LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã ở tỉnh Phú Thọ hiện nay - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
chính quyền cấp xã ở tỉnh Phú Thọ
hiện nay

mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định:
"Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của
Đảng, của đất nước, của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng" [18,
tr. 33].

kiến thức quản lý nhà nước. Theo đó năng lực lãnh đạo, năng lực tổ chức thực hiện
nhiệm vụ của cán bộ chính quyền cấp xã không ngừng được nâng cao, đáp ứng ngày
càng tốt hơn yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới, góp phần tạo nên chuyển biến trên
tất cả các mặt đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, an ninh, quốc phòng trên địa
bàn tỉnh.
Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ mới của đất nước, của địa phương thì đội
ngũ cán bộ chính quyền cấp xã còn nhiều bất cập. Trong năm 2001, ủy ban nhân dân
(UBND) tỉnh đã tổ chức thi chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn giỏi tỉnh Phú Thọ lần
thứ nhất. Qua cuộc thi cho thấy trình độ năng lực của đội ngũ chủ tịch UBND cấp xã
còn nhiều hạn chế bất cập, nhất là sự hiểu biết về pháp luật liên quan đến quản lý nhà
nước ở cấp xã, phường, thị trấn cũng còn nhiều hạn chế. Do những hạn chế đó, nên
trong quá trình quản lý khi gặp những tình huống, những vụ việc rắc rối không đề ra
được phương án giải quyết tối ưu. Cũng thông qua cuộc thi cho thấy có sự chênh lệch cả
về nhận thức, năng lực giữa chủ tịch UBND các xã miền núi so với các xã, phường, thị
trấn đồng bằng, thành phố, thị xã. Đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã của tỉnh hầu hết
chưa qua đào tạo cơ bản, chủ yếu là qua các lớp bồi dưỡng ngắn ngày. Những lúng
túng, va vấp, vi phạm trong công việc là điều khó tránh khỏi. Đây là một vấn đề rất lớn
đặt ra cho Phú Thọ về đào tạo để nâng cao trình độ năng lực cho đội ngũ cán bộ chính
quyền cấp xã. Bên cạnh những hạn chế do trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ chính

quyền cấp xã, một bộ phận không nhỏ cán bộ do tác động tiêu cực của kinh tế thị
trường, đã có biểu hiện suy thoái về phẩm chất, đạo đức, sống xa dân, quan liêu, hách
dịch, cửa quyền, mất dân chủ, tham nhũng, lãng phí, lợi dụng chức quyền làm trái các
nguyên tắc quản lý, bán và sang nhượng đất trái phép, thậm chí bớt xét tham ô tiền của
nhà nước, bị truy tố trước pháp luật gây tổn hại không nhỏ đến uy tín và làm giảm sút
lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Tình trạng khiếu kiện kéo dài, khiếu
kiện đông người vẫn còn. Bên cạnh đó, hoạt động của các đại biểu HĐND cấp xã còn
nhiều hạn chế. Năng lực, trình độ của các đại biểu HĐND cấp xã không đáp ứng được
yêu cầu, đòi hỏi của nhiệm vụ mà nhân dân giao cho.
Trong bối cảnh trên, cần có một sự nghiên cứu toàn diện về đội ngũ cán bộ

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001; Tiến sĩ Nguyễn Văn Sáu và giáo sư Hồ Văn
Thông chủ biên: "Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay" của Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001; Thạc sĩ Phạm Đức Thăng:
"Mấy suy nghĩ về việc củng cố tổ chức Đảng và chính quyền cấp xã hiện nay", Thông
tin Chính trị học, số 1(8)/2001; Phó giáo sư, tiến sĩ Hoàng Chí Bảo: "Một số vấn đề xử
lý nạn quan liêu, tham nhũng như một tình huống chính trị", Thông tin Chính trị học, số
2 (9)/2001; Tiến sĩ Nguyễn Văn Sáu và Giáo sư Hồ Văn Thông chủ biên: "Thực hiện
quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay", Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Phó giáo sư, tiến sĩ
Nguyễn Đăng Dung: "Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương", Nxb Đồng Nai,
1997.
Ngoài ra, một số bài viết, nghiên cứu được đăng trên các Tạp chí Thông tin
Chính trị học, Tạp chí Quản lý nhà nước, Nhà nước pháp luật như: Tiến sĩ Lê văn Hòe:
"Về hoàn thiện tổ chức bộ máy hệ thống chính trị ở các tỉnh miền núi ", Đề tài độc lập
cấp nhà nước: "Các giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị các tỉnh miền
núi", Hà Nội, 2002.

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đều đề cập vấn đề đội ngũ cán
bộ của chính quyền cấp xã, hoặc là ở dạng chung nhất hoặc đặt nó nằm trong phạm vi
nghiên cứu tổ chức hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã nói chung, chưa có công
trình nào đi sâu nghiên cứu có hệ thống dưới góc độ một luận văn khoa học về nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã ở một tỉnh cụ thể như đề tài luận văn lựa
chọn ở đây. Tuy nhiên, trong các công trình đã được công bố có những nội dung liên
quan đến đề tài sẽ được tác giả luận văn tham khảo có kế thừa, chọn lọc.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã của tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện
nay.
- Nhiệm vụ của luận văn

nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã. Đặc biệt làm rõ đặc điểm của
đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã ở một tỉnh trung du, miền núi như tỉnh Phú Thọ.
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng về chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp
xã của tỉnh Phú Thọ, luận văn đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã, đáp ứng nhiệm vụ cách mạng hiện nay đối
với một tỉnh trung du miền núi, có nhiều dân tộc, đa dạng các loại hình kinh tế như tỉnh
Phú Thọ.
- Luận văn có thể làm tư liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương, 8 tiết.

Chương 1
cƠ Sở lý luận về chất lượng
đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã

1.1. Chính quyền cấp xã và vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ chính quyền
cấp xã
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của chính quyền cấp xã
a) Khái niệm chung về chính quyền cấp xã
Trong hệ thống hành chính nước ta, chính quyền xã - phường - thị trấn (gọi
chung là cấp xã) là chính quyền cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp hoàn
chỉnh: Trung ương, tỉnh, huyện, xã.
Tính đến 19 tháng 4 năm 2002, nước ta có 10.579 đơn vị hành chính xã,
phường, thị trấn, trong đó có 8.964 xã, 573 thị trấn, 1.042 phường. Dưới xã, phường, thị
trấn có các cộng đồng dân cư tự quản; dưới xã có thôn, làng, ấp, bản, buôn. Dưới
phường, thị trấn có tổ dân phố, ở một số thành phố, thị xã giữa phường và tổ dân phố có
cụm dân cư, giữa xã và thôn có khu hành chính. Số lượng xã, phường, thị trấn trong
những năm qua không ổn định. Cùng với quá trình chia tách các tỉnh, huyện, việc thành

chính quyền 4 cấp ở Việt Nam, thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương, có chức
năng thay mặt nhân dân địa phương, căn cứ vào nguyện vọng của nhân dân địa phương,
quyết định và tổ chức thực hiện những vấn đề có liên quan đến phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đời sống của nhân dân địa phương, theo Hiến pháp,
pháp luật và các mệnh lệnh, quyết định của cấp trên.
b) Đặc điểm của chính quyền cấp xã
Chính quyền cấp xã có những đặc điểm sau:

Một là: Chính quyền cấp xã có HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương và UBND do HĐND bầu ra là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương. Vì thế, chính quyền cấp xã là cấp trực tiếp thực hiện
nhiệm vụ cụ thể về quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã
hội, an ninh quốc phòng ở cơ sở, là cầu nối trực tiếp giữa nhà nước và nhân dân, xử lý
trực tiếp, kịp thời những yêu cầu hàng ngày của nhân dân.
Hai là: Chính quyền cấp xã khác với chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện: Tổ chức
bộ máy chính quyền cấp xã chỉ bao gồm cơ quan quyền lực nhà nước là HĐND là cơ
quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân ở địa phương và UBND là cơ
quan chấp hành của HĐND và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, không có
các cơ quan tư pháp: Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân.
Ba là: Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp tiếp xúc với nhân dân; cán bộ chính
quyền cấp xã là người hàng ngày trực tiếp giải quyết những vấn đề liên quan đến mọi
quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân đảm bảo theo đúng đường lối, chính sách của Đảng
và pháp luật của Nhà nước, các văn bản pháp luật của cấp trên. UBND còn có trách
nhiệm rất nặng nề phải quản lý mọi mặt đời sống của nhân dân địa phương cho nên
trong hoạt động mang nhiều tính chất hành chính địa phương.
Bốn là: Trong hoạt động của chính quyền cấp xã, giữa HĐND và UBND khó
tách biệt nhau về các lĩnh vực thẩm quyền và UBND có ưu thế vượt trội: Chính quyền
cấp xã được coi là một cấp chính quyền hoàn chỉnh, bao quát toàn diện đời sống kinh tế,
văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa bàn cơ sở. Nội dung các nghị quyết của
HĐND và quyết định của UBND nhìn chung là giống nhau, chỉ khác ở chỗ: HĐND

lợi của cách mạng.
C. Mác, Ph. Ăngghen là người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học, là lãnh
tụ vĩ đại đầu tiên của phong trào cách mạng vô sản trên thế giới đã đưa ra những tư
tưởng, quan điểm cơ bản về tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ cán bộ. Song do
điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, chưa có một đảng vô sản nào giành được chính quyền nên

Mác và Ăngghen chưa thể bàn cụ thể về cán bộ và công tác cán bộ trong điều kiện Đảng
cầm quyền. Nhưng chính các ông đã trực tiếp bắt tay vào việc tuyển chọn, xây dựng đội
ngũ cán bộ cho tổ chức cộng sản có tính quốc tế đầu tiên là "ủy ban thông tin cộng sản".
Trong Đại hội "Liên đoàn những người cộng sản", Mác và Ăngghen đã nêu rõ nguyên tắc
tổ chức một đảng cách mạng của giai cấp vô sản là phải lựa chọn cho mình những đại
biểu công nhân giác ngộ nhất, tiêu biểu nhất theo phương châm: Cần phải sàng lọc từng
người một.
V.I. Lênin là người đã vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa
Mác trong điều kiện lịch sử cụ thể của nước Nga. Trong tác phẩm "Những nhiệm vụ bức
thiết của phong trào chúng ta", khi nói về vai trò của người lãnh đạo phong trào cách
mạng, Người đã chỉ rõ: "Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền
thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh đạo chính
trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào" [30, tr.
473].
Tổng kết những năm đầu của cách mạng (1917-1922), V.I. Lênin đã khẳng
định: "Nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh. Hiện nay đó là then chốt;
nếu không thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn" [33, tr.
449].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc" [39, tr.
269]; "công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt
hay kém".
Quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và qua thực tiễn cách mạng ở các
nước, các Đảng cộng sản và công nhân quốc tế đều chứng minh và khẳng định vai trò
quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ.

Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực
HĐND, UBND; Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy; người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội

xã, phường, thị trấn và những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên
môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã được gọi là cán bộ công chức nhà nước trong biên
chế, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy
định của pháp luật.
Cán bộ chính quyền cấp xã là bộ phận lớn nhất và rất quan trọng trong đội ngũ
cán bộ của bộ máy chính quyền ở nước ta. Họ vừa là người đại diện của nhân dân trong
quản lý hành chính nhà nước ở địa phương, vừa là người trực tiếp tổ chức thực hiện
quyền hành pháp và quản lý hành chính nhà nước, cũng như thực hiện các nhiệm vụ
quản lý và phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng ở địa
phương. Cán bộ chính quyền cấp xã đã có nhiều đóng góp, trưởng thành trong sự
nghiệp bảo vệ và xây dựng tổ quốc qua các thời kỳ cách mạng trước đây và hiện nay, họ
vẫn phát huy được những ưu điểm của mình.
Tuy nhiên, đứng trước những nhiệm vụ to lớn của giai đoạn đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, trước những hoàn cảnh và tình thế
mới, đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã cũng bộc lộ nhiều điểm bất cập cần phải nghiên
cứu khắc phục.
Trước hết, đó là mâu thuẫn giữa số lượng ngày một tăng của đội ngũ cán bộ
chính quyền cấp xã nhưng chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Đội ngũ cán bộ
chính quyền cấp xã tuy rất đông về số lượng nhưng không đủ sức đảm đương được
những công việc trong những điều kiện và tình hình mới của đất nước.
Theo quy định tại Nghị định số 174/CP của Chính phủ ban hành ngày
29/9/1994, cơ cấu của UBND xã, phường, thị trấn gồm có: 1 chủ tịch, 1 phó chủ tịch và
5 ủy viên ủy ban. Với khoảng 1 vạn đơn vị hành chính cấp xã, đội ngũ cán bộ chính
quyền cấp xã có số lượng khoảng 70.000 người.
Nghị định số 50/CP ngày 26/7/1995 quy định, ngoài số ủy viên ủy ban đã nêu
trên, các chức danh khác được bố trí phù hợp với yêu cầu của từng địa phương theo các
mức sau đây:

- xã hội phức tạp thì biên chế tối đa theo quy định là ít. Do đó, phát sinh tư tưởng muốn
chia tách thêm đơn vị hành chính để giảm nhẹ công việc, lại được tăng thêm biên chế
cán bộ. Đối với chức danh trưởng thôn, trưởng khu hành chính nếu làm kiêm thêm
chức danh bí thư chi bộ thì mức sinh hoạt phí chỉ được tính tăng thêm 1,5 lần (nếu làm
nguyên chức danh trưởng thôn, trưởng khu hành chính, bí thư chi bộ thì được hưởng
mức phụ cấp là 80.000/tháng. Nếu làm kiêm cả hai chức danh thì được hưởng mức phụ
cấp là 120.000/tháng). Do đó chưa kích thích được họ làm kiêm nhiệm cả hai chức
danh. Hầu hết các xã, phường, thị trấn đều có tình trạng tách riêng hai chức danh trưởng
thôn, trưởng khu hành chính và bí thư chi bộ để tăng thêm cán bộ và giảm nhẹ công
việc.
Phần lớn các bộ, ngành đều muốn có chân rết của mình xuống tận cơ sở để tiện
cho việc chỉ đạo, liên hệ, và yêu cầu cần có thêm chức danh trong cơ cấu chính quyền
và hợp thức hóa các chức danh đó. ý muốn này bắt gặp sự yếu kém về năng lực của cán
bộ cấp xã, sự lúng túng trong chỉ đạo của bộ máy chính quyền đã dẫn tới sự tăng nhanh
số lượng cán bộ ở cấp xã trong những năm qua, làm cho cơ cấu đội ngũ cán bộ chính
quyền cấp xã phình to, tạo gánh nặng cho ngân sách và làm giảm hiệu quả hoạt động
của chính quyền cấp xã. Bình quân mỗi xã có khoảng 190 cán bộ, trong đó có 90 cán bộ
nằm trong diện quy định của Chính phủ, 100 cán bộ do các bộ ngành ở Trung ương và
tỉnh quy định. ở một số xã, số lượng cán bộ được chi trả hàng tháng dưới các hình thức
sinh hoạt phí, hoạt động phí, phụ cấp từ các nguồn ngân sách và kinh phí khác nhau lên
tới 250 đến 280 định suất.
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo được nhân dân nhiệt liệt
hưởng ứng và hăng hái thực hiện, đã thu được những thành tựu rất quan trọng. Tại Hội
nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng ta đã chỉ ra 4 nguy cơ lớn của
đất nước: Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và toàn
thế giới; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan
liêu; nguy cơ "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Đồng thời, Hội nghị nhận

định "Công tác cán bộ vẫn là một khâu yếu. Đội ngũ cán bộ nhìn chung chưa ngang tầm
đòi hỏi của nhiệm vụ" [13, tr. 21].

lực và sự tín nhiệm của nhân dân địa phương. Chẳng hạn, các lớp đào tạo huấn luyện đã
qua; bằng cấp (kể cả ngoại ngữ, tin học) về chuyên môn, kỹ thuật, quản lý nhà nước,
pháp luật v.v ; độ tuổi; thâm niên công tác v.v
Chất lượng của đội ngũ cán bộ còn được đánh giá dưới góc độ khả năng thích
ứng, xử lý các tình huống phát sinh của người cán bộ, công chức đối với công vụ được
giao.
Công vụ là một hoạt động gắn liền với công chức, là một loại lao động đặc thù
để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước; thi hành pháp luật - đưa pháp luật vào đời
sống; quản lý và sử dụng có hiệu quả công sản và ngân sách Nhà nước phục vụ nhiệm
vụ chính trị.
Từ những góc độ khác nhau nêu trên, có thể đưa ra khái niệm chất lượng đội
ngũ cán bộ chính quyền cấp xã như sau: Chất lượng đội ngũ cán
bộ chính quyền cấp xã là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá phẩm chất đạo đức, trình độ, năng
lực và khả năng thích ứng, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao của họ.
Để đánh giá đúng thực trạng và xác định các giải pháp nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã cần phải xác định rõ những tiêu chí đánh giá
chất lượng đội ngũ cán bộ, cũng như hiểu rõ những yếu tố tác động đến chất lượng của
đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã.
1.2.2. Những tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ
Chất lượng của đội ngũ cán bộ được xác định trên cơ sở tiêu chí về phẩm chất
đạo đức, trình độ năng lực phù hợp với vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của đội ngũ

cán bộ, công chức nói chung và của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã nói riêng, về
khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Về phẩm chất đạo đức: Người cán bộ muốn xác lập được uy tín của mình trước
nhân dân, trước hết đó phải là người cán bộ có phẩm chất đạo đức tốt. Xây dựng các
tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ, công chức và hình thành ở họ các phẩm chất đạo
đức tương ứng với vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ là việc làm cần
thiết và cấp bách, nhất là trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước hiện nay. Trong bối
cảnh nền kinh tế thị trường đang có sự chuyển biến nhanh chóng và xã hội xuất hiện

được việc. Chớ vì bà con bầu bạn, mà kéo vào chức nọ, chức kia. Chớ vì sợ mất địa vị
mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình" [39, tr. 105].
Về trình độ năng lực: Năng lực là một khái niệm rộng, tùy thuộc vào môi
trường và trách nhiệm, vị thế của mỗi người, mỗi cán bộ trong những điều kiện cụ thể.
Năng lực là những phẩm chất tâm lý mà nhờ chúng con người tiếp thu tương
đối dễ dàng những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và tiến hành một hoạt động nào đấy một
cách có kết quả.
Năng lực là tổng hợp các đặc điểm phẩm chất tâm lý phù hợp với những yêu
cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định bảo đảm cho hoạt động đó đạt được kết quả.
Năng lực hình thành một phần dựa trên cơ sở tư chất tự nhiên của cá nhân, và một phần
lớn dựa trên quá trình đào tạo, giáo dục và hoạt động thực tiễn, cũng như tự rèn luyện
của cá nhân.
Năng lực ở con người có nhiều cấp độ khác nhau, ở cấp độ cao thì đó là tài năng
- thiên tài. Cần phân biệt sự kém hiểu biết với sự thiếu năng lực. Trong những điều kiện
bên ngoài như nhau, ở những con người khác nhau có thể tiếp thu những kiến thức, kỹ
năng và kỹ xảo với nhịp độ khác nhau. Có người tiếp thu nhanh chóng; có người phải

tốn nhiều thì giờ và sức lực; ở người này có thể ở mức điêu luyện, ở người khác chỉ ở
mức trung bình. Khi xem xét bản chất của năng lực, cần chú ý ba dấu hiệu cơ bản:
Một là, năng lực là sự khác biệt nhau về phẩm chất tâm lý cá nhân làm cho
người này khác người kia.
Hai là, năng lực là những khác biệt có liên quan đến hiệu quả của việc thực
hiện một hoạt động nào đó chứ không phải bất cứ những sự khác biệt chung chung nào.
Ba là, năng lực không phải được đo bằng những kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo
đã được hình thành ở một người nào đó. Năng lực chỉ làm cho việc tiếp thu các kiến
thức, kỹ năng và kỹ xảo trở nên dễ dàng hơn.
Có thể hiểu, năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để
thực hiện một hoạt động nào đó. Năng lực là những phẩm chất tâm lý, sinh lý tạo cho
con người có khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao. Mỗi con
người có khả năng trong một hoạt động nhất định nào đấy có ích cho xã hội. Nghiên

ngũ cán bộ chính quyền cấp xã.
Về khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao: Đội ngũ cán bộ chính quyền cấp
xã của nước ta hiện nay đông nhưng không mạnh. Do những hạn chế về trình độ văn
hóa, trình độ nghiệp vụ quản lý nhà nước, quản lý kinh tế đã dẫn tới hạn chế trong
năng lực quản lý điều hành công việc, lúng túng trong việc lập kế hoạch, trong việc xử
lý tình huống khi kế hoạch đưa ra không phù hợp thực tiễn. Xây dựng đội ngũ cán bộ
chính quyền cấp xã vừa phù hợp với công cuộc đổi mới của đất nước, vừa thuận theo ý
Đảng, lòng dân, trẻ hóa đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã là nhu cầu, là đòi hỏi khách
quan của sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới, làm cho đội ngũ cán bộ
tràn đầy sức sống. Đội ngũ cán bộ không được trẻ hóa thì thiếu sức sống, bảo thủ. Nơi
nào mà các cán bộ cấp trên biết lựa chọn và dìu dắt, có nhiều cán bộ mới ở đó công việc
tiến triển tốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: " cán bộ mới, vì công tác chưa lâu,
kinh nghiệm còn ít, có nhiều khuyết điểm. Nhưng họ lại có những ưu điểm hơn cán bộ
cũ; họ nhanh nhẹn hơn, thường giầu sáng kiến hơn" [39, tr. 237]. Đội ngũ cán bộ không

được tri thức hóa và chuyên môn hóa thì không thể hoàn thành nhiệm vụ. Cán bộ có tư
cách, tác phong tốt, phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, dám nói thật, dám bảo vệ
cái đúng, đấu tranh chống những tiêu cực, quan liêu, tham nhũng trong đội ngũ cán bộ.
Có mối quan hệ tốt với các đồng nghiệp và quần chúng nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy,
huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng"; Người yêu cầu: " Đảng phải nuôi dạy
cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu, phải trọng nhân tài,
trọng cán bộ, trọng mỗi người có ích cho công việc của chúng ta" [38, tr. 32].
Con người ta không phải là thánh hiền, ai có thể nói mình không có sai lầm,
nhưng cần tránh định kiến sẵn. Dùng một cán bộ lão thành, cũng có thể có những ý kiến
nhưng nhìn chung về cơ bản vẫn tương đối dễ dàng thông qua; nhưng đề bạt một cán bộ
trung niên hay thanh niên thì thường hay có những cái nhìn khắt khe hơn, việc thông
qua khó khăn hơn và nhất là thường cho rằng cán bộ trẻ chưa có đóng góp nhiều cho đất
nước.
Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến vấn đề

đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Có trình độ văn hóa,
chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc, đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ
mà tổ chức và nhân dân giao phó. Đặc biệt là đối với các cán bộ giữ cương vị chủ chốt
trong chính quyền cấp xã.
Cán bộ muốn làm được việc, thì phải được dân tin, dân phục, dân yêu và Người
cũng chỉ rõ: "Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời
sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực
hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc giây leo trời" [39, tr. 208].
Trong tác phẩm Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết, Khi xác
định nhiệm vụ xây dựng chính quyền hùng mạnh của giai cấp vô sản, Lênin đã chỉ rõ:
"Trong lịch sử, không có một phong trào nhân dân sâu sắc và mạnh mẽ nào diễn ra mà
lại không có một thứ bọt bẩn - những phần tử phiêu lưu và bịp bợm, những bọn khoe

Trích đoạn Quan điểm về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã 1 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã phải nhận Nhận thức đúng đắn vai trò của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã Tiến hành rà soát, đánh giá tổng thể đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã làm cơ sở cho công tác quy hoạch, đào tạo, sử dụng cán bộ hợp lý, khoa học Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã Tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của cán bộ chính quyền cấp xã
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status