1
1
TÓM LƯỢC
Thuế là nguồn thu quan trọng của Nhà nước, đảm bảo cho tất cả nhu cầu tài
chính, chi tiêu của Chính phủ để phát triển nền kinh tế và an sinh xã hội. Do đó,
nguồn thu từ thuế phải được ổn định và vững chắc. Trước yêu cầu như vậy, công tác
quản lý thu thuế ngày càng trở nên quan trọng và cấp thiết. Cơ quan thuế nói chung
và Cục thuế tỉnh Thái Bình nói riêng phải không ngừng nâng cao chất lượng quản lý
thu thuế để đảm bảo công bằng cho tất cả mọi thành phần trong nền kinh tế thực
hiện nghĩa vụ nộp thuế và huy động kịp thời nguồn thu cho NSNN.
Trong sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, loại hình DNNQD ngày
càng chiếm tỷ trọng cao trong các loại hình DN, là đối tượng có đóng góp rất lớn
cho NSNN. Tuy nhiên, ý thức tuân thủ pháp luật về thuế của DNNQD còn chưa
cao, ngày càng có nhiều hành vi vi phạm về thuế như trốn thuế, gian lận thuế gây
khó khăn cho công tác quản lý của cơ quan thuế và thất thoát nguồn thu cho NSNN.
Mặt khác, trong điều kiện nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì tất cả mọi
hoạt động QLNN trong đó có quản lý thu thuế đều phải được cải cách cho phù hợp.
Trước tình hình đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý thu thuế đối với DNNQD trên
địa bàn tỉnh Thái Bình”. Nhóm tác giả sẽ đi phân tích các nội dung sau:
-
Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến thuế, DNNQD, quản lý thu thuế, quản
lý thu thuế đối với các DNNQD, phương pháp, công cụ quản lý thuế, nội dung và
-
tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý thu thuế đối với các DNNQD.
Từ những cơ sở lý luận, tác giả nghiên cứu cụ thể thực trạng quản lý thu thuế đối
với DNNQD trên địa bàn tỉnh Thái Bình. Tác giả rút ra được những thành công, hạn
CP
Cổ phần
DN
Doanh nghiệp
DNNQD
DNNQD
GTGT
Giá trị gia tăng
HTKK
Hệ thống kê khai
KBNN
Kho bạc Nhà nước
KK&KTT
Kê khai và kế toán thuế
NNT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng GRDP (%) giai đoạn 2010 - 2015
Biểu đồ 2.2: GRDP bình quân đầu người của tỉnh Thái Bình (trđ)
Biểu đồ 2.3: Tỷ trọng đóng góp của từng lĩnh vực (%)
Biểu đồ 2.1. Các loại hình của DNNQD trên địa bàn tỉnh Thái Bình năm 2015
Đồ thị 2.5: Đánh giá của người nộp thuế về công tác Tuyên truyền, hỗ trợ của
Cục thuế tỉnh Thái Bình
Biểu đồ 2.14: Tỷ lệ thư, thông báo nhắc nộp HSKT
Biểu đồ 2.17: Mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu tới việc lập danh sách kiểm
tra hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp
Biểu đồ 2.22: Đánh giá của cán bộ quản lý thuế về sự ảnh hưởng của các nhân
tố tới việc lập chỉ tiêu thu tiền nợ thuế
Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy Cục Thuế tỉnh Thái Bình
5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây quan điểm phát triển kinh tế nước ta bằng con
đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân đòi hỏi sự phát
triển mạnh mẽ của các thành phần kinh tế. Số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh đã tăng lên nhanh chóng và tham gia ngày càng tích cực vào thị trường, làm
tăng sự sôi động trong nền kinh tế. Trong 5 năm qua đã có thêm 285.224 doanh
nghiệp ngoài quốc doanh đăng ký hoạt động, gấp 3 lần tổng số doanh nghiệp
mạnh của địa phương như vốn, lao động, tay nghề, bậc thợ, nhất là ở những địa
phương có làng nghề truyền thống. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh tỉnh Thái Bình
đã góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, giải quyết việc làm, tăng thu cho Ngân
sách, cải thiện đời sống cho nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đóng góp đáng kể vào
sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của Tỉnh. Số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh đóng góp vào ngân sách Nhà nước của cả nước nói chung và của tỉnh Thái
Bình nói riêng có xu hướng ngày càng tăng cao. Tổng thu Ngân sách Nhà Nước của
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng ngày càng nhiều từ 30% – 50%
tổng số nguồn thu ngân sách của Tỉnh.
Thuế là nguồn thu chủ yếu, lâu dài và là bộ phận quan trọng nhất của ngân
sách Nhà nước. Thông qua việc thu thuế Chính phủ ban hành các chính sách để phát
triển kinh tế xã hội, xây dựng các công trình công cộng, cải thiện hệ thống an sinh
xã hội. Vì vậy, việc quản lý thu thuế sao cho thu đúng, thu đủ luôn được đặt ra để
tạo nguồn thu cho ngân sách và đảm bảo công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế
của người dân và doanh nghiệp trong cả nước.
Lịch sử càng phát triển, các hệ thống thuế khóa, các hình thức thuế khóa
và pháp luật thuế ngày càng đa dạng và hoàn thiện cùng với sự phát triển của kinh
tế thị trường. Đồng thời, sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế thị
trường và xu thế hội nhập quốc tế làm cho môi trường kinh tế ngày càng phức tạp
và gia tăng cạnh tranh. Trong điều kiện đó Nhà nước có vai trò hoàn thiện và thực
hiện hiệu quả hơn nữa công tác quản lý thu thuế nhằm đảm bảo tạo lập môi trường
kinh doanh lành mạnh giữa các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Do đó để đảm bảo
phát triển kinh tế - xã hội ổn định, bền vững và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,
việc tiếp tục hoàn thiện các chính sách tài chính trong đó hệ thống chính sách thuế
7
là hết sức cần thiết, nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ phân bổ nguồn lực đồng thời giải
8
biệt trong giai đoạn hiện nay, nguồn thu thuế của ngân sách Nhà nước có phần sụt giảm
đáng kể do thời gian đầu hội nhập và suy giảm kinh tế toàn cầu.
Hiện nay ở Việt Nam có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu về thuế
được công bố. Các công trình nghiên cứu về thuế có thể được sắp xếp theo ba chủ
đề như sau:
Về “Hoàn thiện chính sách thuế của Việt Nam trong các giai đoạn” có các luận
án tiến sĩ: “Các giải pháp hoàn thiện cải cách hệ thống thuế ở Việt Nam” của NCS.
Nguyễn Văn Hiệu, năm 2003; “Giải pháp hoàn thiện chính sách thuế đối với khu
vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (minh họa tại vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam)” của NCS. Trần Ngọc Hoàng, năm 2004; “Các giải pháp hoàn thiện
chính sách thuế góp phần phát triển kinh tế Việt Nam đến năm 2010” của NCS. Ngô
Bình Chung, năm 2005; “Chính sách thuế với việc nâng cao năng lực cạnh tranh
của các doanh nghiệp ngành công nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế” của NCS. Lê Xuân Trường, năm 2006; “Hoàn thiện chính sách thuế thu
nhập ở Việt Nam phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” của NCS. Nguyễn
Xuân Sơn, năm 2007; “Hoàn thiện hệ thống chính sách thuế ở Việt Nam trong điều
kiện gia nhập WTO” của NCS. Vương Thị Thu Hiền, năm 2008; “Đổi mới chính
sách thuế tiêu dùng ở Việt Nam” của NCS. Lê Thu Huyền, năm 2008; “Hoàn thiện
chính sách thuế đánh vào tài sản ở Việt Nam” của NCS. Nguyễn Đình Chiến, năm
2008.
Về “Nâng cao vai trò của thuế trong quản lý, điều tiết vĩ mô” có các luận
án: “Hoàn thiện hệ thống thuế nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để thuế
thực sự trở thành công cụ chính của Nhà nước, điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị trường”
của NCS. Chu Văn Tuấn, năm 2001; “Hoàn thiện việc sử dụng công cụ thuế trong
quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam”
của NCS. Tạ Văn Lợi, năm 2003; “Góp phần nâng cao vai trò của thuế ở Việt Nam
trong điều kiện hội nhập” của NCS. Lê Phú Hào, năm 2007; “Nâng cao vai trò của
- Lưu thông tiền tệ và tín dụng hoặc chuyên ngành Kinh tế - Tài chính - Ngân hàng.
Chưa có công trình nghiên cứu tổng hợp về quản lý thuế theo tiếp cận quản lý kinh
tế. Bên cạnh đó, một số địa phương hoặc vùng kinh tế được nghiên cứu trong các
luận án về thuế trước đây, tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể quản
lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Thái Bình
trong giai đoạn 2014 - 2016.
10
Như vậy có thể khẳng định nghiên cứu về quản lý thu thuế đối với doanh
nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Thái Bình theo tiếp cận quản lý kinh tế
trong bối cảnh hiện nay là một chủ đề khá mới, chưa có công trình nào nghiên cứu một
cách đầy đủ, có hệ thống về vấn đề này. Do vậy, đề tài “Quản lý thu thuế đối với
doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Thái Bình” không trùng lắp với
các công trình nghiên cứu đã được công bố trước đó.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu nghiên cứu là quản lý thu thuế đối với DNNQD trên địa bàn tỉnh
Thái Bình
3.2 Mục tiêu cụ thể
-
Hệ thống hoá các cơ sở lý luận về thuế, quản lý thuế, những yếu tố ảnh hưởng đến
-
quản lý thuế, nội dung quản lý thuế
Tìm hiểu về tình hình và kết quả thu thuế đối với DNNQD trên địa bàn Tỉnh Thái
kiểm tra thuế; Quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính. Phương pháp định tính
được dùng để khái quát hóa, mô tả các khái quát chung về quản lý thuế, đặc điểm
doanh nghiệp ngoài quốc doanh, Quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc
doanh , từ đó đánh giá thực trạng về công tác quản lý thu thuế các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Thái Bình, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn
thiện công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn
tỉnh Thái Bình.
Nhóm tác giả trực tiếp làm việc tại các sở, ngành, các chi cục thuế các huyện,
thành phố. Thu thập thông tin, tài liệu, xử lý số liệu, phân tích thông tin, tài liệu về
công tác quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh từ năm 2014 2016
Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng:
- Phương pháp điều tra khảo sát: Đề tài sử dụng mẫu phiếu điều tra, được
thực hiện với hai nhóm đối tượng gồm 150 người nộp thuế (doanh nghiệp ngoài
quốc doanh) và cán bộ thuế thuộc các Chi Cục thuế trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
- Phương pháp thu thập thông tin và xử lý số liệu: Tác giả thu thập thông tin
chủ yếu là dữ liệu thứ cấp thông qua tài liệu, giáo trình, đề án, website, báo cáo của
các cơ quan thuế có liên quan,... Sau khi đã thu thập được thông tin thứ cấp, tác giả
tiến hành xử lý số liệu thể hiện qua bảng biểu, đồ thị.
- Phương pháp khảo sát, lấy ý kiến chuyên gia: Nói chuyện, phỏng vấn các
chuyên gia kinh tế trong nước để nghe ý kiến, quan điểm của chuyên gia về thực
trạng công tác quản lý thu thuế các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
- Phương pháp thống kê mô tả sử dụng dữ liệu thứ cấp để hỗ trợ quá trình lập
luận: các số liệu thống kê qua các báo cáo, website, thống kê của các cơ quan thuế
để phục vụ cho việc phân tích, đánh giá toàn diện nội dung hoạt động quản lý thu
thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
12
Nhà nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có để huy động một bộ phận của cải
của xã hội. Việc huy động tập trung nguồn của cải xã hội vào trong tay Nhà nước có
thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau: đóng góp bắt buộc, vận động dân đóng
góp tự nguyện hoặc vay, trong đó, biện pháp huy động, tập trung của cải có tính bắt
buộc đối với mọi thành viên trong xã hội được gọi là thuế.
Ra đời và tồn tại cùng với Nhà nước, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá
trình phát triển lâu dài và khái niệm về thuế cũng không ngừng được hoàn thiện.
Theo các nhà kinh điển, “Thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng không
bù lại” và “thuế cấu thành nên nguồn thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản
phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư
bản hay thu nhập của người chịu thuế” (Lê-nin toàn tập, tập 15). Nhà kinh tế học
Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” (Gaston Jeze, “Finances Publiques”,
1934) đã đưa ra một khái niệm cổ điển nhất và cũng nổi tiếng nhất về thuế. Theo tác
giả, “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả
trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực
nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước”. Theo thời gian, khái niệm cổ điển này
đến nay đã được bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện, theo đó: “Thuế là một khoản
trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân
đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi
14
tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà
nước”.
Trên góc độ phân phối thu nhập, Thuế được hiểu là hình thức phân phối và
phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quĩ
tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước (quỹ Ngân sách nhà nước) để đáp ứng nhu
cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Trên góc độ người nộp thuế thì thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ
hóa công cộng. Với đặc tính của hàng hóa công cộng là có thể sử dụng chung và
khó có thể loại trừ, Nhà nước luôn là chủ thể cung cấp đại bộ phận hàng hóa công
cộng cho xã hội nhằm đảm bảo độ thỏa dụng tối đa của xã hội. Song không ai tự
nguyện trả tiền cho việc thu hưởng hàng hóa công cộng do Nhà nước đầu tư cung
cấp như quốc phòng, môi trường pháp luật, phòng dịch bệnh, tu sửa đê điều… Vì
vậy, để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng, tất yếu Nhà nước phải sử dụng quyền
lực của mình để bắt buộc các thể nhân và pháp nhân phải nộp thuế cho Nhà nước.
Tính bắt buộc của thuế thể hiện nghĩa vụ và quyền lợi đóng góp của mọi thể
nhân và pháp nhân đối với lợi ích công cộng của toàn xã hội và được thể chế hóa
trong hiến pháp của mọi quốc gia. Nhà nước ấn định, ban hành các luật thuế và
tổ chức bộ máy quản lý thu thuế; các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ thực
hiện theo đúng luật định. Thể chế hóa thu nộp thuế bằng các văn bản pháp luật
một mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế, mặt khác nhằm tránh tùy tiện trong
việc thu thuế và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế.
Đặc điểm này chỉ rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ, được
hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc động viên
mang tính chất bắt buộc của nhà nước. Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình
thức thuế là một phương thức phân phối của nhà nước mà không kèm theo một sự
cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế.
Thứ hai, thuế có tính không hoàn trả trực tiếp
Thuế không gắn trực tiếp với lợi ích cụ thể mà người nộp thuế được hưởng
từ hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp. Các thể nhân, pháp nhân thực
hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước theo luật định không có quyền đòi hỏi Nhà
nước phải cung cấp trực tiếp cho họ một lượng hàng hóa nào đó hoặc hoàn trả số
thuế họ đã nộp theo đúng luật định. Mức độ chuyển giao thu nhập của các thể
16
nhân và pháp nhân cho Nhà nước thông qua thuế được xác định dựa trên cơ sở
pháp nhân; vì vậy, chính sách thuế luôn chứa đựng yếu tố chính trị - kinh tế - xã hội
rộng lớn.
Nguồn thu thuế là kết quả của các hoạt động kinh tế - xã hội và thuế có tác
động đến lợi ích của mọi chủ thể trong xã hội, tác động đến mọi hoạt động kinh tế xã hội như tiết kiệm, đầu tư, tiêu dùng, xuất nhập khẩu, giá cả, thị trường, thất
nghiệp, công bằng xã hội…
1.1.1.2 Vai trò của thuế
Thứ nhất, thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội
bộ nền kinh tế quốc dân.Tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều được đáp ứng
qua các nguồn thu từ thuế, phí và các hình thức thu khác như: vay mượn, viện trợ
nước ngoài, bán tài nguyên quốc gia,..vv.. Song thực tế các hình thức thu ngoài thuế
đó có rất nhiều hạn chế, bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện. Do đó thuế được coi là
khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này mang tính chất ổn định và khi nền kinh
tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng. Ở nước ta, thuế thực sự trở thành
nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước. Nguồn thu từ thuế thường chiếm trên
90% tổng thu NSNN. Vì vậy, để thuế là nguồn thu vững chắc cho NSNN thì Nhà
nước phải tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng khi ban hành các sắc thuế, thuế suất, phải
phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội và thu nhập quốc dân.
Thứ hai, thuế góp phần điều tiết kinh tế vĩ mô và kích thích tăng trưởng kinh tế.
Thuế được coi là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô nhạy bén và có hiệu quả.
Chính sách thuế ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, giá cả, quan hệ cung cầu, cơ cấu
đầu tư và sự phát triển hoặc suy thoái của nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường,
Nhà nước sử dụng thuế để góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả, kích thích
đầu tư, phân phối lại sản phẩm xã hội nhằm đạt mục tiêu công bằng xã hội. Ngoài
ra, thuế là công cụ rất quan trọng để bảo hộ sản xuất trong nước và tăng cường khả
năng cạnh tranh của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập quốc tế.
1.1.1.3 Các sắc thuế chủ yếu đối với doanh nghiệp
Hiện nay, hệ thống thuế ở Việt Nam có 9 sắc thuế: Thuế thu nhập cá nhân;
Thuế thu nhập doanh nghiệp; Thuế giá trị gia tăng; Thuế tiêu thụ đặc biệt; Thuế tài
loại thuế này được thực hiện trên cơ sở những quy định của luật Thuế thu nhập do
nhà nước ban hành, theo đó, chênh lệch giữa doanh thu, thu nhập, chi phí để xác
định định nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định dựa trên cơ sở tính
thuế theo qui định của luật thuế. Trong khi đó, việc xác định và ghi nhận các khoản
19
doanh thu, thu nhập, chi phí này được thực hiện trên cơ sở những quy định của
chuẩn mực, chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành và sự lựa chọn chính sách kế
toán của doanh nghiệp, do đó lợi nhuận kế toán được xác định trên cơ sở ghi nhận
của kế toán. Sự khác biệt về cơ sở tính thuế thu nhập và cơ sở ghi nhận của lợi
nhuận kế toán đã làm nảy sinh những chênh lệch giữa thu nhập tính thuế và lợi
nhuận kế toán, đây là nguồn gốc phát sinh của những chênh lệch tạm thời và chênh
lệch vĩnh viễn, trong đó chênh lệch tạm thời làm phát sinh thuế thu nhập doanh
nghiệp hoãn lại. Vậy, thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm thuế thu nhập doanh
nghiệp hiện hành và thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại.
Thuế TNDN một nguồn thu lớn cho NSNN và có các đặc điểm riêng biệt để
phân biệt với các sắc thuế khác như sau:
Thứ nhất, thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế trực thu: Tính chất trực thu
của loại thuế này được biểu hiện ở sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế và đối
tượng chịu thuế.
Thứ hai, thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế phải nộp cho Nhà nước
mang tính bắt buộc phi hình sự: Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn
có của thuế nói chung và thuế TNDN nói riêng, điều này để phân biệt thuế TNDN
với các hình thức huy động tài chính khác của Ngân sách Nhà nước. Đặc điểm này
xác định rõ nội dung kinh tế của thuế TNDN là những quan hệ tiền tệ được hình
thành một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt. Phân phối mang tính bắt
buộc dưới hình thức thuế TNDN là một phương thức phân phối của Nhà nước mà
kết quả của quá trình đó là một bộ phận thu nhập của doanh nghiệp được chuyển
cá nhân. Thu nhập mà cá nhận nhận được từ hoạt động đầu tư như: lợi tức cổ phần,
lãi tiền gửi ngân hàng, lợi nhuận do góp vốn liên doanh, liên kết...là phần thu nhập được
chia sau khi nộp thuế TNDN.
* Thuế giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng (GTGT) có nguồn gốc từ thuế doanh thu, được áp dụng
đầu tiên trên thế giới tại Pháp vào năm 1954, với ưu điểm nổi bật của thuế GTGT là
đảm bảo nguồn thu kịp thời cho ngân sách nhà nước và khắc phục được tình trạng
trùng lắp của thuế doanh thu. Cho đến nay, thuế GTGT đã được áp dụng phổ biến
trên thế giới, ở Việt Nam thuế GTGT được áp dụng từ ngày 1 tháng 1 năm 1999.
Thuế GTGT là loại thuế tính trên giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ phát
sinh từ các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Người nộp thuế
chỉ tính số thuế phải nộp trên cơ sở khoản chênh lệch giữa số thuế tính trên sản
21
phẩm bán ra và số thuế tính trên sản phẩm mua vào, người tiêu dùng là người gánh
chịu toàn bộ số thuế này vì họ là người thực hiện mua hàng nhưng không thực hiện
việc bán hàng.
Như vậy, thuế GTGT tính trên phần giá trị mới được tạo ra (giá trị gia tăng)
của hàng hóa dịch vụ trên mỗi công đoạn của quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu
dùng. Không tính vào phần giá trị đã chịu thuế GTGT ở các khâu trước, khắc phục
được tình trạng “thuế chồng lên thuế“, từ đó khuyến khích sản xuất kinh doanh,
xuất khẩu, tăng cường đầu tư, tăng thu ngân sách nhà nước
Thuế GTGT có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, thuế GTGT là thuế gián thu: Đối tượng nộp thuế GTGT là người
cung ứng hàng hóa, dịch vụ. Người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng. Người
bán hàng khi bán hàng sẽ cộng số thuế GTGT vào giá bán hàng hóa, dịch vụ mà
người mua phải trả khi mua hàng hóa, dịch vụ. Tiền thuế GTGT được tính trong giá
thanh toán của hàng hóa, dịch vụ được các cơ sở sản xuất kinh doanh nộp vào ngân
phẩm được luân chuyển qua nhiều hay ít giai đoạn thì tổng số thuế phải nộp của tất
cả các giai đoạn vẫn đúng bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng.
Thứ tư, thuế GTGT là thuế lũy thoái so với thu nhập: Thuế GTGT tính vào
hàng hóa dịch vụ và người tiêu dùng là người phải trả khoản thuế đó, không phân
biệt thu nhập cao hay thấp, số thuế phải nộp là như nhau nếu mua cùng một loại
hàng hóa, dịch vụ. Như vậy khi so sánh tỷ suất thuế GTGT trên tổng thu nhập thì
người có thu nhập cao có tỷ suất thấp hơn người có thu nhập thấp.
Thứ năm, thuế GTGT có tính lãnh thổ: Thuế GTGT tính trong phạm vi lãnh
thổ một quốc gia, đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ
quốc gia đó.
* Thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân đã được áp dụng từ lâu ở các nước phát triển, đối
tượng nộp thuế này là mọi dân cư trong nước và người nước ngoài có thu nhập phát
sinh ở nước sở tại không phân biệt nghề nghiệp và địa vị xã hội. Ðồng thời, tùy theo
tính chất của các khoản thu nhập cá nhân, người ta chia thu nhập làm hai loại: thu
nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên để tính thuế cho phù hợp. Lần
đầu tiên ở Anh vào năm 1799 thuế thu nhập cá nhân được đưa vào thực hiện như
một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống
Pháp và được chính thức áp dụng vào năm 1942. Sau đó nhiều nước tư bản phát
23
triển khác cũng áp dụng thuế này như: ở Nhật năm 1887, Ðức 1899, Mỹ 1903, pháp
1916 và Liên Xô năm 1922.
Hiện nay trên thế giới có 02 phương pháp đánh thuế:
Cách thứ nhất: Tính thuế vào từng khoản thu nhập thực tế của mỗi cá nhân.
Được áp dụng phổ biến ở Anh, Nhật, Thụy Ðiển, các nước Châu Phi, Liên Xô,
Hungari, Tiệp khắc...Ưu điểm của cách này là đơn giản, dễ thực hiện, đảm bảo thu
kịp thời vào ngân sách Nhà nước. Nhưng có nhược điểm là chưa đảm bảo yêu cầu
nộp thuế cũng đồng thời là người chịu thuế, do đó cá nhân khó có thể chuyển thuế
được sang cho chủ thể khác.
Thu nhập chịu thuế của cá nhân trong kỳ tính thuế là thu nhập sau khi đã
giảm trừ các khoản chi phí liên quan để tạo ra thu nhập, các khoản giảm trừ mang
tính chất xã hội và các khoản giảm trừ cần thiết khác
Thuế thu nhập cá nhân có các đặc điểm riêng biệt để phân biệt với các sắc thuế
khác như sau:
Thứ nhất, Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu.
Đặc điểm trực thu của sắc thuế này được biểu hiện sự đồng nhất của người
chịu thuế đồng thời là người nộp thuế. Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá
nhân có thu nhập chịu thuế, không phân biệt cá nhân đó có tư cách chủ thể, tức là
độ tuổi hay xác định năng lực trách nhiệm pháp luật…
Thứ hai, Thuế thu nhập cá nhân có diện thu thuế rất rộng
Tính chất diện thu thuế rất rộng được biểu hiện trên khía cạnh liên quan trực
tiếp đến lợi ích người nộp thuế và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong xã hội.
Vì vậy, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nước
ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầu như tất cả
số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập
phát sinh trong nước hay ngoài nước.Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu cho
ngân sách của thuế thu nhập cá nhân rất cao.
Thứ ba, Thuế thu nhập cá nhân không bóp méo giá cả hàng hoá dịch vụ
Xét về góc độ kinh tế, thuế thu nhập cá nhân có tính trung lập cao hơn so với
các loại thuế khác vì việc tăng hay giảm thuế thu nhập cá nhân hầu như không kéo
theo những biến đổi về cơ cấu kinh tế
Thứ tư, Thuế thu nhập cá nhân mang tính luỹ tiến cao
Mức độ điều tiết phần thu nhập cao là rất lớn theo mức thuế suất tỷ lệ lũy tiến
từng phần. Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cá nhân là
điều tiết mạnh người có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Do vậy,
việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vì phần thu
nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao
bình quân đầu người. Nhìn chung các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
thường có một hoặc nhiều tính chất sau:
+ Những hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước không khuyến khích sản xuất, tiêu
dùng, có hại cho sức khỏe, ảnh hưởng không tốt đến môi trường.