MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo giữ vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và
phát triển của mỗi dân tộc, cũng như toàn thể nhân loại. Tiến trình phát triển
xã hội ngày càng khẳng định vai trò của giáo dục đào tạo đối với nền Kinh tế
- Xã hội, là động lực bậc nhất thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy sự phát triển Kinh
tế - Xã hội nhanh chóng, hiệu quả, bền vững. Trên thế giới, giáo dục và đào
tạo là ưu tiên hàng đầu của mỗi quốc gia vì trình độ và chất lượng giáo dục
quyết định trình độ phát triển của mỗi nước. Do vậy, đầu tư cho giáo dục là
đầu tư để tạo nguồn dự trữ chiến lược quan trọng nhất của mỗi quốc gia.
Từ ngày lập nước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến
phát triển giáo dục. Trong công cuộc đổi mới và để tiến hành đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta đã xác định: “Cùng với khoa học và công
nghệ, giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ XII đã xác định: “Giáo dục đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát
triển nguồn lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước,
xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam...Đầu tư cho giáo dục là đầu tư
cho sự phát triển. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo theo nhu cầu
phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại
hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa...phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc” [15, trang 151-152].
Trong chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020, ngành giáo dục đã đề
ra giải pháp đổi mới và phát triển giáo dục, trong đó “đổi mới PPDH và
QLGD” là giải pháp đột phá. Trong thông điệp gửi các nhà trường nhân ngày
khai giảng năm học 2013-2014, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã yêu cầu
ngành giáo dục phải quyết liệt hơn nữa trong “đổi mới chương trình nội dung,
PPDH, công tác quản lý giáo dục và kiểm tra đánh giá ở tất cả các cấp học”.
Trường Cao đẳng Kinh tế- Kỹ thuật Trung ương, có nhiệm vụ đào tạo
trong lĩnh vực Kinh tế- Kỹ thuật có trình độ cao đẳng, có kiến thức và kỹ
1
đến tiến trình phát triển của quốc gia. Do đó việc QLGD luôn được các nước,
2
dù lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, đã phát triển hay đang phát triển đều hết sức
quan tâm.
Đề cập đến công tác quản lý dạy học, hai nhà nghiên cứu QLGD
Xô Viết V.A Xukhomlinxki và Xvecxlerơ cho rằng: “kết quả toàn bộ
hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức
đúng đắn và hợp lý hoạt động dạy học”. Vì vậy, với nhà quản lý cần
phải: “thường xuyên tổ chức bồi dưỡng về chuyên môn và tạo điều kiện
cho giáo viên tự học, tự bồi dưỡng là cơ sở vững chắc để nâng cao chất
lượng dạy học”. Bên cạnh đó, “việc tổ chức trao đổi, phân tích nội dung
bài giảng trước và sau khi lên lớp là đòn bẩy để nâng cao tay nghề cho
giáo viên”; theo các tác giả đó sẽ là cơ sở quan trọng để nâng cao chất
lượng dạy học cho các đối tượng.
Gần đây, UNESCO đã có khuyến cáo đúng đắn khi coi giáo dục của thế
kỷ 21 là nền giáo dục của xã hội học tập và học suốt đời cho mọi người. Về
vấn đề này, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chủ trương xây
dựng "Nền giáo dục bình đẳng”, đó là bản chất của nền giáo dục mới.
Trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, vận dụng các tư tưởng giáo dục tiến bộ trên thế giới vào thực tiễn Việt
Nam, những thập kỷ gần đây nhiều nhà khoa học đã có các công trình nghiên
cứu về lý luận giáo dục và QLGD. Đó là các công trình, tác phẩm và các bài
viết của các tác giả: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Quang, Đặng
Quốc Bảo, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Quang Uẩn, Vũ Ngọc Hải, Bùi Minh Hiền,
Trần Kiểm, Bùi Văn Quân, Thái Duy Tuyên, Trần Khánh Đức… đã có những
nghiên cứu làm sáng tỏ quan niệm khác nhau về quản lý, QLGD, quản lý nhà
trường và quản lý các hoạt động có liên quan. Kết quả của các công trình
dạy và học là nhiệm vụ trung tâm của nhà trường”.
Trong những năm gần đây, nhất là sau khi mở chương trình đào tạo
Thạc sĩ QLGD ở các cơ sở đào tạo, đã có nhiều công trình nghiên cứu về
quản lý hoạt động dạy học ở nhà trường các cấp đào tạo nguồn nhân lực từ
trung cấp đến đại học; và ở các hướng khác nhau như:
Về “Quản lý hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng
viên Đại học Sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh”, của Nguyễn Thị
Bích Liên (năm 2007).
4
Về “Thực trạng và giải pháp quản lý giảng dạy ở các trường trung cấp
chuyên nghiệp tỉnh Khánh Hòa”, của Trần Thị Ánh Tuyết (năm 2011).
Về “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tại trường cao đẳng KT-KT
Lâm Đồng”Trần Văn Lợi (năm 2012).
Về “Quản lý hoạt động dạy học ở trường Trung cấp Công thương Hà
Nội” của tác giả Nguyễn Phong Tân năm 2014...
Theo chúng tôi, các công trình kể trên đã đề cập đến những vấn đề cơ
bản liên quan đến hoạt động dạy học và đưa ra những biện pháp nâng cao khả
năng quản lý hoạt động dạy học của nhà trường. Về cơ bản các công trình đó
đã tiến hành nghiên cứu thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động dạy học
của hiệu trưởng đối với giáo viên bằng những cách tiếp cận khác nhau và đã
đề xuất được một số biện pháp cần thiết, khả thi để nâng cao hiệu quả quản lý.
Các biện pháp đề xuất đều đã hướng vào việc đảm bảo cho hoạt động dạy học
có nề nếp và góp phần nâng cao chất lượng dạy học. Tuy nhiên, do những tiếp
cận khác nhau nên nội dung và cách thức thực hiện các biện pháp cũng có
những điểm riêng khác nhau. Các biện pháp của hiệu trưởng thường ở tầm vi
mô, cụ thể, tác động trực tiếp đến giáo viên và học sinh, sinh viên trong nhà
trường. Còn các biện pháp của cơ quan chức năng khái quát hơn, trên cơ sở
chuyên ngành ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Trung ương;
Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học các môn chuyên ngành ở
trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Trung ương và khảo sát tính cần thiết và
tính khả thi các biện pháp đó.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu:
Quản lý đào tạo ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Trung ương
*Đối tượng nghiên cứu:
Quản lý hoạt động dạy học các môn chuyên ngành ở trường Cao đẳng
Kinh tế - Kỹ thuật Trung ương.
*Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn trong nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy học
các môn chuyên ngành ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Trung ương và
6
cỏc c s liờn kt o to vi Trng; ng thi nghiờn cu cỏc bỏo cỏo tng
kt, cỏc sn phm dy hc ngh Trng t nm 2012 n nay.
5. Gi thuyt khoa hc
Dy hc l hot ng trung tõm ca nh trng, nú quyt nh
trc tip n cht lng o to v uy tớn ca nh trng. Do vy, nu
cỏc ch th trong qun lý hot ng dy hc cỏc mụn chuyờn ngnh
trng Cao ng Kinh t - K thut Trung ng nhn thc y v tm
quan trng ca cht lng dy hc; xõy dng, thc hin cú hiu qu k
hoch v mc tiờu, chng trỡnh ni dung dy hc; qun lý cht ch vic
son bi ging v chun b gi lờn lp; ch o v h tr i mi PPDH;
tớch cc bi dng chuyờn mụn, nghip v cho ging viờn; chun húa
cỏc iu kin m bo v tng cng kim tra, giỏm sỏt v i mi ỏnh
giỏ kt qu dy hc, thỡ s gúp phn nõng cao cht lng dy hc, o
trường cao đẳng kinh tế-kỹ thuật trung ương, tác giả tiến hành điều tra bằng
phiếu hỏi 32 CBQL (đại diện các cơ quan đào tạo, các trung tâm thực hành,
cán bộ Khoa, Bộ môn); và 38 GV của 6 khoa chuyên ngành.
-Tổng kết kinh nghiệm quản lý dạy học các môn chuyên ngành ở trường
Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Trung ương;
-Nghiên cứu sản phẩm dạy học và quản lý hoạt động này.
-Tổ chức tiến hành khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp đã đề xuất.
Các phương pháp hỗ trợ gồm: Phương pháp chuyên gia, phương pháp sử
dụng toán thống kê để xử lý các kết quả nghiên cứu để rút ra kết luận khoa học.
7. Giá trị và ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu luận văn sẽ góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về
quản lý hoạt động dạy học các môn chuyên ngành ở trường Cao đẳng; đồng
thời làm sáng tỏ thực trạng và đề xuất các biện pháp có tính khả thi nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học các môn chuyên ngành ở trường
Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Trung ương; và có thể áp dụng trong quản lý
hoạt động dạy học ở các trường Cao đẳng khác.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và
phụ lục; nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương 7 tiết.
8
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
DẠY HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
1.1. Hoạt động dạy học ở trường Cao đẳng
1.1.1. Khái niệm về hoạt động dạy học ở trường Cao đẳng
* Dạy học
Hoạt động dạy học được thể hiện qua hoạt động của hai chủ thể: giảng
viên với hoạt động dạy và người học với hoạt động học.
Trong nhà trường, dạy học là hoạt động trung tâm, là con đường cơ bản
nhất giúp người học lĩnh hội tri thức và hình thành kỹ năng, thái độ. Nó là quá
trình sư phạm tổng thể, là bộ phận quan trọng của hoạt động giáo dục trong
nhà trường nhằm đạt được mục đích giáo dục. Dạy học là hoạt động đặc trưng
quy định sự tồn tại của nhà trường. Suy cho cùng, các hoạt động khác trong
nhà trường đều nhằm mục đích hỗ trợ cho hoạt động dạy học và góp phần
nâng cao chất lượng dạy học. Hoạt động dạy và hoạt động học tồn tại song
song và cùng vận động trong một quá trình thống nhất. Hai hoạt động này bổ
sung cho nhau, quy định lẫn nhau và là đối tượng tác động chủ yếu của nhau
nhằm kích thích nội lực ở mỗi chủ thể để cùng phát triển.
Hoạt động dạy/giảng dạy
Hoạt động dạy (còn gọi là hoạt động giảng dạy) là hoạt động của
giáo viên nhằm tổ chức, điều khiển có hiệu quả quá trình học tập của người
học; làm cho học tập trở thành hoạt động có ý thức,tự giác, tích cực và độc
lập sáng tạo qua đó ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách người học một
cách khoa học.
Với phân tích trên đây, có thể nói nhân tố có vai trò quyết định đến chất
lượng dạy học là đội ngũ giảng viên với quá trình lao động sư phạm tích cực
bằng các phương pháp sư phạm đặc biệt. Mục đích của hoạt động dạy học là
làm cho toàn diện, phù hợp với xu thế của thời đại.
Hoạt động học
Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức khoa học
dưới sự điều khiển của người thầy [28]. Bản chất của hoạt động học là sự tiếp
10
thu, xử lý thông tin bằng các thao tác trí tuệ dựa vào vốn sinh học và vốn đạt
11
về chương trình, nội dung, đội ngũ giảng viên, CSVC, thiết bị phục vụ dạy
học...đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đẳng cho xã
hội. Số lượng các môn chuyên ngành được đào tạo của mỗi trường phụ thuộc
vào đội ngũ giảng viên chuyên ngành đó, điều kiện CSVC kỹ thuật để thực
hành, số lượng tuyển sinh...
Hoạt động dạy học các môn học ở trường Cao đẳng, kể cả các môn
chuyên ngành đều phải tuân thủ theo quy trình chặt chẽ và ở đó dưới sự chỉ
đạo, hướng dẫn, điều khiển của giảng viên, sinh viên lĩnh hội toàn bộ hệ
thống kiến thức, kỹ năng theo chương trình, nội dung dạy học nhằm đạt được
mục tiêu, yêu cầu đào tạo đã xác định.
Từ các quan niệm trên, có thể khái quát: Hoạt động dạy học các môn
chuyên ngành ở trường Cao đẳng, là hoạt động mà dưới sự tổ chức, điều
khiển của người dạy, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều
khiển hoạt động học tập của mình, nhằm chiếm lĩnh hệ thống kiến thức, kỹ
xảo, kỹ năng chuyên ngành và giá trị nghề nghiệp theo mục tiêu, yêu cầu đào
tạo đã xác định.
Như vậy, hoạt động dạy học nói chung, các môn chuyên ngành nói
riêng đều diễn ra sự phối hợp giữa hoạt động dạy của người dạy và hoạt động
học của sinh viên nhằm thực hiện mục đích dạy học đã xác định. Từ quan
niệm về hoạt động dạy học ở trường Cao đẳng như trên có thể thấy:
Mục tiêu dạy học các môn chuyên ngành: Là thông qua hoạt động dạy
học, người dạy giúp người học chiếm lĩnh hệ thống kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng
chuyên ngành và giá trị nghề nghiệp theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo đã xác
định. Phát huy tối đa tiềm năng, trí tuệ, sự năng động, sáng tạo, tính “tích cực
hoá” của người học, nhằm nâng cao chất lượng dạy học các môn chuyên ngành
đạt tới mục tiêu mong muốn; điều này đòi hỏi người dạy phải có nghệ thuật,
vận dụng linh hoạt các PPDH mới đạt được mục tiêu đề ra.
người dạy và tự kiểm tra;
Phân tích kết quả hoạt động học tập dưới sự lãnh đạo của người dạy.
Còn trong quá trình hoạt động độc lập, học tập thiếu sự lãnh đạo trực tiếp
của người dạy thì hoạt động của người học thể hiện như sau:
Lập kế hoạch hoặc cụ thể hóa nhiệm vụ hoạt động học tập;
13
Tự tổ chức hoạt động bao gồm việc lựa chọn phương pháp, phương tiện
và những hình thức hoạt động học tập;
Tự kiểm tra, tự điều chỉnh và tự phân tích kết quả hoạt động học tập.
-Hai là, hoạt động dạy học các môn chuyên ngành ở trường Cao đẳng,
nhằm đào tạo sinh viên trở thành những công dân có kiến thức, có tay
nghề, giúp họ khi ra trường sẽ đem kiến thức và tay nghề tham gia lao động
nuôi sống bản thân, góp phần phát triển xã hội. Ví dụ ở trường Cao đẳng
Kinh tế- Kỹ thuật Trung ương: sinh viên chuyên ngành công nghệ may và
thiết kế thời trang khi ra trường các em là những nhà thiết kế thời trang, Kỹ
thuật chuyền sản xuất, biết tổ chức sản xuất may công nghiệp… sinh viên
chuyên ngành điện thì ra trường các em sẽ là những thợ điện hoặc công
nhân kỹ thuật điện…sinh viên chuyên ngành CNTT khi ra trường các em là
những lập trình viên, sinh viên chuyên ngành kế toán khi ra trường các em
là kế toán viên…
-Ba là, với các chuyên ngành khác nhau, yêu cầu giảng viên (kể cả giảng
viên thỉnh giảng) đều phải được đào tạo cơ bản, chuyên sâu về chuyên ngành
đó, để có đủ trình độ kiến thức, tay nghề để đào tạo sinh viên trở thành người
lao động theo mục tiêu đào tạo. Mục tiêu đào tạo từng chuyên ngành khác
nhau, sẽ có kế hoạch,chương trình nội dung, tổ chức đào tạo, nguyên vật liệu
phục vụ đào tạo, bảo hộ lao động, các phần mềm và yêu cầu về phẩm chất
người dạy, người học khác nhau...
đẳng Kinh tế- Kỹ thuật Trung ương, nhằm đào tạo nguồn nhân lực có trình độ
chuyên ngành theo sự lựa chọn của người học ở bậc Cao đẳng, đáp ứng yêu
cầu xã hội; và là cơ sở để tiến hành quản lý hoạt động dạy học các môn
chuyên ngành đó ở nhà trường hiện nay.
Tóm lại, từ các vấn đề trình bày trên về hoạt động dạy học, mối
quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học, khái niệm hoạt động dạy học
các môn chuyên ngành, đặc điểm, nội dung dạy học các môn chuyên
ngành...là cơ sở cho việc tiếp cận, nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về
quản lý hoạt động dạy học các môn chuyên ngành ở trường Cao đẳng.
15
1.2. Quản lý hoạt động dạy học ở trường Cao đẳng
1.2.1. Khái niệm quản lý hoạt động dạy học ở trường Cao đẳng
Chung quanh khái niệm “Quản lý”, các tác giả tiếp cận từ những góc
độ khác nhau, đã đưa ra nhiều ý kiến đa dạng khác nhau. Tuy vậy, những khái
niệm đa dạng đó đều có một nét chung là tất cả đều mô tả, giải thích về bản
chất, về lý luận và các kỹ thuật làm cơ sở cho hoạt động quản lý.
- W.Tayor cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn
người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một
cách tốt nhất và rẻ nhất”.
- Mary Parker Follett khẳng định rằng, quản lý là một quá trình hoạt
động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại.
- Theo tác giả người Đức Baranger cho rằng, quản lý là cai trị một tổ
chức bằng cách đặt ra các mục tiêu hoàn chỉnh các mục tiêu cần phải đặt, là
lựa chọn, sử dụng các phương tiện nhằm đạt được các mục tiêu đã định.
- Theo Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt: Quản lý là một quá trình định
hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những
mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ
động dạy học các môn chuyên ngành và các điều kiện đảm bảo, nhằm làm
cho hoạt động này đạt kết quả, thực hiện có hiệu quả mục tiêu dạy học, đào
tạo đã xác định.
Từ quan niệm đó, quản lý hoạt động dạy học các môn chuyên ngành ở
trường Cao đẳng có các đặc điểm chính sau:
Mục tiêu quản lý: Là những kết quả dự kiến sẽ đạt được do quá trình vận
động của đối tượng quản lý dưới sự tác động của chủ thể quản lý; sự thống
nhất trong nhận thức tư tưởng và hành động của chủ thể và đối tượng quản lý.
Mục tiêu quản lý hoạt động dạy học các môn chuyên ngành ở trường Cao
đẳng là phát huy tối đa tiềm năng, trí tuệ, sự năng động, sáng tạo, tính “tích cực
hoá” của chủ thể quản lý, nhằm nâng cao chất lượng dạy học các môn chuyên
ngành; làm cho hoạt động dạy của giảng viên và hoạt động học của sinh viên
đạt tới kết quả mong muốn.
Hoạt động dạy học vận động và phát triển là do các nhân tố cấu thành
tương tác với nhau nhằm thực hiện mục tiêu của quá trình, góp phần thực hiện
17
mục đích giáo dục nói chung. Vì vậy quản lý hoạt động dạy học vừa phải làm
sao cho mỗi nhân tố có được lực tác động đủ mạnh, lại vừa đảm bảo sự vận
động nhịp nhàng, hài hoà và thống nhất của toàn bộ quá trình. Điều này đòi
hỏi người quản lý phải có nghệ thuật, vận dụng linh hoạt các biện pháp quản
lý mới đạt được mục tiêu đề ra.
Chủ thể quản lý: Chủ thể quản lý hoạt động dạy học ở trường Cao đẳng
là: Ban Giám hiệu, lãnh đạo Khoa, Phòng , Ban chức năng, các Trưởng Bộ môn ,
các GV trực tiếp giảng dạy các môn học; các tập thể và cá nhân SV...
Khách thể quản lý: Là toàn bộ các hoạt động dạy học và các nguồn lực
trong nhà trường. Các tập thể sư phạm và SV vừa là khách thể bị quản lý vừa
là chủ thể trong quá trình tổ chức tự quản lý hoạt động dạy và học của mình.
với nhân cách đã được thay đổi, cải biến thông qua quá trình đào tạo. Mục
tiêu đào tạo ở các trường Cao đẳng bao gồm các mục tiêu về kiến thức, kỹ
năng và thái độ.
- Nội dung đào tạo: Để thực hiện được mục tiêu đào tạo người học cần
phải lĩnh hội một hệ thống các nội dung về Chính trị - Xã hội; Khoa học - Kỹ
thuật – Công nghệ; Giáo dục thể chất và Quốc phòng. Nội dung chương trình
đào tạo ở trường Cao đẳng ứng với mỗi ngành đào tạo sẽ quy định mục tiêu
đào tạo bao gồm chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ, quy định cơ cấu nội
dung, thời gian khóa học, danh mục và thời lượng các học phần, tỷ lệ thời
gian giữa lý thuyết với thực hành và thực tập, phương pháp đánh giá kết quả
học tập nhằm đáp ứng yêu cầu mục tiêu đào tạo.
- Quản lý thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình
Quản lý việc thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình được tiến hành
trong suốt quá trình đào tạo thực tế của nhà trường, thông qua việc quản lý
hoạt động dạy và hoạt động học sao cho kế hoạch đào tạo, nội dung chương
trình đào tạo được thực hiện một cách đầy đủ, đúng về nội dung và tiến độ
thời gian nhằm đạt được các yêu cầu của mục tiêu đào tạo.
Công cụ chủ yếu của công tác quản lý việc thực hiện mục tiêu,
nội dung chương trình đào tạo là các đề cương chi tiết môn học, giáo
trình, sách giáo khoa, kế hoạch giảng dạy…và hệ thống văn bản pháp
quy hiện hành.
19
Quản lý việc lập kế hoạch và thực hiện chương trình dạy học các môn
chuyên ngành của giảng viên
Quản lý việc phân công giảng dạy:
gười quản lý Khoa và Bộ môn cần nắm vững năng lực, nguyện vọng,
điều kiện của bản thân từng giảng viên thì mới có thể sử dụng đúng người,
đã đề ra.
Việc lập kế hoạch dạy học trong một trường Cao đẳng được tiến hành ở
nhiều cấp. CBQL cần tổ chức cho giảng viên tham gia xây dựng 2 kế hoạch:
Kế hoạch đào tạo đối với mỗi ngành đào tạo nhằm thực hiện mục tiêu chung
của nhà trường và kế hoạch giảng dạy của giảng viên. Giảng viên tham gia
đóng góp ý kiến cho kế hoạch đào tào chung của nhà trường, của khoa, tổ bộ
môn; sau đó trực tiếp xây dựng một kế hoạch giảng dạy của mình, trên cơ sở
chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định và chương trình đào
tạo của Nhà trường. Tuy nhiên, việc lập kế hoạch không phải cứng nhắc mà
còn phải xây dựng cho phù hợp với mỗi loại hình, phải xây dựng phát triển
nội dung môn học theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, gắn liền với thực tiễn.
Yêu cầu về nội dung của kế hoạch giảng dạy đối với cá nhân:
Xác định rõ mục tiêu về các mặt hoạt động: giảng dạy lý thuyết, tổ
chức thực hành thí nghiệm, tổ chức tham quan thực tế, thực tập. Các biện
pháp đảm bảo việc tự học, tự nâng cao trình độ tay nghề, nâng cao chất
lượng giảng dạy, giáo dục đạo đức, liên hệ thực tế cuộc sống, kiểm tra
đánh giá kết quả học tập của sinh viên, phối hợp các lực lượng giáo dục
trong và ngoài Khoa.
Điều kiện đảm bảo thực hiện kế hoạch giảng dạy: giáo trình, tài liệu trang
thiết bị, kinh phí phục vụ cho các hoạt động dạy học.
-Quản lý việc thực hiện chương trình, nội dung các môn học
Chương trình, nội dung dạy học quy định nội dung, phương pháp, hình
thức dạy học các môn, thời gian dạy học từng môn, nhằm thực hiện những
yêu cầu, mục tiêu trình độ đào tạo. Thực hiện chương trình dạy học là thực
hiện kế hoạch đào tạo theo mục tiêu của chương trình đào tạo. Về nguyên tắc,
chương trình dạy học phải được htực hiện nghiêm túc, không được tự ý thay
đổi, thêm bớt, làm sai lệch chương trình dạy học. Vì vậy, chủ nhiệm Khoa, Tổ
21
22
dụng tiêu chuẩn đánh giá giờ lên lớp và kết quả học tập của sinh viên làm cơ
sở kiểm tra, đánh giá và từng bước nâng cao chất lượng giờ lên lớp.
Quản lý thực hiện chương trình trên cơ sở kế hoạch đã được giảng viên,
Bộ môn, Khoa xác lập. Nhà quản lý phải nắm vững quy định nội dung, số tiết,
tiến độ, thời gian cho từng môn học để điều khiển hoạt động dạy và học đúng
nội dung, tiến độ dạy học. Để quản lý tốt, CBQL phải sử dụng các phương tiện
quản lý; kế hoạch, thời khóa biểu, phiếu báo giảng, sổ ghi bài, sổ dự giờ, bìa
học của sinh viên để kiểm tra theo dõi việc thực hiện chương trình. Việc kiểm
tra phải làm thường xuyên, và sau khi kiểm tra phải điều chỉnh xử lý kịp thời.
* Chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên
Tổ chức đổi mới phương pháp giảng dạy là:
- Xác định nhận thức về vị trí của hai tác nhân trong sơ đồ giảng dạy là
người dạy - người học, lấy người học làm trung tâm, người dạy chuyển dần từ
vai trò truyền thụ kiến thức sang vai trò hướng dẫn, điều khiển quá trình học.
- Xây dựng tài liệu bài giảng theo quan điểm mới, dẫn dắt người học
tiếp cận khoa học, chỉ ra các tài liệu bắt buộc tham khảo để người học tự tìm
kiếm, nghiên cứu trên cơ sở “đề cương mở” và từ đề cương này dưới sự chỉ
dẫn của người dạy, người học dễ dàng xây dựng được mục đích cần đạt tới
của mình và tự tìm kiếm phương pháp để đạt được mục đích đó.
- Xây dựng và sử dụng phương pháp giảng dạy hiệu quả: tổ chức giảng
dạy theo phương pháp nêu vấn đề, thảo luận nhóm,…
- Tăng cường hệ thống tư liệu và sử dụng trang thiết bị giảng dạy:
phương pháp dạy và học mới đòi hỏi một số điều kiện tiên quyết cho phép
người học “phát huy nội lực”, và người dạy “dạy cách phát huy nội lực”,
trong đó nguồn tư liệu, giáo trình, tài liệu tham khảo, cơ sở vật chất, trang
thiết bị là điều kiện không thể thiếu.
tập, xã hội làm cho sự cải biến nhân cách của họ trở nên đa dạng, phức tạp.
Do đó, quản lý hoạt động học tập các môn chuyên ngành của sinh viên là:
Quản lý nề nếp thái độ học tập của sinh viên: nề nếp học tập, kỷ luật
học tập của sinh viên là những điều quy định cụ thể về tinh thần, thái độ, hành
vi ứng xử nhằm làm cho hoạt động học tập được hoạt động nhịp nhàng và có
hiệu quả; nó quyết định nhiều đến kết quả học tập; vì vậy cần phải xây
dựng và hình thành được những nề nếp học tập cho sinh viên.
24
Quản lý phương pháp học tập của sinh viên:Hoạt động học tập của sinh
viên bao giờ cũng ăn nhịp với hoạt động giảng dạy của giảng viên, do giảng
viên điều khiển nhưng sinh viên là chủ thể nhận thức cũng tự điều khiển hoạt
động nhận thức của mình. Quá trình điều khiển của giảng viên có đem lại hiệu
quả hay không lại phụ thuộc vào sự tiếp nhận của sinh viên, quá trình điều
khiển này phải hướng đến tự phủ định mình nghĩa là dạy học phải làm sao
cho sinh viên dần dần tự học tập nghiên cứu mà không cần giảng viên hướng
dẫn.
* Quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên
Kiểm tra đánh giá là công cụ hay phương tiện đo lường đánh giá trình
độ kiến thức của sinh viên. Việc kiểm tra đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
của sinh viên là một phần tất yếu trong quá trình dạy học. Việc kiểm tra
không chỉ dừng lại ở điểm số và xếp loại, mà mục đích cuối cùng là thông qua
kiểm tra đánh giá thúc đẩy được việc học của sinh viên, việc giảng dạy của
giảng viên và nắm vững được chất lượng đào tạo của Nhà trường.
Nhờ đánh giá, giảng viên biết được trình độ của sinh viên, phân loại giúp đỡ
họ, qua đó rút kinh nghiệm bài giảng của mình, điều chỉnh quá trình dạy học.
Để làm tốt việc này CBQL cần thực hiện các công tác sau:
Quản lý kế hoạch kiểm tra của các bộ môn và khoa;