LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý HOẠT ĐỘNG đào tạo cử NHÂN điều DƯỠNG, hệ vừa học vừa làm ở TRƯỜNG đại học y hà nội - Pdf 42

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1. LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO CỬ
NHÂN ĐIỀU DƯỠNG HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC Ở CÁC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.2. Nội dung quản lý hoạt động đào tạo cử nhân điều dưỡng hệ
vừa làm vừa học
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý đào tạo cử nhân điều dưỡng
hệ vừa làm vừa học ở Trường Đại học Y Hà Nội
Chương 2. THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO
CỬ NHÂN ĐIỀU DƯỠNG HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC Ở
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
2.1. Khái quát về Trường Đại học Y Hà Nội
2.2. Thực trạng hoạt động đào tạo cử nhân điều dưỡng hệ vừa làm
vừa học ở Trường Đại học Y Hà Nội
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo cử nhân điều dưỡng hệ
vừa làm vừa học ở Trường đại học Y Hà Nội
Chương 3. YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
ĐÀO TẠO CỬ NHÂN ĐIỀU DƯỠNG HỆ VỪA LÀM
VỪA HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
3.1. Yêu cầu quản lý hoạt động đào tạo cử nhân điều dưỡng hệ vừa
làm vừa học ở Trường Đại học Y Hà Nội hiện nay
3.2. Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo cử nhân điều dưỡng hệ
vừa làm vừa học ở Trường Đại học Y Hà Nội hiện nay
3.3. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
quản lý hoạt động đào tạo cử nhân điều dưỡng hệ vừa làm vừa
học ở Trường Đại học Y Hà Nội
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Đảng, toàn dân, trong đó lực lượng nhà giáo và cán bộ QLGD là lực lượng
nòng cốt, có vai trò quan trọng nhằm biến mục tiêu giáo dục thành hiện
thực và có vai trò quyết định chất lượng, hiệu quả giáo dục.
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII cũng đã xác định: “Thực hiện đồng bộ
các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân
lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Đổi mới căn bản
và toàn diện giáo dục, đào tạo theo hướng mở, hội nhập… Phát triển giáo dục
đại học theo hướng hình thành cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu,
cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng và cơ sở giáo dục đại học định
hướng thực hành” [21, tr.295-296].
Trong quá trình đào tạo đòi hỏi phải tổ chức đa dạng các hình thức tổ
chức đào tạo thích ứng với thị trường lao động và đối tượng người học đòi hỏi,
trong đó có hình thức đào tạo VLVH cho đối tượng đang làm việc có nhu cầu
học nâng cao trình độ. Đây là hình thức đào tạo linh hoạt, mềm dẻo phù hợp với
một bộ phận người học có nhu cầu học. Đối với một nhà trường thì quản lý đào
tạo là một nhiệm vụ, nội dung của QLGD nhà trường, trong đó có đào tạo hệ
VLVH là một bộ phận của quá trình đào tạo của nhà trường.
Trường Đại học Y Hà Nội là trường đại học công lập, là cơ sở giáo dục
đại học có lịch sử 114 năm và là trường trọng điểm quốc gia, có chức năng
đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao có trình độ từ đại học đến sau đại học.
Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất đạo đức
đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ và trình độ phát triển của các
lĩnh vực trong ngành y tế là chức năng, nhiệm vụ trọng tâm của Nhà trường.
3


Trong những năm vừa qua, quản lý hoạt động đào tạo CNĐD hệ VLVH
của Trường Đại học Y Hà Nội có những tiến bộ đáng kể, CLĐT đại học
chuyển biến theo chiều hướng tích cực, đã có nhiều cố gắng trong đổi mới
quản lý và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong đào tạo, đóng góp

Với những lý do trên, để thực hiện thành công nhiệm vụ GD&ĐT của
Nhà trường, với hy vọng góp phần vào việc nâng cao chất lượng hoạt động
đào tạo đại học của Trường Đại học Y Hà Nội, tác giả chọn đề tài: “Quản lý
hoạt động đào tạo cử nhân điều dưỡng hệ vừa làm vừa học ở Trường Đại
học Y Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ QLGD.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam, nhất là kể từ năm 1990, công tác đào tạo ở nước ta đặc
biệt được quan tâm. Vì vậy cho đến nay đã có khá nhiều công trình đề cập
đến đào tạo, quản lý hoạt động đào tạo, nhưng phần lớn các nhà QLGD,
các chuyên gia giáo dục, các luận văn thạc sỹ QLGD tập trung nhiều vào
các chiến lược quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng, đại học. Trong đề tài
này, chúng tôi xin nêu một số công trình nghiên cứu cũng như một số bài
viết liên quan đến hoạt động đào tạo nói chung và hoạt động đào tạo đại
học nói riêng.
Tác giả Trần Chí Đáo (2009) với bài viết “Các hướng đổi mới quản lý
đại học Việt Nam trước bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay” [22] đã đề cập
đến một vài dự báo về thế kỷ 21. Những thay đổi lớn về hình thái kinh tế và
sự phát triển kinh tế thế giới trước sự thay đổi lớn về khoa học công nghệ đòi
hỏi phải thay đổi công tác QLGD. Các hướng đổi mới cơ bản đó là sự vận
dụng đường lối lãnh đạo của Đảng về giáo dục đào tạo, về sự đổi mới tư duy
trong giáo dục và QLGD, nêu cao vai trò và tính tự chủ của các cơ sở đào
tạo trong quản lý.
Tác giả Trần Kiểm (2014) với công trình “Khoa học quản lý giáo dục –
một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [30] đã đề cập sâu sắc những vấn đề về
QLGD và những người cán bộ QLGD. Tác giả cho rằng: hiệu quả QLGD
phần lớn phụ thuộc vào việc tổ chức khoa học lao động của con người và
5


phẩm chất, năng lực, phong cách, quản lý của người cán bộ đó, đồng thời tác

theo giáo trình mới ở Khoa Tự nhiên Trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa Vũng Tàu. Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành QLGD của tác giả Nguyễn Thị
Bích Hà (2007) với đề tài “Quản lý đào tạo đại học hệ vừa học vừa làm ở
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh –
thực trạng và giải pháp” [26] đã phân tích nguyên nhân của thực trạng và đề
xuất những giải pháp để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý
đào tạo hệ VLVH của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành
phố Hồ Chí Minh.
Tác giả Vũ Thị Hồng Gấm (2009) với đề tài “Biện pháp quản lý quá
trình đào tạo hệ vừa học vừa làm ở trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp
Hà Nội” [25], Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành QLGD đã đề xuất các giải
pháp nâng cao quản lý CLĐT của Nhà trường. Đề tài “Thực trạng quản lý
đào tạo tại Trường Đại học Trà Vinh”, Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành
QLGD của tác giả Nguyễn Vĩnh Lợi (2010), đã phân tích nguyên nhân của
thực trạng quản lý đào tạo và đề xuất các biện pháp quản lý đào tạo theo tín
chỉ tại Trường Đại học Trà Vinh.
Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành QLGD của tác giả Đào Anh Duy
(2013) “Giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy tại trường Đại
học Bạc Liêu”. Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành QLGD của tác giả Phan
Anh Hùng (2013)“Giải pháp quản lý hoạt động đào tạo đại học ở Trường
Đại học Bạc Liêu”. Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành QLGD của tác giả
Trương Xuân Thủy “Quản lý quá trình đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng
nghề Việt - Xô số 1 hiện nay” (2014). Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành
QLGD của tác giả Vũ Tuấn Anh “Quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ viên chức ngành Bảo hiểm Xã hội thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”,
(2014). Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành QLGD của tác giả Chu Văn Ngà
Quản lý hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ của Trường Đại học Lao
động - Xã hội, (2014). Đề tài Phạm Thị Ngọc Huyền Quản lý hoạt động đào

7




Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt
động đào tạo CNĐD hệ VLVH, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đào
tạo hệ VLVH ở Trường Đại học Y Hà Nội nhằm góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục, đào tạo của Nhà trường.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đào tạo CNĐD hệ
VLVH ở các trường đại học Y.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng đào tạo và thực trạng quản lý
hoạt động đào tạo CNĐD hệ VLVH ở Trường Đại học Y Hà Nội.
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo CNĐD hệ VLVH ở
Trường Đại học Y Hà Nội và khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của
các biện pháp.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động đào tạo đại học ở các Trường Đại học Y.
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động đào tạo CNĐD hệ VLVH ở Trường Đại học Y Hà Nội
hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về giải pháp quản lý
hoạt động đào tạo CNĐD hệ VLVH.
Phạm vi về địa bàn nghiên cứu: Trường Đại học Y Hà Nội.
Phạm vi về thời gian: Các số liệu thống kê, điều tra, khảo sát, sử dụng
trong luận văn giới hạn từ năm 2011 đến năm 2016.
5. Giả thuyết khoa học
Chất lượng đào tạo của Nhà trường phụ thuộc vào nhiều nhân tố, trong
đó có quản lý hoạt động đào tạo. Đối với Trường Đại học Y Hà Nội nếu vận
dụng có hiệu quả các biện pháp quản lý như: đảm bảo chất lượng công tác

Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát khoa học: Quan sát các hoạt động, nhiệm vụ xây dựng chương
trình, tổ chức dạy học, quản lý sư phạm, bảo đảm vật chất, phương tiện dạy học.

10


- Điều tra bằng bảng hỏi đối với các chủ thể quản lý hoạt động giảng
dạy như: Các cán bộ QLGD ở Phòng Đào tạo, CBQL sinh viên, các khoa và
bộ môn và sinh viên.
- Tổng kết kinh nghiệm đào tạo các đối tượng thời gian qua, nghiên cứu các
sản phẩm hoạt động như chương trình, nội dung dạy học, kết quả kiểm tra đánh
giá, nhằm xác định các cơ sở thực tiễn, xây dựng những cơ sở cho việc đề xuất
các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo hệ VLVH ở Trường Đại học Y Hà Nội.
- Tọa đàm, phỏng vấn. Tổ chức trao đổi và phỏng vấn sau cán bộ đào tạo,
CBQL các khoa giáo viên về một số vấn đề thuộc nội dung của luận văn.
- Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý
hoạt động đào tạo hệ VLVH ở Trường Đại học Y Hà Nội đã đề xuất.
Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phương pháp toán thống kê toán học, ứng dụng phần mềm
nhập và xử lý số liệu làm minh chứng cho những nhận định, đánh giá của đề
tài và khảo nghiệm các giải pháp được đề xuất trong đề tài.
7. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài cung cung cấp một số luận cứ lý luận và thực tiễn quản lý đào
tạo hệ VLVH và thực tiễn về quản lý hoạt động đào tạo hệ VLVH, biện pháp
quản lý hoạt động đào tạo CNĐD hệ VLVH ở Trường Đại học Y Hà Nội để
lãnh đạo Nhà trường nghiên cứu có thể áp dụng.
Đề xuất hệ thống giải pháp quản lý hoạt động đào tạo CNĐD hệ VLVH
ở Trường Đại học Y Hà Nội, góp phần nâng cao CLĐT của Nhà trường,
nhằm thúc đẩy sự nghiệp GD&ĐT đại học ngày càng phát triển để cung cấp

Nhà trường, gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách. Đó là quá trình có
mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và quá trình có hệ thống các tri
thức, kỹ năng, thái độ một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người
học một nghề nghiệp nhất định theo mục tiêu đào tạo của mỗi đối tượng
cụ thể.

12


Như vậy, Đào tạo là hoạt động mang tính phối hợp giữa các chủ thể
dạy học (người dạy và người học), là sự thống nhất hữu cơ giữa hai mặt dạy
và học tiến hành bởi quy trình, chương trình, nội dung, phương pháp, hình
thức tổ chức và đánh giá kết quả đào tạo theo mục tiêu đã xác định.
Mục tiêu của hoạt động đào tạo: Trang bị cho người học những kiến
thức, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp đáp ứng hoạt động thực tiễn nghề nghiệp
theo yêu cầu của từng chuyên ngành và trình độ đào tạo.
Cấu trúc của hoạt động đào tạo gồm:
Xét theo quan điểm hệ thống, cấu trúc, hoạt động đào tạo được hợp
thành bởi hệ thống các thành tố: mục tiêu đào tạo, nhà giáo dục, đối tượng
giáo dục, nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo, hình thức tổ chức đào tạo,
kết quả đào tạo. Các thành tố này luôn vận động trong mối quan hệ phụ thuộc
lẫn nhau, vừa tạo điều kiện cho nhau, vừa chế ước lẫn nhau, tạo thành hệ
thống với các mối liên hệ xuôi và mối liên hệ ngược thúc đẩy sự vận động,
phát triển của quá trình đào tạo.
Quá trình vận động, phát triển của các thành tố trên đây luôn diễn ra trong
sự tác động của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước và môi trường
phát triển của khoa học, công nghệ và xu thế thời đại của giáo dục.
1.1.2. Khái niệm đào tạo cử nhân điều dưỡng hệ vừa làm vừa học
Quan niệm của một số tác giả nước ngoài: đào tạo tại chức là dành
cho người lao động, giúp họ phát triển các kỹ năng trong một nghề

Nhóm 1
(đào tạo nhân lực, cấp văn
bằng)
Giáo dục trực tiếp
(VLVH, tập trung
một phần thời gian)

Giáo dục từ xa
(dạy-học gián tiếp)

Giáo dục phi chính quy
(học ngoài nhà trường)

Nhóm 2
(bồi dưỡng thường xuyên,
cấp chứng chỉ)
Tự học có hướng
dẫn

Sơ đồ 1.1: Hệ thống hoá các loại hình giáo dục và phương thức tổ chức
đào tạo
- Khái quát khái niệm đào tạo CNĐD hệ VLVH
Đào tạo CNĐD hệ VLVH là hoạt động mang tính phối hợp giữa các
chủ thể dạy học (người dạy là giảng viên trường Đại học và người học là

14


người đang làm trong cơ sở y tế tham gia học tập), là sự thống nhất hữu cơ
giữa hai mặt dạy và học theo chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức

thuốc, đề xuất các biện pháp xử lý hợp lý, phối hợp với thầy thuốc để chăm
sóc và nâng cao sức khỏe người bệnh. Áp dụng Y học cổ truyền trong công

16


tác chăm sóc và phòng bệnh. Tham gia công tác quản lý ngành, thực hành
NCKH điều dưỡng, tổ chức và đào tạo cán bộ điều dưỡng, nhân viên y tế.
Về thái độ: Người điều dưỡng thực hành nghề nghiệp theo luật pháp,
chính sách của nhà nước về công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe
của nhân dân. Trung thực, khách quan, thận trọng, ý thức làm việc hiệu quả
trong thực hành nghề nghiệp, chân thành hợp tác với đồng nghiệp. Tôn trọng
quyền của người bệnh. Có ý thức phát triển nghề nghiệp, học tập liên tục và
suốt đời.
- Đặc điểm đào tạo CNĐD hệ VLVH
Đối tượng đào tạo CNĐD hệ VLVH:
Đối tượng tuyển sinh của loại hình đào tạo này bao gồm những người đã
có bằng trung cấp chuyên ngành điều dưỡng đang làm việc tại cơ sở y tế đúng
với chuyên ngành đào tạo và có thời gian tốt nghiệp trên 36 tháng tính đến thời
điểm đăng ký dự thi. Do đó, học viên của hình thức đào tạo này đại bộ phận là
những người đã trưởng thành, có độ tuổi chênh lệch nhau, có sự khác biệt về
nhận thức cũng như vốn sống, sở thích, vị trí xã hội, mục đích học tập… Mục
tiêu học tập của họ của rất đa dạng và ở nhiều cấp độ khác nhau.
Nội dung đào tạo CNĐD hệ VLVH: Về cơ bản chương trình, nội
dung đào tạo của đối tượng này theo chương trình chung của chuyên ngành
CNĐD. Tổng số 44 môn học với 113 đơn vị học trình được phân bổ 71 đơn
vị học trình lý thuyết và 42 đơn vị học trình thực hành, học trình thực hành
tại phòng thực hành Labo trong trường là 30 tiết và nếu thực hành môn
chuyên ngành tại các bệnh viện thì khoảng 45-90 tiết. Do đó tổng số tiết
học lý thuyết khoảng 1750 tiết và 1770 tiết thực hành cho toàn khóa học

dung, CTĐT; Quản lý đổi mới PPDH; Quản lý ĐNGV, cán bộ, viên chức;
Quản lý tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo; Quản lý CSVC, thiết bị phục vụ
đào tạo; Kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo.
Quản lý hoạt động đào tạo được xem là những cách thức tổ chức, điều
khiển toàn bộ quá trình hoạt động hướng vào việc tạo ra những biến đổi về
chất lượng của người học trong quá trình đào tạo ở các phẩm chất, giá trị nhân
18


cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề (kỹ năng, kỹ xảo nghề
nghiệp) của người tốt nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong đào tạo đáp
ứng yêu cầu công việc.
Từ sự phân tích trên có thể khái quát: Quản lý hoạt động đào tạo
CNĐD hệ VLVH là quá trình tổ chức điều khiển thực hiện chương trình, nội
dung, phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học, nhằm đạt
được mục tiêu đào tạo đối tượng CNĐD hệ VLVH đã xác định.
Quản lý hoạt động đào tạo hệ VLVH là quá trình thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ quản lý thông qua các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo hệ
VLVH cụ thể phù hợp với đặc điểm đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao
góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ mục tiêu đã đề ra.
Mục tiêu quản lý hoạt động đào tạo CNĐD hệ VLVH ở Trường Đại
học Y Hà Nội: nhằm quản lý có hiệu quả hoạt động này, góp phần năng cao
chất lượng GD&ĐT của Nhà trường.
Chủ thể quản lý hoạt động đào tạo CNĐD hệ VLVH ở Trường Đại học
Y Hà Nội: Ban giám hiệu, cơ quan đào tạo, Trung tâm khảo thí và đảm bảo
chất lượng, các đơn vị quản lý học viên.
Nội dung quản lý hoạt động đào tạo CNĐD hệ VLVH ở Trường Đại
học Y Hà Nội: Kế hoạch, chương trình nội dung, hình thức, phương pháp đào
tạo, các chủ thể và đối tượng quản lý, các điều kiện bảo đảm…
Đối tượng quản lý hoạt động đào tạo CNĐD hệ VLVH ở Trường Đại học

với khả năng bản thân và yêu cầu công việc. Tóm lại, trong công tác quản lý
tuyển sinh phải công khai, khách quan, chính xác.
1.2.2. Quản lý mục tiêu, kế hoạch đào tạo
- Quản lý Mục tiêu đào tạo
Quản lý mục tiêu đào tạo nhằm đảm bảo mục tiêu đào tạo được xây
dựng hợp lý và được thực hiện trọn vẹn. Quản lý mục tiêu đào tạo bắt đầu từ
việc xây dựng sứ mạng và tầm nhìn của Nhà trường. Sứ mạng và tầm nhìn
được xây dựng trên cơ sở mục tiêu chung của đào tạo đại học, nhưng phải
20


phản ánh một cách cô đọng, đầy đủ và có sức thuyết phục mục tiêu cụ thể của
Nhà trường. Luật Giáo dục năm 2005, Điều 39 về Giáo dục đại học có nêu
“Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị,
đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành
nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [35, tr.35,36].
Mục tiêu cụ thể của Nhà trường lại phải gắn chặt với chuẩn giảng viên
các cấp, bậc học, đồng thời phải có tính khả thi, phù hợp với hoàn cảnh, điều
kiện của Nhà trường cũng như điều kiện và yêu cầu về chuyên môn của ngành
đặc thù. Trên cơ sở mục tiêu đào tạo cụ thể, trường đại học triển khai xây
dựng các nhiệm vụ đào tạo. Ngoài những nhiệm vụ đào tạo đại học chung như
hình thành thế giới quan khoa học, lý tưởng, ước mơ, hoài bão nghề nghiệp và
những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, tác phong của người cán bộ y khoa,
trường đại học còn phải xây dựng các yêu cầu riêng về hệ thống tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo, năng lực nghề nghiệp và chuẩn đầu ra gắn với sự nghiệp tương
lai của sinh viên. Mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo phải được thường xuyên rà
soát, bổ sung, điều chỉnh và được triển khai thực hiện. Phải xây dựng kế
hoạch định kỳ so sánh, đối chiếu mục tiêu với kết quả đạt được để đánh giá
một cách toàn diện hoạt động đào tạo, tìm ra mặt mạnh, mặt yếu, có giải pháp

năng về biện chế, chức năng nhiệm vụ để phù hợp với thực tiễn luôn phát
triển. Xây dựng cơ chế quản lý và phân cấp quản lý phù hợp với đặc điểm đào
tạo của Nhà trường và với đối tượng CNĐD hệ VLVH. Chấp hành nghiên túc
và thực hiện đúng qui trình đào tạo đã xác định.
Quản lý ĐNGV, cán bộ, viên chức trường đại học chính là quản lý
nguồn nhân lực của một tổ chức. Cho nên quản lý nguồn nhân lực của trường
đại học là tập trung tạo thuận lợi cho ĐNGV, cán bộ, viên chức trong trường
hoàn thành tốt các mục tiêu chiến lược và các kế hoạch của Nhà trường, tăng
cường cống hiến của mọi người cho tổ chức.

22


Đội ngũ quản lý là lực lượng đảm bảo cho hoạt động đào tạo được thực
hiện. Chính đội ngũ này xác định mục tiêu, sứ mạng và tầm nhìn cho Nhà
trường; xây dựng các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; vạch ra các
sách lược, chiến lược cho sự phát triển của Nhà trường; và chịu trách nhiệm
về những vấn đề do mình đặt ra. Trong tình hình giáo dục ở nước ta hiện nay,
với những đòi hỏi của xã hội ngày càng cao, sự cạnh tranh trong giáo dục
ngày càng mạnh mẽ và quy định ngân sách nhà nước ngày càng chặt chẽ, thì
việc lựa chọn được những bước đi hợp lý là yếu tố cốt lõi của quản lý đào tạo.
Điều này phù thuộc vào năng lực và tầm nhìn của đội ngũ quản lý.
Đội ngũ nhân viên (các chuyên viên và nhân viên phục vụ) chịu trách
nhiệm thực thi trực tiếp các hoạt động phục vụ đào tạo và kiểm định CLĐT.
Các hoạt động này mang tính chuyên nghiệp cao trong đào tạo theo học chế tín
chỉ, vì vậy đội ngũ nhân viên ở trường đại học phải là những người được đào
tạo, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao trong lĩnh vực mà mình phụ trách,
thường xuyên được tập huấn, bồi dưỡng nâng cao tay nghề để có khả năng độc
lập giải quyết những vấn đề thường nhật trong công tác quản lý và phục vụ đào
tạo. Đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên có trình độ chuyên môn,

chỉnh dựa trên cơ sở tham khảo các chương trình tiên tiến quốc tế, các ý kiến
phản hồi từ phía các nhà tuyển dụng lao động, người tốt nghiệp, các tổ chức
giáo dục và các tổ chức khác nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phát
triển giáo dục của địa phương hoặc cả nước.
Trong khuôn khổ CTĐT hệ VLVH được xây dựng trên nền khung
CTĐT theo niên chế hệ chính quy, do đó. CTĐT phải được định kỳ đánh giá
và thực hiện cải tiến chất lượng dựa trên kết quả đánh giá.
- Quản lý hình thức và phương pháp đào tạo
Phương pháp dạy học ở đại học, với tư cách tổ hợp các cách thức hoạt
động, tương tác giữa thầy và trò trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục
tiêu và nhiệm vụ dạy học. Đổi mới phương thức đào tạo đòi hỏi phải đổi mới
phương pháp đào tạo. Quản lý PPDH trong hoạt động đào tạo hướng đến đảm
bảo các phương pháp đào tạo phải góp phần hình thành động cơ nhận thức, các
24


phương pháp nhận thức, bồi dưỡng cho sinh viên phương pháp tự học, tự nghiên
cứu để chiếm lĩnh tri thức, nâng cao tính tích cực, độc lập, sáng tạo của sinh
viên, phát huy năng lực vận dụng lý thuyết vào thực tiễn. Dạy học theo phương
pháp NCKH tỏ ra là một giải pháp hữu hiệu cho mục tiêu này.
- Quản lý tiến trình đào tạo
Tiến trình đào tạo được xây dựng trên cơ sở khung CTĐT, thể hiện cụ
thể bằng CTĐT khung (chương trình giáo dục). Căn cứ chương trình đạo tạo
khung Trường xây dựng tiến trình đào tạo cho từng khóa học và được thông
báo tiến trình đào tạo tới từng học viên ngay trong đầu khóa học.
Tiến trình đào tạo thể hiện cụ thể chương trình giảng dạy cho từng
học kỳ và từng năm học, trong đó có yêu cầu điều kiện tiên quyết môn học
bắt buộc nếu có trong CTĐT. Một CTĐT có thể xây dựng nhiều tiến trình
khác nhau để áp dụng phù hợp cho điều kiện từng lớp học và nơi đặt lớp học.
1.2.4. Chỉ đạo hoạt động dạy và hoạt động học

kế hoạch học tập trên lớp, thực hiện các nhiệm vụ, nội dung học tập; đảm bảo
học viên thực hiện đầy đủ, chính xác quy chế học tập và rèn luyện; đổi mới
phương pháp học tập; xây dựng phương pháp tự kiểm tra, tự đánh giá phù
hợp; hướng dẫn học viên xây dựng mục tiêu và kế hoạch học tập cá nhân.
Nội dung then chốt trong quản lý hoạt động học của học viên là đổi
mới phương pháp học tập, nghiên cứu của học viên. Việc này được bắt đầu từ
việc giảng viên đổi mới PPDH, phương pháp kiểm tra, đánh giá. Giảng viên
có nhiệm vụ bồi dưỡng cho học viên phương pháp và kỹ năng tự học ngay
trên lớp thông qua việc tạo điều kiện cho học viên bộc lộ khả năng diễn đạt,
phân tích, tổng hợp, khái quát, trừu tượng hoá vấn đề, bồi dưỡng cho học viên
phương pháp đọc sách, truy cập tài liệu, tóm tắt, hệ thống hoá tài liệu.
1.2.5. Quản lý công tác bảo đảm đào tạo
- Quản lý cơ sở vật chất, giáo trình, tài liệu, phương tiện kỹ
thuật dạy học.

26



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status