. Tôi xin cảm đoan những nghiên cứu trong luận văn
là của riêng tôi. Các số liệu được lấy từ thực tế tại ngân hàng thương mại cổ phần
Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Kinh Bắc.
Bắc Ninh, Ngày….. tháng…… năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Hằng
2
2
LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế, không có sự thành công nào mà không gắn liền với những
sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác.
Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập, nghiên cứu chương trình Cao học
chuyên ngành Quản lý kinh tế của trường Đại học Thương Mại đến nay, tác
giả đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy/Cô, gia đình,
bè bạn và đồng nghiệp.
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tác giả xin gửi đến quý Thầy/Cô trong và
ngoài Trường Đại học Thương Mại đã cùng với tri thức và tâm huyết của
mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu, phương pháp nghiên cứu khoa học
trong suốt thời gian tác giả học tập, nghiên cứu tại Trường và tại Ngân hàng
DNNVV
QLKH
QLRR
GDKH
Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng thương mại cổ phần
Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông cửu
Long
ngân hàng thương mại cổ phẩn đầu tư và phát triển
Việt nam
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Quản lý khách hàng
Quản lý rủi ro
Giao dịch khách hàng
4
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Tình hình huy động vốn tại BIDV Kinh Bắc giai đoạn 2012-2014
Bảng 2.2.Tỷ trọng nguồn vốn củaBIDV Kinh Bắctrên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Bảng 2.3. Một số chỉ tiêu về hoạt động cho vay giai đoạn 2012-2014
Bảng 2.4. Một số chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay DNNVV tại ngân hàng
BIDV chi nhánh Kinh Bắc giai đoạn 2012-2014
Bảng 2.5. Cơ cấu dư nợ cho vay DNNVV giai đoạn 2012-2014
Bảng 2.6. Cơ cấu dư nợ DNNVV theo ngành kinh tế giai đoạn 2012-2014.
Bảng 2.7. Cơ cấu dư nợ theo nguồn vốn giai đoạn 2012-2014
Biểu 2.1. Cơ cấu nguồn vốn theo thành phần kinh tế giai đoạn 2012-2014
Ngân hàng TMCP
Đầu tư và phát triển Việt Nam đã hết sức chú trọng đầu tư cả về nhân lực và
vật lực để phát triển mảng thị trường này.
Do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới diễn ra từ nửa
cuối năm 2008 đến nay, hoạt động tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại
Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam nói chung và Ngân hàng TMCP
Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Kinh Bắc nói riêng đang phải đối mặt với
rất nhiều khó khăn như: tốc độ tăng trưởng tín dụng không tăng nhiều qua các năm,
tỷ lệ nợ xấu tăng, số lượng khách hàng có quan hệ tín dụng với chi nhánh tăng
không đáng kể ,cơ cấu cho vay theo ngành nghề chưa đa dạng…biểu hiện rõ nét
nhất là chất lượng tín dụng sạch giảm sút qua các năm. Điều đó cho thấy công tác
quản lý tín dụng đối với mảng nghiệp vụ này chưa tốt Trong khi đó, để đảm bảo
hoạt động của chi nhánh được an toàn hiệu quả thì mở rộng tín dụng phải đi đôi với
chất lượng tín dụng, tức là công tác quản lý tín dụng phải được chỉ đạo và triển khai
thực hiện tốt.
Như vậy có thể thấy chất lượng, hiệu quả của công tác quản lý tín dụng đối
với doanh nghiệp nhỏ và vừa đang là vấn đề được quan tâm của tất cả các ngân
hàng nói chung và chi nhánh Kinh Bắc nói riêng. Xuất phát từ những lý do trên và
thực tế tác giả đang công tác tại phòng Khách hàng, Ngân hàng BIDV chi nhánh
Kinh Bắc vì thế tác giả đã chọn đề tài “Quản lý hoạt động tín dụng đối với doanh
nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt
Nam- Chi nhánh Kinh Bắc”để nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ với mục đích tìm
7
hiểu thực trạng công tác quản lý tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại. Trên
cơ sở đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hơn
nữa chất lượng của công tác này.
2. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Quốc Hưng, học viện ngân hàng năm 2013. Trong luận văn, tác giả đã tập trung vào
nghiên cứu về rủi ro tín dụng và đưa ra các giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng
8
tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Hồng Hà.
-
Luận văn thạc sỹ “ Quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần công
thương Việt Nam chi nhánh Đông Anh” của tác giả Lê Thị Hương, học viện ngân
hàng năm 2013. Trong luận văn tác giả đã đánh giá thực trạng quản lý rủi ro tín
dụng tại chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam chi nhánh
Đông Anh và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng.
Từ những phân tích trên cho thấy đề tài luận văn “ Quản lý hoạt động tín dụng
đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát
triền Việt Nam chi nhánh Kinh Bắc” là không trùng lặp với các luận văn đã được
công bố.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là công tác quản lý hoạt động tín dụng đối với doanh
nghiệp nhỏ và vừa tại các NHTM nói chung và tại ngân hàng thương mại cổ phần
Đầu tư và phát triển Việt Nam- Chi nhánh Kinh Bắc nói riêng
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian:Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh
Kinh Bắc
- Về thời gian: Số liệu sử dụng để nghiên cứu trong luận văn chủ yếu được thu
thập trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2014.
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về công tác quản lý hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa; Thực
trạng, nội dung, kết quả, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác quản lý hoạt
1.1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ
VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại
a. Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Để đưa ra được một định nghĩa về NHTM, người ta thường phải dựa vào tính
chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính, và đôi khi còn kết hợp
tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động.Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều
khái niệm về NHTM:
Ví dụ như Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là Công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên
cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Còn Ở Pháp (1941) NHTM được định nghĩa là: "Ngân hàng thương mại là
những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công
chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên
đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính".
Ở Việt Nam, NHTM được quan điểm là: là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt
động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền ký gửi từ khách hàng với trách nhiệm
hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm
phương tiện thanh toán. Từ những nhận định trên có thể thấy:NHTM là một trong
những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với
nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về
sản phẩm dịch vụ của xã hội.
Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng phân tích, khai thác nội dung
của các định nghĩa đó, dễ dàng nhận thấy các NHTM đều có chung một tính chất là
11
tổ chức huy động vốn để cho vay. Các NHTM huy động tiền nhàn rỗi từ dân cư và
các tổ chức kinh tế để cấp vốn cho những nơi thiếu vốn nhằm mục tiêu lợi nhuận.
trò là người "thủ quỹ" cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ
tài khoản của họ.
NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở thực hiện
chức năng trung gian tín dụng vì tiền đề để khách hàng thực hiện thanh toán qua
ngân hàng chính là một phần tiền gửi trước đó. Việc các NHTM thực hiện chức
năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế. Với
chức năng này, các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán
thuận lợi. Nhờ đó, các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian
đi tới gặp chủ nợ, người phải thanh toán và lại đảm bảo được việc thanh toán an
toàn. Qua đó, chức năng này thúc đẩy lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ thanh
toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Đồng thời, việc
thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm được lượng tiền mặt trong
lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, đếm nhận,
bảo quản tiền...
Đối với NHTM, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân
hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán. Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn cho
vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng.
Chức năng này cũng chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của NHTM.
c. Chức năng "tạo tiền"
Khi có sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng, hình thành nên ngân hàng phát
hành và các ngân hàng trung gian thì ngân hàng trung gian không còn thực hiện
13
chức năng phát hành giấy bạc ngân hàng nữa. Nhưng với chức năng trung gian tín
dụng và trung gian thanh toán, NHTM có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi
sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương
mại. Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch.
Ban đầu từ những khoản tiền dự trữ tăng lên, ngân hàng thương mại sử dụng
thiết các NHTMcó thể phát hành các loại giấy tờ có giá như:
+Kỳ phiếu: Thường có thời hạn từ 3 tháng đến 12 tháng.
+Trái phiếu: Thường có thời hạn trên 12 tháng.
+Chứng chỉ tiền gửi: Có thời hạn dưới 12 tháng.
Ngân hàng thương mại sẽ phát hành giấy tờ có giá theo từng đợt với quy mô,
thời hạn cũng như cách trả lãi và mức lãi suất khác nhau tuỳ thuộc vào nhu cầu vốn
của ngân hàng lúc bấy giờ. Lãi suất trả cho nghiệp vụ này thường cao hơn so với lãi
suất tiền gửi dựa trên cơ sở quan hệ cung- cầu về vốn trên thị trường cũng như lãi
suất chung của nền kinh tế. Ngược lại ngân hàng có thể chủ động trong việc huy
động vốn của mình. NHTM chỉ được phát hành giấy tờ có giá để huy động vốn khi
có sự cho phép của NHNN
Ngoài ra, NHTM cũng có thể đi vay vốn từ Ngân hàng trung ương thông qua
các hình thức vay ngắn hạn để bổ sung hoặc vay tái cấp vốn. Bên cạnh đó, NHTM
có thể vay của các NHTM hoặc TCTD khác dưới hình thức vay ngắn hạn trên thị
trường tiền tệ liên ngân hàng, chịu lãi suất biên độ trần và sàn để tránh những biến
16
động đột ngột của cung cầu trên thị trường. Ngoài ra, ngân hàng còn có các vốn
khác bao gồm các loại vốn được tạo lập trong quá trình làm trung gian thanh toán
hoặc làm đại lí thu hộ ,chi hộ cho khách hàng, cho các tổ chức tín dụng trong và
ngoài nước.
b. Nhóm nghiệp vụ sử dụng vốn
Nghiệp vụ tài sản có là các nghiệp vụ liên quan đến việc sử dụng vốn đã được
tạo lập trong các nghiệp vụ tài sản nợ để hình thành nên các tài sản có và từ đó
mang lại thu nhập cho NHTM. Các nghiệp vụ tài sản có của NHTM bao gồm:
nghiệp vụ ngân quỹ, nghiệp vụ đầu tư, nghiệp vụ cho vay, nghiệp vụ tài sản cố định
và nghiệp vụ tài sản có khác
Nghiệp vụ ngân quỹ
Thứ hai: các Nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn:
- Cho vay theo dự án: Là một trong những phương pháp tài trợ cho dự án đã
được xây dựng trước. Trong đó, việc cho vay được tiến hành trên một văn bản hoàn
chỉnh về việc vay và trả nợ đã được nghiên cứu, soạn thảo, được ký kết giữa các chủ
dự án và Ngân hàng, đồng thời cũng dựa trên các căn cứ khoa học kỹ thuật phù hợp
với đường lối phát triển kinh tế của Nhà nước.
-Cho vay thuê mua (leasing): Là hình thức tín dụng trung-dài hạn trên cơ sở
hợp đồng cNho thuê tài sản giữa bên cho thuê là TCTD với khách hàng thuê. Khi
kết thúc thời hạn thuê, khách hàng được quyền mua lại hoặc tiếp tục thuê các tài sản
đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê. Trong thời hạn thuê, các
bên không được đơn phương từ bỏ hợp đồng.
18
-Cho vay hợp vốn: Là nghiệp vụ mà một nhóm Ngân hàng sẽ cùng cho vay
đối với một dự án vay vốn, trong đó sẽ có một tổ chức đứng ra làm đầu mối để dàn
xếp theo quy định.
Việc phân bổ nguồn vốn huy động vào nghiệp vụ cho vay ngắn hạn và cho vay
trung dài hạn sao cho có hiệu quả nhất luôn chiếm được sự quan tâm lớn của Ngân
hàng. Nói như vậy, bởi tín dụng là nghiệp vụ chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng tài
sản có sinh lời của NHTMnên nó mang vai trò quyết định đến một bộ phận thu nhập
của Ngân hàng.
Nghiệp vụ đầu tư tài chính
Đầu tư Tài chính là nghiệp vụ sử dụng vốn của Ngân hàng, đầu tư vào các tài
sản Tài chính như: Giấy tờ có giá của Nhà nước, chứng khoán của Công ty, các
công cụ phái sinh.
Thực hiện nghiệp vụ này, các NHTM chủ yếu nhằm mục tăng cường dự trữ
thứ cấp cho dự trữ sơ cấp sau đó mới là đa dạng hóa hoạt động kinh doanh để phân
tán rủi ro từ đó gia tăng thu nhập cho ngân hàng.
thu được phí bảo lãnh.
Ngoài ra các ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ ngoại bảng khác
như:nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối và kinh doanh vàng, dịch vụ ủy thác,dịch vụ tư
vấn…
1.1.2. Hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của NHTM
1.2.2.1. Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
a. Khái niệm
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ được du nhập từ bên ngoài vào Việt
Nam. Định nghĩa về DNNVV, doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ rõ ràng phải dựa trước
20
tiên vào quy mô doanh nghiệp. Thông thường đó là tiêu chí về số nhân công, vốn
đăng kí, doanh thu..., các tiêu chí này thay đổi theo từng quốc gia, từng chương
trình phát triển khác nhau.
Ở Việt Nam để giải quyết vấn đề định nghĩa này, công văn số 681/CP-KTN
ban hành ngày 20/06/1998 về việc định hướng chiến lược và chính sách phát triển
các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Chính phủ chỉ ra rằng DNN&V là doanh nghiệp
có số công nhân dưới 200 người và số vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng (tương đương
378.000 USD - theo tỷ giá giữa VND và USD tại thời điểm ban hành công văn).
Tiêu chí này đặt ra nhằm xây dựng một bức tranh chung về các DNN&V ở Việt
Nam, phục vụ cho việc hoạch định chính sách. Trên thực tế, tiêu chí này không cho
phép phân biệt các doanh nghiệp vừa, nhỏ và cực nhỏ. Vì vậy, tiếp theo đó Nghị
định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ về trợ giúp phát
triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đưa ra chính thức định nghĩa DNN&V như sau:
“DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, có đăng ký kinh doanh theo pháp
luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình
hàng năm không quá 300 người”. Các doanh nghiệp cực nhỏ được quy định là có từ
1 đến 9 nhân công, doanh nghiệp có từ 10 đến 49 nhân công được coi là doanh
Thứ tư: Trình độ quản lý của DNNVV chưa cao: Bộ máy quản lý của
DNNVV thường gọn nhẹ, trình độ quản lý chưa cao. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa
được thành lập và hoạt động chủ yếu dựa vào năng lực và kinh nghiệm của bản thân
chủ doanh nghiệp nên tổ chức bộ máy rất gọn nhẹ, các quyết định trong quản lý
cũng được thực hiện nhanh chóng.
Thứ năm: Lao động trong các DNNVV thấp và sử dụng công nghệ cũ: Lao
động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa có trình độ thấp vì các doanh nghiệp này
thường không có đủ khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thuê
những lao động có tay nghề cao do hạn chế về khả năng tài chính. Mặt khác, người
lao động cũng ít được đào tạo lại do kinh phí hạn hẹp. Bên cạnh đó thì việc khả
năng tài chính thấp cũng khiến cho các doanh nghiệp này cũng thường sử dụng
công nghệ cũ, lạc hậu phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nên chất lượng
sản phẩm chưa cao.
Thứ sáu: Khả năng tiếp cận thị trường của DNNVV kém: Đặc biệt là đối với
thị trường nước ngoài. Nguyên nhân chủ yếu là do các doanh nghiệp nhỏ và vừa
thường là những doanh nghiệp mới hình thành, khả năng tài chính cho các hoạt
22
động Marketting rất hạn chế và họ chưa có nhiều khách hàng truyền thống. Thêm
vào đó, quy mô thị trường của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường bó hẹp trọng
phạm vi địa phương, việc mở rộng ra các thị trường mới là rất khó khăn.
Thứ bẩy: Khả năng tiếp cận nguồn vốn Ngân hàng của các DNNVV còn hạn
chế: Các DNNVV khó tiếp cận nguồn vốn của Ngân hàng do các doanh nghiệp này
thường thiếu tài sản bảo đảm, sổ sách chứng từ kế toán không minh bạch, rõ ràng,
chưa có uy tín trên thị trường.
1.2.2.2. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp
nhỏ vàvừa
a. Khái niệm hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
ràng, chưa có uy tín trên thị trường nên khi tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng thì
các DNVV buộc phải có tài sản đảm bảo để bảo đảm cho các khoản vay của doanh
nghiệp tại ngân hàng.
- Thứ tư: Lãi suất của các hợp đồng tín dụng đối với DNNVV thường cao hơn
đối với các hợp đồng tín dụng khác vì cácDNNVVchưa có sự tín nhiệm cao từ các
NHTM.
- Thứ năm: Mức độ rủi ro tín dụng của các hợp đồng vay vốn được ký kết
giữa ngân hàng và khách hàng thường cao hơn các hợp đồng tín dụng khác vì trình
độ quản lý của DNNVV chưa cao, khả năng thích nghi khi có sự biến động trên thị
trường tài chính, tiền tệ như: lạm phát, khủng hoảng kinh tế…..còn kém
1.2. QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Quan niệm về quản lý hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ
và vừa
1.2.1.1 Khái niệm về quản lý
“Quản lý” là một cụm từ có nội hàm rộng và có nhiều quan niệm theo các
giác độ tiếp cận khác nhau. Xét trên phương diện nghĩa của từ, quản lý thường được
hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó.
Mặt khác, khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa
rộng và nghĩa hẹp. Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp
nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau. Cùng với sự phát triển của
phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì
sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lí càng trở nên rõ rệt
24
Các nhà quản lý học đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về quản lý như:
Nhà quản lý học Tailor cho rằng: “ quản lý thực chất là hoạt động có chủ đích
người quản lý phải biết rõ mục tiêu cần đạt được, ai thích hợp với công việc gì và
25
Như vậy dù công việc quản lý có liên quan đến từng ngành, từng lĩnh vực và
từng đối tượng quản lý cụ thể thì đều phải dựa trên những quan niệm chung về quản
lý nói trên.
Trong hoạt động ngân hàng, quản lý tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
được hiểu đơn giản là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách
quản lý hoạt động tín dụng đối với các DNNVV nhằm đạt được mục tiêu phát triển
tín dụng an toàn, có hiệu quả.
1.2.2. Nội dung quản lý hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ngân hàng là tổ chức hoạt động theo hệ thống, có hội sở và các chỉ nhánh do
đó, công việc quản lý sẽ được thực hiện thống nhất trong các cấp trên:
1.2.2.1. Nội dung quản lý tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của hội
sở
Công tác quản lý rủi ro tín dụng tại hội sở thực chất là việc xây dựng mô hình
quản lý tín dụng: Mô hình quản lý tín dụng phản ánh một cách hệ thống các vấn
đề về cơ chế, chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động
an toàn và các chốt kiểm soát hoạt động tín dụng trong một quy trình thực hiện
nghiệp vụ. Mô hình quản lý tín dụng chính là hệ thống các mô hình bao gồm mô
hình tổ chức quản lý tín dụng, mô hình vận hành tín dụng và mô hình kiểm soát tín
dụng được xây dựng và vận hành một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục trong hoạt
động quản lý tín dụng của Ngân hàng.
*Mô hình tổ chức quản lý tín dụng:
Mô hình mô chính là hệ thống các phòng ban chuyên trách đối với đối tượng
khách hàng nói chung và khách hàng là DNNVV nói riêng. Các ban này chịu trách
nhiệm soạn thảo văn bản, công văn hướng dẫn cho vay cụ thể tới từng đối tượng
khách hàng. Ngoài ra, các phòng ban này còn có nhiệm vụ kiểm soát chặt chẽ việc
cấp tín dụng đối với từng chi nhánh để giảm thiểu tối đa rủi ro tín dụng cho toàn hệ
thống. Mô hình tổ chức quản lý tín dụng có thể hiểu đơn giản thông qua sơ đồ
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ