DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Ban chấp hành Trung ương
BCHTW
Cán bộ chủ chốt cấp xã
CBCCCX
Chủ nghĩa tư bản
CNTB
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNH-HĐH
Đảng Cộng Sản Việt Nam
ĐCSVN
Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
ĐTNCS Hồ Chí Minh
Tỉnh Bạc Liêu
13
1.1
Năng lực công tác và một số vấn đề về bồi duỡng
năng lực công tác của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
xã ở tỉnh Bạc Liêu
13
1.2
Thực trạng và một số kinh nghiệm bồi dưỡng,
năng lực công tác của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
xã ở tỉnh Bạc Liêu
46
Chương2
YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP TĂNG
CƯỜNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CÔNG TÁC
CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ
Ở TỈNH BẠC LIÊU HIỆN NAY
62
2.1
1. Lý do chọn đề tài
Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành công của Cách mạng gắn liền với
vận mệnh của Đảng, của đất nước, của chế độ ta, là khâu then chốt trong công
tác xây dựng Đảng. Chính vì vậy việc bồi dưỡng năng lực công tác cho cán bộ là
công việc gốc của Đảng ta.
Cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là một cấp trong hệ thống
hành chính bốn cấp của Nhà nước Việt Nam, là nền tảng của hệ thống chính trị.
Cấp xã giữ vị trí vai trò hết sức quan trọng, là nơi trực tiếp thực hiện đường lối,
chính sách, pháp luật và nhiệm vụ của cấp trên giao, là cấp chính quyền trực tiếp
chăm lo đến đời sống của nhân dân, là cầu nối giữa Nhà nước với nhân dân. Đội
ngũ CBCCCX tỉnh Bạc Liêu có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc
quán triệt, cụ thể hóa và triển khai tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quyết
định của cấp ủy, Ủy ban nhân dân cấp trên; trực tiếp củng cố, tăng cường mối
quan hệ giữa Đảng với quần chúng ở cơ sở; xây dựng cấp ủy, chính quyền, Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội ở xã, vững mạnh toàn diện…
Nhận thức rõ điều đó, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy
tỉnh Bạc Liêu mà trực tiếp thường xuyên là các huyện ủy, thành ủy, công tác bồi
dưỡng năng lực công tác của đội ngũ CBCCCX đã quán triệt sâu sắc đường lối,
quan điểm của Đảng, chỉ thị, nghị quyết của các cấp, vận dụng đúng đắn, sáng
tạo, phù hợp với đặc điểm, tình hình, nhiệm vụ của từng cơ sở. Nhờ đó đã góp
phần nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực và hiệu quả
công tác từng bước đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chính trị ở cơ sở.
Tuy nhiên, công tác bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ CBCCCX
trong những năm qua vẫn còn những hạn chế bất cập, cả trong nhận thức, trong
lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Một số cấp ủy, cán bộ chủ trì chưa nhận
thức đầy đủ, đúng đắn về vị trí, vai trò của đội ngũ CBCCCX và mục tiêu, nội
dung, biện pháp bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ CBCCCX; lúng túng
trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện, dẫn đến trình độ, năng lực lãnh đạo, quản lý
của đội ngũ CBCCCX còn nhiều mặt hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu thực
yêu cầu về chất lượng đội ngũ cán bộ trong hoàn cảnh mới của đất nước và thời
đại. Về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tác giả chỉ rõ phải căn cứ vào tiêu
chuẩn cán bộ, chất lượng, hiệu quả công việc thực tế, có tính đến môi trường và
điều kiện công tác, mức độ tín nhiệm của quần chúng trong cơ quan và nhân dân
nơi cán bộ sinh sống; trách nhiệm xây dựng đội ngũ cán bộ cấp ủy tổ chức Đảng
và các tổ chức trong hệ thống chính trị.
6
PGS,TS Trần Xuân Sầm, “Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh
đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới” , đề tài khoa học cấp Nhà nước
giai đọan 1991-1995, mã số KX-05,11.
Nguyễn Mậu Dựng, “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của Đảng bộ các
cấp ở Tây Nguyên hiện nay”, Luận án tiến sĩ lịch sử (1996), Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh.
Nguyễn Hồng Tân, “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp
quận ở thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH”, Luận Văn thạc
sĩ lịch sử (2000), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
TS. Nguyễn Văn Sáu, “Nâng cao tổ chức họat động thực tiễn của đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp huyện ở phía Bắc nước ta trong tình hình hiện nay”, đề tài
khoa học cấp bộ, năm 2001.
Nguyễn Thái Sơn, “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh vùng
đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước”, luận án
tiến sĩ lịch sử (2002), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Nguyễn Quốc Tuấn, “Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện Nghị quyết
đảng đối với cán bộ chủ chốt cấp huyện ở đồng bằng sông Cửu Long” Nxb Lý
luận chính trị, Hà Nội, 2004.
Vũ Văn Hiền: “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm đáp
ứng yêu cầu của quá trình CNH,HĐH đất nước”, Nxb CTQG, Hà Nội, 2005.
Phúc Sơn (2012), “Giải pháp xây dựng đội ngũ cấp xã đạt chuẩn”, Tạp
chí xây dựng Đảng số 5/2012.
Trần Duy Hưng (2012), “Trẻ hóa đội ngũ cán bộ cấp xã tại Nam Định”,
Tạp chí xây dựng Đảng, số 5/2012.
Vũ Thị Thủy (2013), “Những khó khăn bất cập và giải pháp xây dựng hệ
thống chính trị cơ sở” Tạp chí xây dựng Đảng, số 5/2013.
Mỗi công trình khoa học, mỗi đề tài, luận văn, luận án tiếp cận nghiên cứu
từ nhiều góc độ khác nhau, đã tập trung nghiên cứu, luận giải làm sáng tỏ những
vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ theo từng phạm
vi, cấp độ nghiên cứu; đề ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Các công trình nghiên cứu
đều cho rằng để nâng cao trình độ mọi mặt của đội ngũ cán bộ phải tiến hành
toàn diện, đồng bộ nhiều nội dung, vận dụng nhiều hình thức đào tạo, bồi dưỡng
khác nhau, phải tiến hành thường xuyên, liên tục, có nề nếp, đổi mới nội dung,
chương trình, hình thức, phương pháp đào tạo bồi dưỡng; phát huy tốt vai trò
của các tổ chức, các lực lượng trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; kết hợp chặt chẽ
giữa đào tạo, bồi dưỡng tại trường với đào tạo bồi dưỡng tại cơ quan, đơn vị và
8
tự bồi dưỡng của cán bộ, đồng thời thực hiện tốt các công tác chính sách đối với
đội ngũ cán bộ.
*Nhóm các công trình về bồi dưỡng cán bộ
Nguyễn Đăng Quế (2013), “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở ở Tây
Nguyên”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 9/2013.
Nguyễn Quốc Minh “ Bồi dưỡng năng lực công tác Đảng, công tác chính
trị của đội ngũ chính trị viên ở Binh đoàn Tây Nguyên hiện nay”, Luận án thạc
sĩ xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước, Hà Nội 2008
Bùi Thanh Cao “ Bồi dưỡng năng lực thực hành công tác tư tưởng cho
phòng chính trị các sư đoàn bộ binh Quân đội Nhân dân Việt Nam giai đọan
hiện nay”. Luận án tiến sĩ chính trị học, Học viện Chính trị Hà Nội , 2013
Đỗ Minh Cương, “Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ”, Tạp chí xây
dựng Đảng, số 9/2013.
Đặng Hoài Thiêm “ Bồi dưỡng năng lực xây dựng Đảng của đội ngũ bí
thư chi bộ các đơn vị quản lí học viên ở Học viện Hậu cần hiện nay” Luận án
thạc sĩ xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước, Hà Nội 2014
Trần Minh Tùng “ Bồi dưỡng phong cách lãnh đạo của đội ngũ bí thư
đảng uỷ cấp xã ở tỉnh Bạc Liêu hiện nay” Luận án thạc sĩ xây dựng Đảng và
chính quyền Nhà nước, Hà Nội 2014
Những công trình trên ở nhiều góc độ tiếp cận khác nhau đã đề cập khá
sâu sắc về vai trò của năng lực và bồi dưỡng năng lực cán bộ nói chung. Đó là
những tài liệu có giá trị để tác giả nghiên cứu kế thừa trong giải quyết các vấn
đề nghiên cứu của đề tài. Song do mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi
nghiên cứu của mỗi công trình khác nhau, nên những công trình trên chưa đề
cập đến việc bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở
tỉnh Bạc Liêu một cách cơ bản, có hệ thống với tính chất của một đề tài khoa
học độc lập.
Vì vậy, tác giả lựa chọn vấn đề nghiên cứu “ Bồi dưỡng năng lực công
tác của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Bạc Liêu hiện nay”, không trùng
lặp với các công trình khoa học đã được nghiệm thu, công bố trong những năm
gần đây.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn và đề xuất
những giải pháp tăng cường bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã ở tỉnh Bạc Liêu hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
10
dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành và liên
ngành, trong đó coi trọng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, logic, lịch sử,
điều tra khảo sát, tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
11
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
Tỉnh ủy, thành ủy, Đảng ủy xã, Ủy ban nhân dân xã; các Đoàn thể chính trị xã
hội các cấp trong bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
xã ở tỉnh Bạc Liêu.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và học
tập về công tác cán bộ, công tác xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị
cơ sở ở các trung tâm bồi dưỡng cán bộ cấp huyện, thành phố Bạc Liêu và
trường đào tạo cán bộ của tỉnh Bạc Liêu.
7. Kết cấu của đề tài
Gồm phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết lụân, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục.
12
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CÔNG TÁC CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
CHỦ CHỐT CẤP XÃ Ở TỈNH BẠC LIÊU
1.1. Năng lực công tác và những vấn đề cơ bản về bồi dưỡng năng lực
công tác của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Bạc Liêu
1.1.1. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã và năng lực công tác của đội ngũ
Cao Văn Lầu, hệ thống đình, chùa…sự hấp dẫn của du lịch Bạc Liêu còn ở
những nét độc đáo trong ẩm thực, trang phục, lễ hội
Với những lợi thế về thiên nhiên, Bạc Liêu có nhiều tiềm năng để phát
triển kinh tế biển và nông nghiệp, dịch vụ tổng hợp và du lịch
Dân số Bạc Liêu (tính đến năm 2011) là 873.300 người, mật độ dân cư
trung bình là 354 người/km 2. Trong đó, dân số sống ở thành thị đạt 234.700
người
Dân số ở nông thôn đạt 638.600 người. Phần lớn đồng bào trong tỉnh là
người Việt, người Khơ me chiếm 4, 7%,người Hoa chiếm 3, 3% và người Chăm.
Đồng bào trong tỉnh chủ yếu theo các tôn giáo: Phật giáo, Thiên Chúa giáo
Về hành chính:Qua nhiều lần chia tách sát nhập, hiện nay tỉnh Bạc Liêu 7
đơn vị hành chính cấp huyện, 63 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó gồm 10
phường, 53 xã; 3/7 đơn vị hành chính cấp huyện có đường bờ biển
- Xã, phường, thị trấn ở tỉnh Bạc Liêu
Xã, phường, thị trấn tỉnh Bạc Liêu là đơn vị hành chính lãnh thổ cấp cơ
sở, ở đó có những cộng đồng dân cư liên kết với nhau trong sinh hoạt vật chất và
tinh thần trên địa bàn cố định; có hệ thống tổ chức hành chính ổn định hoạt động
theo Hiến pháp và pháp luật. Trong xã bao gồm các làng, xóm, thôn, bản, ấp,
buôn; phường chia thành khóm, tổ dân phố; thị trấn chia thành ấp.
Các xã, phường, thị trấn ở tỉnh Bạc Liêu có các đặc điểm nổi bật sau:
Thứ nhất, về chính trị
Xã, phường, thị trấn (cấp xã) tỉnh Bạc Liêu là đơn vị hành chính cuối
cùng trong hệ thống hành chính Nhà nước, là nơi trực tiếp thực hiện mọi nhiệm
vụ cụ thể về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng – an ninh.
Đồng thời, cũng là nơi khai thác hiệu quả mọi tiềm năng phục vụ cho xây dựng
và củng cố nền quốc phòng toàn dân, gắn thế trận quốc phòng toàn dân với thế
trận an ninh nhân dân. Cấp xã luôn giữ vai trò quyết định trong việc đưa mọi
chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống
Hiện nay, hệ thống chính trị cấp xã ở tỉnh Bạc Liêu được tổ chức rộng
khắp, khá chặt chẽ, hoạt động ngày càng có hiệu lực, hiệu quả. Đứng đầu cấp xã
Thứ hai, về kinh tế - văn hóa – xã hội
Do điều kiện địa lý tự nhiên và tổ chức hành chính, hiện nay cấp xã ở tỉnh
Bạc Liêu hình thành 3 vùng rõ rệt: xã vùng duyên hải, xã vùng đồng bằng (thuần
nông) và phường thị trấn. Theo đó, việc sản xuất, phát triển kinh tế ở các xã,
phường, thị trấn không thuần nhất. Các xã vùng duyên hải chủ yếu làm kinh tế
biển, đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản, làm muối, trồng rừng, dịch vụ du lịch
sinh thái,…các xã đồng bằng phát triển kinh tế chủ yếu trồng lúa, cây trái…Các
15
phường thị trấn chủ yếu là kinh tế chế biến, kinh doanh dịch vụ và nghề thủ
công.
Trong sự nghiệp đổi mới kinh tế ở các xã, phường, thị trấn tỉnh Bạc liêu
phát triển khá mạnh về số lượng, quy mô, song chủ yếu vẫn là loại hình kinh tế
sản xuất nhỏ, hộ gia đình, dịch vụ và nghề thủ công, chưa chuyển mạnh sang cơ
chế thị trường; kinh tế - xã hội giữa các xã, phường, thị trấn ở thành phố, thị xã
còn có sự chênh lệch lớn với các xã vùng sâu, vùng xa.
Về xã hội, cấp xã là địa bàn cư trú của một bộ phận nhân dân, có tính kết
cấu bền vững trong sinh hoạt cộng đồng, dòng họ, phong tục, tập quán, tín
ngưỡng, tâm thức khá đồng nhất. Song về mặt lịch sự, vùng đất Bạc Liêu hình
thành trên 200 năm. Do điều kiện đất đai và cấu tạo dân cư buổi đầu, Bạc Liêu
không giống các tỉnh miền Trung, miền Bắc. Dân cư không hình thành từ các
“ lũy tre làng”, “cha truyền con nối”. Dân cư Bạc Liêu đa số là dân “xiêu tán”
nghèo khổ “tha hương cầu thực” Họ định cư rải rác trên những gò đất cao, trên
các bờ sông. Người Kinh, Hoa, Khmer ở đan xen nhau, luôn tương trợ, đoàn kết
khi hoạn nạn, chân thành cởi mở, thích “làm ăn lớn”, phong cách ứng xử người
dân Bạc Liêu mang tính cách nông dân thôn dã chất phát, bộc trực.
Những năm gần đây đời sống văn hóa tinh thần của các xã, phường, thị
trấn có sự cải thiện, phát triển rõ rệt. Đến nay các xã, phường, thị trấn đã hoàn
chưa bảo đảm
* Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã tỉnh Bạc Liêu
Quan niệm về đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã tỉnh Bạc Liêu.
Cán bộ: Theo luật cán bộ, công chức năm 2008 “Cán bộ là công dân Việt
Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ
trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước, tổ chức chính trị xã hội
ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp
tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp
huyện) trong biên chế và hưởng lương theo ngân sách Nhà nước”. Cán bộ xã,
phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ
trong thường trực hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, bí thư, phó bí thư đảng
ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị xã hội. Cán bộ cấp xã bao gồm cả cán bộ,
công chức được luân chuyển, điều động về cấp xã. Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã
hội, quy mô, đặc điểm của địa phương, chính phủ quy định cụ thể số lượng cán bộ, công
chức cấp xã.
Cán bộ chủ chốt: Theo từ điển công tác Đảng, công tác chính trị Quân đội
nhân dân Việt Nam. “cán bộ chủ chốt, gọi chung là những người đứng đầu, giữ
các cương vị chỉ huy, lãnh đạo, quản lý một tổ chức, một đơn vị, một phong
trào, được bổ nhiệm hoặc do dân chủ bầu cử, được bố trí trong các cấp, các
17
ngành, các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang, các
tỉnh, thành từ Trung ương đến cơ sở”.
Đội ngũ cán bộ, theo Tổng cục chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ quân
đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đọan cách mạng mới, Nhà xuất bản
Quân đội nhân dân, H.2006, Tr.6 đã xác định: “Đội ngũ cán bộ là tập hợp những
người cán bộ thành một lực lượng có số lượng, cơ cấu, chất lượng (nghề nghiệp,
trình độ, thâm niên công tác, giới tính …) tương ứng với yêu cầu nhiệm vụ
1. Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả
đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ở địa phương
2. Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, công tâm thạo việc, tận tụy với
dân không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức kỷ
luật trong công tác. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân,
được nhân dân tín nhiệm
3. Có trình độ hiểu biết lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách và pháp luật của Nhà nước, có trình độ học vấn, chuyên môn, đủ
năng lực và sức khỏe để làm việc hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao
* Chức trách, nhiệm vụ, tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ chủ chốt cấp
xã ở tỉnh Bạc Liêu
- Đối với Bí thư, phó bí thư Đảng ủy, chi ủy thường trực đảng ủy xã,
phường, thị trấn.
Chức trách:Là cán bộ chuyên trách công tác Đảng ở Đảng bộ,chi bộ (nơi
chưa thành lập Đảng bộ) Xã, phường, thị trấn có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo
hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Đảng bộ, chi bộ, cùng tập thể
đảng ủy, chi ủy lãnh đạo toàn diện đối với hệ thống chính trị ở cơ sở trong việc
thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước
trên địa bàn xã, phường, thị trấn.
Nhiệm vụ của Bí thư
Nắm vững cương lĩnh Điều lệ Đảng và đường lối chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết và chỉ thị của cấp trên và chức
năng, nhiệm vụ của Đảng bộ, chi bộ cấp mình, nắm vững nhiệm vụ trọng tâm,
giải quyết có hiệu quả công việc đột xuất, nắm chắc và sát tình hình đảng bộ, tổ
chức Đảng trực thuộc và nhân dân trên địa bàn, chịu trách nhiệm chủ yếu về các
mặt công tác của đảng bộ.
Chủ trì các cuộc học của Ban chấp hành, Ban thường vụ và chỉ đạo việc
chuẩn bị xây dựng nghị quyết của Đảng bộ, của Ban chấp hành, Ban thường vụ
và tổ chức chỉ đạo thực hiện thắng lợi các nghị quyết đó.
thể chính trị - xã hội ở xã, phường, thị trấn, chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo tổ
chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của điều lệ của tổ chức đoàn
thể, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước
Nhiệm vụ:
Chuẩn bị nội dung, triệu tập và chủ trì các kỳ họp của tổ chức mình
20
Cùng tập thể Ban thường trực (UBMTTQ) Ban thường trực (4 tổ chức
đoàn thể) xây dựng chương trình kế hoạch công tác, hướng dẫn hoạt động đối
với Ban công tác Mặt trận, các chi hội đoàn thể ở thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố
Phối hợp với chính quyền, các đoàn thể cùng cấp vận động, hướng dẫn
cán bộ, đoàn viên, hội viên tổ chức mình, các tầng lớp nhân dân tham gia thực
hiện các chương trình kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, hiệp thương bầu cử
xây dựng chính quyền, thực hiện quy chế dân chủ tại xã, phường, thị trấn và các
phong trào thi đua của tổ chức mình theo chương trình, nghị quyết của tổ chức
chính trị - xã hội cấp trên tương ứng đề ra.
Tổ chức chỉ đạo việc học tập chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng
và pháp luật Nhà nước, các chủ trương nghị quyết đối với đoàn viên, hội viên
của tổ chức mình.
Chỉ đạo việc lập kế hoạch kinh phí, chấp hành, quyết toán kinh phí hoạt
động và các quyết định việc phân bổ kinh phí hoạt động do Nhà nước cấp đối
với tổ chức mình.
Tham mưu với cấp ủy Đảng ở xã, phường, thị trấn trong việc xây dựng
đội ngũ cán bộ của tổ chức mình.
Bám sát hoạt động các phong trào, định kỳ tổ chức kiểm tra, đánh giá và
báo cáo với cấp ủy cùng cấp và các tổ chức đoàn thể cấp trên về hoạt động của
tổ chức mình.
Chỉ đạo việc xây dựng quy chế hoạt động của Ban thường vụ, Ban chấp
Nhiệm vụ của Chủ tịch Hội đồng nhân dân
Triệu tập, chủ tọa các kỳ họp của Hội đồng nhân dân, phối hợp với
UBND trong việc chuẩn bị kỳ họp Hội đồng nhân dân; chủ trì trong việc tham
gia xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
Giám sát, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng
nhân dân.
Tổ chức tiếp dân, đôn đốc, kiểm tra việc giải quyết các kiến nghị, khiếu
nại, tố cáo của nhân dân.
Giữ mối liên hệ với đại biểu Hội đồng nhân dân, phối hợp công tác với
UB.MTTQVN cùng cấp, thông báo hoạt động của Hội đồng nhân dân với
UB.MTTQVN.
Báo cáo hoạt động của Hội đồng nhân dân lên Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân cấp huyện.
Chủ trì và phối hợp với UBND trong việc quyết định đưa ra và bãi nhiệm
đại biểu Hội đồng nhân dân theo đề nghị của UBMTTQVN cùng cấp.
Nhiệm vụ của Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân
22
Căn cứ vào nhiệm vụ của chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó chủ tịch Hội
đồng nhân dân tổ chức thực hiện các nhiệm vụ do Chủ tịch Hội đồng nhân dân
phân công cụ thể và thay mặt Chủ tịch Hội đồng nhân dân giải quyết công việc
khi chủ tịch Hội đồng nhân dân vắng mặt.
Tiêu chuẩn đối với Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân
Tuổi đời của Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân do chủ tịch
UBND cấp tỉnh quy định phù hợp với tình hình đặc điểm của địa phương nhưng
tuổi tham gia lần đầu phải bảo đảm làm việc ít nhất hai nhiệm kỳ.
Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông.
Lý luận chính trị: Có trình độ trung cấp lý luận chính trị đối với khu vực
chức nhà nước và trong bộ máy chính quyền địa phương cấp xã, tiếp dân, xét,
giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật,
giải quyết và trả lời các kiến nghị của UB.MTTQVN và các đoàn thể nhân dân ở
xã, phường, thị trấn.
Trực tiếp quản lý, chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ theo quy định của
pháp luật.
Tổ chức quản lý, điều hành hoạt động của trưởng, phó thôn, tổ dân phố
theo quy định của pháp luật.
Báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và UBND cấp trên
Triệu tập và chủ tọa phiên họp của UBND xã, phường, thị trấn.
Thực hiện việc bố trí sử dụng, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức cơ
sở theo sự phân cấp quản lý.
Đình chỉ hoặc bãi bỏ quy định trái pháp luật của trưởng thôn và tổ dân
phố.
Nhiệm vụ của Phó chủ tịch UBND.
Tổ chức quản lý, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ theo khối công việc (khối
kinh tế - tài chính, khối văn hóa – xã hội…) của UBND do chủ tịch UBND phân
công và những công việc do chủ tịch UBND ủy nhiệm khi chủ tịch UBND đi
vắng
Tiêu chuẩn đối với Chủ tịch và Phó chủ tịch UBND
Tuổi đời: Tuổi đời của Chủ tịch UBND và Phó chủ tịch UBND do Chủ
tịch UBND cấp tỉnh quy định phù hợp với tình hình đặc điểm của địa phương
nhưng tuổi tham gia lần đầu phải bảo đảm làm việc ít nhất hai nhiệm kỳ.
Học vấn: có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông.
Chính trị: Có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên đối với khu vực
đồng bằng; khu vực miền núi phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương
trình độ sơ cấp trở lên.
24
vào các quyết định của cấp ủy, ủy ban nhân dân, hội đồng nhân dân, mặt trận và
ban chấp hành của các tổ chức chính trị - xã hội. Trực tiếp quản lý, điều hành
25
họat động của các tổ chức và kiểm tra quá trình triển khai tổ chức thực hiện các
chủ trương, nghị quyết, kế hoạch, nhiệm vụ do cấp ủy, chính quyền mặt trận và
đoàn thể chính trị - xã hội đã đề ra; trực tiếp xây dựng nâng cao năng lực lãnh
đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, chi bộ và hiệu lực quản lý của ủy ban nhân dân;
đoàn kết, quy tụ, phát huy sức mạnh của các tổ chức, các lực lượng thực hiện
thắng lợi các chủ trương, nghị quyết của cấp ủy, chính quyền địa phương. Với
cương vị là người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở, có bản
lĩnh chính trị vững vàng, ý thức trách nhiệm cao đối với công việc; có kiến thức
và năng lực tổ chức thực tiễn, lối sống lành mạnh, có khả năng đoàn kết, phong
cách dân chủ, tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, được cán bộ đảng viên,
nhân dân tín nhiệm, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã sẽ là tấm gương sáng cho
cán bộ đảng viên, nhân dân ở cơ sở học tập. Với ý nghĩa ấy, đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã là nhân tố chủ yếu xây dựng bộ máy đảng, chính quyền và đoàn thể
chính trị - xã hội ở cơ sở vững mạnh toàn diện.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Bạc Liêu có vai trò quan
trọng, góp phần củng cố tăng cường mối quan hệ Đảng, Nhà nước và nhân dân
ở cơ sở.
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã khi thực hiện chức trách nhiệm vụ của
mình, hàng ngày, hàng giờ phải trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, phải giải quyết
nhiều vấn đề phát sinh trong cộng đồng dân cư và trong thực hiện các chính sách
của Đảng và Nhà nước đúng theo quy định. Đồng thời, phải đối mặt với các thế
lực và các phần tử xấu lợi dụng các vấn đề về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn
giáo chống phá ta từ cơ sở; Lập trường chính trị vững vàng, phương pháp, tác
phong khoa học, tỉ mỉ, thái độ giao tiếp cần mẫn, dịu dàng, khiêm tốn trong ứng
Sự chênh lệch về tuổi đời, tuổi nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ cấp xã là
vấn đề hiện hữu có tính khách quan do xuất phát điểm của mỗi người trước khi
được tổ chức thuên chuyển, điều động, bổ nhiệm, tuyển chọn vào những cương
vị cụ thể trong hệ thống chính trị cơ sở khác nhau, có người làm tổ trưởng tổ dân
phố, trưởng khóm, ấp, có người là chi hội trưởng chi hội phụ nữ, có người trong
Ban chấp hành Mặt trận Tổ quốc, có người mới công tác ở xã 1 năm, 2 năm, 5
năm, có người thâm niên công tác hơn 10 năm … Sự chênh lệch về tuổi đời,
kinh nghiệm thực tế, đồng nghĩa với việc chênh lệch về tuổi nghề và chênh lệch
về kiến thức năng lực toàn diện làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng chung
của cả đội ngũ.
Trình độ học vấn không đều là một đặc điểm làm chi phối việc bồi dưỡng
năng lực công tác của đội ngũ CBCCCX. Có người tốt nghiệp phổ thông trung
học nhưng chưa được trang bị kiến thức về khoa học lãnh đạo, quản lý. Những
cán bộ có bằng cử nhân lại thiếu kiến thức về lý luận chính trị, kinh nghiệm lãnh
27