BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----- o0o -----
GIÁP THỊ VÂN HUỆ
ĐỀ TÀI: QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG MUA SẮM TÀI SẢN THIẾT
BỊ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI TỔNG CỤC THUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----- o0o -----
GIÁP THỊ VÂN HUỆ
ĐỀ TÀI: QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG MUA SẮM TÀI SẢN THIẾT
BỊ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI TỔNG CỤC THUẾ
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số
: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
đơn vị.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2016
Tác giả
Giáp Thị Vân Huệ
5
MỤC LỤC
6
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
7
STT
TỪ VIẾT TẮT
VIẾT ĐẦY ĐỦ
1
2
BTC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hàng năm, ngân sách nhà nước (NSNN)dành cho việc mua sắm tài sản công
phục vụ bộ máy quản lý tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp là rất lớn.
Theo số liệu thống kê của Bộ Tài chính trong những năm gần đây, mỗi năm Việt
Nam chi khoảng 200.000 tỷ đồng cho hoạt động mua sắm tập trung tài sản công, đó
là chưa kể các khoản chi cho hoạt động mua sắm phân tán, nhỏ lẻ. Việc mua sắm tài
sản là nhu cầu hết sức thiết thực đối với các cơ quan quản lý nói chung cũng như
Tổng cục Thuế nói riêng nhằm duy trì hoạt động, thực hiện nhiệm vụ được Đảng và
nhà nước giao phó nhưng mua sắm sao cho tiết kiệm, hiệu quả, công khai, minh
bạch là vấn đề hết sức quan trọng nhất là trong điều kiện nền kinh tế đất nước đang
gặp nhiều khó khăn thách thức, tình trạng thâm hụt ngân sách và nợ công gia tăng
như hiện nay.
Có thể hiểu, tài sản công là những tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước, nói rộng
ra chúng thuộc sở hữu của toàn dân. Do vậy, quản lý và sử dụng tài sản công được
coi là nghĩa vụ và trách nhiệm không chỉ đối với Chính phủ mà đối với tất cả các
Bộ, ngành, địa phương cũng như các tổ chức, đơn vị và nhân dân. Mua sắm công là
khâu đầu tiên của quá trình quản lý và sử dụng tài sản công, do đó, quản lý tốt hoạt
động mua sắm có thể coi là tiền đề phát huy hiệu quả sử dụng của tài sản công trong
hoạt động quản lý nhà nước.Thực tế những năm qua cho thấy, việc mua sắm tài sản
công tại các cơ quan HCNN còn nhiều bất cập, vẫn tồn tạinhững tiêu cực, lợi dụng
kẽ hở của pháp luật để tham ô, tham nhũng biến của công thành của riêng gây thất
thoát, lãng phí cho NSNN. Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với Nhà nước là cần xây dựng
hành lang pháp lý thống nhất và đồng bộ để công tác quản lýhoạt động mua
sắmđược hiệu quả, giảm thiểu những tiêu cực. Việc nghiên cứu quản lý hoạt động
mua sắm tài sản nhà nước nhằm tìm hiểu về thực trạng công tác quản lý trong lĩnh
cao nhất là yêu cầu cấp thiết đối với ngành Thuế trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ thực tế nêu trên, nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý
hoạt động mua sắm tài sản nói chung và tài sản thiết bị công nghệ thông tin của
ngành Thuế nói riêng, tôi đã chọn đề tài “Quản lý hoạt động mua sắm tài sản thiết
bị công nghệ thông tin tại Tổng cục Thuế” cho luận văn thạc sỹ của mình với
mong muốn góp phần hoàn thiệnhơn hoạt động quản lý mua sắm tài sản thiết bị
công nghệ thông tin nói riêng và tài sản khác nói chung tại đơn vị nơi tôi đang công
tác.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Trong những năm qua, nghiên cứu về quản lý hoạt động mua sắm tài sản tại
các cơ quan hành chính nhà nước (HCNN) ở Trung ương cũng như địa phương đã
có một số công trình nghiên cứu của các tác giả đề cập. Các công trình nhiên cứu
chủ yếu đi sâu phân tích pháp luật mua sắm công và quản lý hoạt động đấu thầu
mua sắm tài sản, hàng hóa, nhấn mạnh tầm quan trọng của mua sắm công và đề
xuất kiến nghị, giải pháp đối với vấn đề này, có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu
biểu gồm:
- Trần Thị Đông Anh: “Pháp luật về đấu thầu điện tử của một số nước,kinh
nghiệm và khả năng áp dụng vào Việt Nam”, luận văn thạc sỹ, 2009, Đại học Luật
TP Hồ Chí Minh. Tác giả tập trung nghiên cứu các quy định về đấu thầu điện tử
trong các văn bản pháp luật của một số nước như Hàn Quốc, Anh, Philippin, các
quy định của liên hợp quốc có liên quan đến đấu thầu điện tử, trên cơ sở đó có so
sánh khung p háp lý liên quan đến đấu thầu điện tử của Việt Nam để từ đó rút ra bài
học kinh nghiệm và đề ra giải pháp hoàn thiện.
- TS Nguyễn Thị Thủy Chung: “Mua sắm công ở Việt Nam, thực trạng và giải
pháp”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, 2016, Viện chiến lược và chính sách tài
chính. Tác giả tập đã khái quát diễn biến tình hình mua sắm công ở Việt Nam trong
những năm gần đây, những kết quà đạt được và những tồn tại hạn chế. Từ đó đưa ra
một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động mua sắm công.
Nhìn chung, đã có rất nhiều nghiên cứu trước đây liên quan đến nội dung
quản lý hoạt động mua sắm tại cơ quan hành chính nhà nước. Tuy nhiên, các nghiên
cứu trên chỉ tập trung nghiên cứu ở tầm vĩ mô; nghiên cứu tập trung về hoạt động
đấu thầu, pháp luật đấu thầu mua sắm và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật
về đấu thầu. Trong luận văn này, học viên có sự kế thừa cơ sở lý luận về quản lý
hoạt động mua sắm tài sản nhà nước của các công trình nghiên cứu trên và tập trung
đi sâu nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý hoạt động mua sắm tài sản là thiết
bị công nghệ thông tin tạiTổng cục Thuế.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt
động mua sắm tài sản công, luận văn đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác
quản lý hoạt động mua sắm tài sản thiết bị công nghệ thông tin tại Tổng cục Thuế.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động mua sắm tài sản
trong cơ quan hành chính nhà nước.
- Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động mua sắm tài sản thiết bị
công nghệ thông tin tại cơ quan Tổng cục Thuế qua đó chỉ ra những ưu điểm, hạn
chế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó làm có sở cho đề xuất các giải
pháp, kiến nghị.
- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động mua
sắm tài sản thiết bị công nghệ thông tin tại cơ quan Tổng cục Thuế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản
lý hoạt động mua sắm tài sản trong cơ quan hành chính nhà nước.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Tại cơ quan Tổng cục Thuế.
bảng tổng hợp kết quả khảo sát.
+ Phương pháp phỏng vấn:
Chuẩn bị câu hỏi phỏng vấn: Các câu hỏi xoay quanh chủ đề về đặc điểm, vai
trò của hoạt động quản lý việc mua sắm tập trung thiết bị công nghệ thông tin tại
Tổng cục Thuế và những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động mua
sắm tài sản thiết bị công nghệ thông tin tại Tổng cục Thuế.
Tiến hành phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn chuyên sâu đối với các lãnh đạo
Vụ Tài vụ Quản trị và Cục Ứng dụng Công nghệ Thông tin thuộc Cơ quan Tổng cục
Thuế (05 người).
Thời gian phỏng vấn: Tháng 9/2016.
5.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
- Đối với dữ liệu thứ cấp: đề tài sử dụng các phương pháp gồm thống kê, phân
tích, tổng hợpdữ liệu.
+ Phương pháp thống kê: Nguồn dữ liệu sau khi thu thập được từ nguồn bên
trong, bên ngoài, tác giả tiến hành phân loại, thống kê theo các tiêu chí đánh giá
nhằm phục vụ quá trình viết luận văn.
+ Phương pháp phân tích: Từ dữ liệu thu thập được, tác giá tiến hành phân tích
dữ liệu từ đó phát hiện ra những vấn đề trong quản lý hoạt động mua sắm tài sản
thiết bị công nghệ thông tin tại Tổng cục Thuế.
+ Phương pháp tổng hợp: Sau khi thống kê, phân tích dữ liệu, tác giả thực hiện
tổng hợp để có cái nhìn tổng thể của vấn đề quản lý hoạt động mua sắn tài sản thiết
bị công nghệ thông tin tại Tổng cục Thuế.
- Đối với dữ liệu sơ cấp:
+ Phân tích kết quả khảo sát: Trên cơ sở các thông tin thu được từ phiếu khảo
sát, tác giả tiến hành tổng hợp, phân tích, đánh giá các thông và tổng hợp thành
bảng kết quả khảo sát.
+ Phân tích kết quả phỏng vấn: Kết quả phỏng vấn sẽ được bổ sung cho những
nội dung mà phiếu khảo sát chưa làm rõ, từ đó đánh giá một cách chính xác, khách
Mua sắm là các hoạt động mua hàng hóa, có thể dưới các hình thức mua sắm
trực tiếp, hay mua sắm trực tuyến gián tiếp qua Internet. Các chứng chỉ xác nhận
các hoạt động mua sắm có thể là hóa đơn, hợp đồng mua sắm. Có các dạng hoạt
động mua sắm chính sau:
Mua sắm cá nhân: Cá nhân thực hiện hoạt động mua sắm nhằm mục đích tiêu
dùng cho cá nhân.
Mua sắm (dự án), mà chủ thể của hoạt động là một tổ chức trong một dự án:
như chính phủ của một quốc gia trong mua sắm chính phủ, chủ đầu tư trong dự án
đầu tư, nhà thầu (tổng thầu) trong các loại dự án tổng thầu xây dựng như: dự án chìa
khóa trao tay (turn key),...
Tài sản nhà nước
Bất cứ một cơ quan tổ chức nào muốn tồn tại và phát triển đều phải có tài sản.
Tài sản có ý nghĩa rất quan trọng, là điều kiện cơ sở vật chất cần thiết để duy trì
hoạt động của các cơ quan, tổ chức nói chung cũng như bộ máy quản lý tại các cơ
quan hành chính nhà nước nói riêng. Tài sản nhà nước tại cơ quan hành chính nhà
nước là những tài sản Nhà nước giao cho các cơ quan đó quản lý, sử dụng. Theo
Nghị định số 14/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 06 tháng 3 năm 1998 về Quản
lý, sử dụng tài sản nhà nước: “Tài sản nhà nước là những tài sản được hình thành
từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, tài sản
được sác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật, đất đai,
rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất ở vùng biển, thềm lục địa
và vùng trời.[4]
Ở Việt Nam, tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật bao gồm: tài sản
khu vực hành chính sự nghiệp; tài sản thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công
cộng, lợi ích quốc gia như hệ thống các công trình thủy lợi, hệ thống các công trình
giao thông vận tải, các công trình văn hóa…; tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp;
tài sản được xác lập sở hữu của nhà nước theo quy định của pháp luật; tài sản dự trữ
nhà nước. Tài sản nhà nước khu vực hành chính sự nghiệp là những tài sản nhà
thông số kỹ thuật để đưa vào hồ sơ khi tổ chức đấu thầu mua sắm rất khó đồng thời
để kiểm tra đánh giá chất lượng công tác mua sắm cũng đòi hỏi trình độ cao về
chuyên môn. Do đó, quản lý hoạt động mua sắm tài sản thiết bị CNTT thường đòi
hỏi nhiều thời gian cũng như con người. Đối với cán bộ làm công tác quản lý hoạt
động mua sắm tài sản thiết bị CNTT cũng cần phải có trình độ hiểu biết nhất định
về tin học.
Cơ quan hành chính nhà nước
Theo giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội:
Cơ quan hành chính nhà nước là một tổ chức được thành lập và hoạt động theo
những nguyên tắc và trình tự nhất định, có cơ cấu tổ chức nhất định và được giao
những quyền lực nhà nước nhất định, được quy định trong các văn bản pháp luật để
thực hiện một phần những nhiệm vụ, quyền hạn của nhà nước [9, tr.8].
Các Cơ quan nhà nước có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành một thể
thống nhất đó chính là bộ máy nhà nước.
Theo giáo trình Luật Hành chính trường Đại học Luật Hà Nội: Cơ quan hành
chính nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực thuộc trực tiếp
hoặc gián tiếp Cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, có phương diện hoạt động
chủ yếu là hoạt động chấp hành – điều hành, có cơ cấu tổ chức và phạm vi thẩm
quyền do pháp luật quy định [8, tr12].
Cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước.Mỗi
cơ quan hành chính nhà nước có chức năng, nhiệm vụ khác nhau theo quy định của
pháp luật hiện hành.Các cơ quan hành chính nhà nước có quan hệ mật thiết với
nhau tạo thành một thể thống nhất, bao gồm: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp,
cơ quan toà án và cơ quan kiểm sát được thành lập để thực hiện chức năng quản lý
hành chính nhà nước.
Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan chấp hành, điều hành của cơ quan
- Các loại tài sản này có số lượng nhiều, giá trị lớn, phân bổ rộng khắp trong
phạm vi cả nước. Mỗi loại tài sản có công dụng và được sử dụng với mục đích khác
nhau.
- Tài sản trong cơ quan hành chính nhà nước còn mang tính đặc thù theo
ngành, lĩnh vực mà đơn vị đó hoạt động.
1.1.2.2. Vai trò
- Tài sản có vai trò rất quan trọng, là nền tảng cơ sở vật chất cơ bản và cần
thiết để điều duy trì hoạt động cũng như sự phát triển của mỗi cơ quan, tổ chức.
Dựa trên nền tảng cơ sở vật chất này, các cơ quan, tổ chức triển khai các hoạt động
của mình để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được xã hội phân công. Mọi hoạt động
của các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương đều gắn liền
với việc sử dụng tài sản. Tài sản là công cụ trực tiếp giúp cho hoạt động của bộ máy
nhà nước được duy trì một cách liên tục và thông suốt. Nó cũng là cơ sở vật chất để
đem tri thức đến với con người, đưa khoa học kỹ thuật, công nghệ vào công cuộc
phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
- Tài sản trong cơ quan hành chính nhà nước là nơi hiện diện của bộ máy nhà
nước, nơi diễn ra các giao dịch giữa bộ máy quản lý nhà nước với nhân dân và cũng
là nơi mà ở đó quyền lực nhà nước được thực thi. Bên cạnh đó, tài sản trong cơ
quan hành chính nhà nước còn là phương tiện để truyền tải thông tin, là công cụ để
nhà nước kiểm tra, kiểm soát những diễn biến của nền kinh tế xã hội theo mục tiêu
đã định trước.
Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, việc trang bị tài sản
cho bộ máy cơ quan hành chính nhà nước không chỉ đơn giản với mục đích duy trì
hoạt động mà còn nhằm mục tiêu cải cách, hiện đại hóa nền hành chính. Việc trang
bị tài sản sao cho đồng bộ, hiện đại cũng góp phần nâng cao năng lực, hiệu lực và
hiệu quả hoạt động, thực hiện tốt vai trò quản lý của bộ máy nhà nước, tăng cường
giao lưu, hợp tác kinh tế quốc tế.
1.1.2.3. Phân loại