xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
ở tỉnh Cà Mau hiện nay
H NI - 2009
MC LC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ
6
1.1. Quan niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của cán bộ, công chức cấp xã 6
1.2. Khái niệm, vai trò và nội dung xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã 18
1.3. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã - yêu cầu cấp bách
hiện nay 30
Chương 1: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC CẤP XÃ Ở TỈNH CÀ MAU
33
2.1. Những đặc điểm lịch sử, tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến
việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Cà Mau 33
2.2. Ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân của ưu, khuyết điểm trong
việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Cà Mau 43
Chương 3: MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP XÂY
DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở TỈNH
CÀ MAU HIỆN NAY
67
3.1. Mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Cà
Mau hiện nay 67
3.2. Những giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở
tỉnh Cà Mau hiện nay 72
KẾT LUẬN
then chốt trong công tác xây dựng Đảng”[16].
Đảng ta quan tâm đối với cán bộ, công chức là sự quan tâm toàn
diện, không chỉ cán bộ, công chức cấp cao, lãnh đạo, quản lý; cán bộ, công
chức ở cấp trung ương, tỉnh, huyện mà cả cán bộ công chức bình thường,
đặc biệt là cán bộ, công chức ở cơ sở, xã, phường, thò trấn; Văn kiện Đại
hội IX của Đảng đã nhấn mạnh việc nâng cao phẩm chất, năng lực của đội
ngũ cán bộ, công chức, trong đó xác đònh: “Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức với chương trình nội dung sát hợp; chú trọng đội ngũ cán
bộ xã, phường”[19, tr.217], Nghò quyết Trung ương 5 - khoá IX khẳng
đònh: “Xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động
nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm
thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng,
không ức hiếp; trẻ hoá đội ngũ, chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp
lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở” và tại Nghò quyết Trung
ương 6 - khoá X cũng đã xác đònh: “Thực hiện mạnh mẽ chủ trương trẻ
hoá, tiêu chuẩn hoá, thể chế hoá và từng bước nhất thể hoá chức danh cán
bộ; tạo bước chuyển có tính đột phá về xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức ở cơ sở”. Tổ chức thực hiện chủ trương trên, công tác xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức cấp xã đã đạt được những kết quả quan trọng, như
đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đã được chú trọng quy hoạch đào tạo,
bồi dưỡng, các chế độ chính sách ngày càng hoàn thiện; tăng thêm về mặt
số lượng, trình độ và kiến thức các mặt được nâng lên. Tuy nhiên, bên
cạnh đó công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vẫn là khâu
yếu kém: nội dung chương trình đào tạo còn bất cập; quy hoạch còn bị
động, chắp vá; chế độ, chính sách chưa thật sự thoả đáng… Chính điều này
dẫn đến một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức cơ sở phai nhạt lý
tưởng, giảm sút ý chí chiến đấu, suy thoái về đạo đức, lối sống, quan liêu,
tham nhũng, lãng phí…
Cấp xã (xã, phường, thò trấn) là một cấp trong hệ thống hành chính
bốn cấp của Nhà nước Việt Nam, là nơi trực tiếp thực hiện các chủ trương,
nghiên cứu và viết luận văn thạc só.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề cán bộ, công chức cấp xã đã được nhiều nhà khoa học quan
tâm nghiên cứu. Liên quan trực tiếp đến việc nâng cao chất lượng và quản
lý đội ngũ cán bộ, công chức có một số công trình:
- Đề tài khoa học cấp Bộ: Th.S Nguyễn Thế Vònh - Vụ Chính
quyền đòa phương - Bộ Nội vụ (2007), Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở theo
Nghò quyết Trung ương 5 (khoá IX), Hà Nội.
- TS. Thang Văn Phúc và TS. Nguyễn Minh Phương (đồng chủ
biên) (2001), Cơ sở lý luận thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ công chức,
Nxb Chính trò Quốc gia, Hà Nội.
- Lê Thò Lý (2003), Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã trước
yêu cầu đổi mới, Luận văn Thạc sĩ, Đại học quốc gia, Hà Nội.
- Dương Hương Sơn, Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức chính quyền cấp xã ở tỉnh Quảng Trò hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, Học
viện Chính trò Quốc gia Hồ Chí Minh.
Trần Tấn Tài, Đào tạo nguồn cán bộ quản lý hành chính nhà nước
cấp xã trên đòa bàn thành phố Cần Thơ - thực trạng và giải pháp, Luận văn
Thạc sĩ, Học viện Chính trò Quốc gia Hồ Chí Minh (2004).
Nguyễn Khắc Bộ, Nâng cao năng lực quản lý nhà nước của chính
quyền cơ sơ”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số tháng 3/2006.
Những tài liệu trên đây chừng mực nhất đònh đã đề cập đến một số
vấn đề lý luận về cán bộ, công chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
như: khái niệm cán bộ, công chức, một số nội dung về xây dựng cán bộ,
công chức; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức…
Đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu tương đối đầy
đủ và toàn diện về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của một tỉnh ở
đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Cà Mau nói riêng. Vì vậy, đề
tài nghiên cứu của luận văn không trùng với các công trình khoa học đã
được công bố. Mặc dù vậy, các công trình khoa học trên đây là tài liệu
6. Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn chỉ ra được những kết quả, tồn tại, hạn chế và nguyên
nhân tồn tại, hạn chế của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở
tỉnh Cà Mau sau khi tách tỉnh đến nay.
- Đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã tỉnh Cà Mau đến năm 2015.
7. Ý nghóa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Về lý luận, đề tài góp phần làm phong phú thêm lý luận về xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở đòa phương.
- Về thực tiễn, luận văn là tài liệu tham khảo có giá trò cho việc đònh ra
chủ trương, chính sách xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở tỉnh Cà Mau.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn gồm 3 chương, 8 tiếât.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ, CƠNG CHỨC CẤP XÃ
1.1. QUAN NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VỊ TRÍ, VAI TRỊ CỦA CÁN BỘ, CƠNG
CHỨC CẤP XÃ
1.1.1. Quan niệm về cán bộ, cơng chức
Trên thế giới có những quan niệm khác nhau về cán bộ, công chức.
Ở Cộng hoà Pháp, công chức gồm những người được tuyển dụng và bổ
nhiệm vào ngạch, làm việc ở các công sở trong cơ quan công quyền, tổ
chức phục vụ sự nghiệp công do Chính phủ Trung ương thống nhất quản lý
[44, tr.40]. Ở Inđônêxia, công chức là những người được tuyển dụng, bổ
nhiệm làm việc trong các công sở hành chính từ trung ương đến đòa
phương, ngoài ra còn có só quan cao cấp làm việc trong quân đội, những
người đứng đầu doanh nghiệp nhà nước. Ở Canada, công chức là những
người được tuyển dụng làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước (không
kể những người làm việc trong đơn vò hành chính sự nghiệp).
thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở
Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
c) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức
hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở Trung
ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
d) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức
hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà
nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
đ) Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân;
e) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà
không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm
việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan,
hạ sĩ quan chuyên nghiệp;
g) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong
Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng
uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi
chung là cấp xã);
h) Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn
nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã.
Cán bộ, công chức theo pháp luật Việt Nam phải đảm bảo tối thiểu các
điều kiện như phải là công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởng lương từ
ngân sách hoặc các nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, đối với công chức ở
các đơn vị sự nghiệp còn gọi là viên chức.
Pháp lệnh cán bộ, công chức không phân biệt rõ giữa cán bộ và công
chức nhưng các Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003
lại xác định công chức là những đối tượng sau:
Điều 2. Đối tượng điều chỉnh
Công chức nói tại Nghị định này là công dân Việt Nam, trong biên chế
và hưởng lương từ ngân sách nhà nước được quy định tại Điểm b, Điểm c,
2. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan,
đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà
không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản
lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong
biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ
lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Như vậy, Luật Cán bộ, công chức là một sự kế thừa và phát triển những
quy định trước đây về cán bộ, công chức. Khái niệm cán bộ, khái niệm công
chức đã được luật hoá. Luật Cán bộ, công chức có hiệu lực sẽ là cơ sở pháp lý
cơ bản để phân định rõ giữa cán bộ và công chức. Việc phân định rõ cán bộ,
công chức sẽ tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây
dựng các chính sách đối với cán bộ, công chức một cách phù hợp, phát huy
được vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam trong hệ
thống chính trị.
1.1.2. Quan niệm, đặc điểm cán bộ cấp xã
Sự nhận thức đối với quan niệm về cán bộ, công chức cấp xã ở Việt
Nam cũng nằm trong sự vận động chung của quan niệm về cán bộ, công chức
Việt Nam qua từng thời điểm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cụ
thể như đã phân tích ở mục 1.1.1 của luận văn. Bên cạnh đó, quan niệm về
cán bộ, công chức cấp xã có những đặc thù. Các quy định liên quan đến cán
bộ, công chức xã được điều chỉnh bởi các văn bản như Quyết định số
112/HĐBT ngày 15/10/1981 quy định về chức năng, nhiệm vụ của chính
quyền cấp xã; Thông tư 477/TCCP ngày 10/12/1981 hướng dẫn thực hiện
Quyết định số 112/HĐBT ngày 15/10/1981; Nghị định số 50/CP ngày
26/7/1995 quy định về số lượng và chế độ chính sách của cán bộ công tác
b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;
d) Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân và
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh.
Cán bộ không chuyên trách gồm:
a) Trưởng Ban Tổ chức đảng, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra đảng,
Trưởng Ban Tuyên giáo và 01 cán bộ Văn phòng Đảng uỷ;
b) Phó Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy);
c) Phó Chỉ huy trưởng quân sự;
d) Cán bộ kế hoạch - giao thông - thuỷ lợi - nông, lâm, ngư, diêm nghiệp;
đ) Cán bộ lao động - thương binh và xã hội;
e) Cán bộ dân số - gia đình và trẻ em;
g) Thủ quỹ - văn thư - lưu trữ;
h) Cán bộ phụ trách đài truyền thanh;
i) Cán bộ quản lý nhà văn hoá;
k) Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc; Phó các đoàn thể cấp xã:
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông
dân, Hội Cựu chiến binh;
l) Chủ tịch Hội Người cao tuổi; Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.
(Trích khoản 3, điều 2, Nghị định 121/2003/NĐ-CP ngày 23/10/2003
quy định về chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã).
Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã quy định cụ thể cán bộ và công
chức xã tại Điều 4 và Điều 61: là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức
vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí
thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội. Cán bộ
cấp xã có các chức vụ sau đây:
a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;
b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;
2. Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn,
nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã (gọi chung là công chức cấp xã),
gồm có các chức danh sau đây:
a) Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy);
b) Chỉ huy trưởng quân sự;
c) Văn phòng - Thống kê;
d) Địa chính - Xây dựng;
đ) Tài chính - Kế toán;
e) Tư pháp - Hộ tịch;
g) Văn hoá - Xã hội.
Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ
một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên
chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức cấp xã có các chức danh
sau đây:
a) Trưởng Công an;
b) Chỉ huy trưởng Qn sự;
c) Văn phòng - thống kê;
d) Địa chính - xây dựng - đơ thị và mơi trường (đối với phường, thị
trấn) hoặc địa chính - nơng nghiệp - xây dựng và mơi trường (đối với xã);
đ) Tài chính - kế tốn;
e) Tư pháp - hộ tịch;
g) Văn hóa - xã hội.
Như vậy, kể từ ngày 01/01/2010 thì các đối tượng là cán bộ, cơng chức
đã được xác định rõ và luật chỉ điều chỉnh đối với các chức danh cán bộ chủ
chốt, hay cán bộ chun trách. Các đối tượng là cán bộ khơng chun trách
theo Nghị định 121/2003/NĐ-CP chưa được Luật quy định.
Qua đó cho thấy đội ngũ cơng chức cấp xã có những đặc điểm sau:
Cơng chức xã theo quy định tại Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày
16/1/2004 của Bộ Nội vụ phải có trình độ chun mơn phù hợp từ trung cấp
trở lên. Chính từ quy định này nên cơng chức xã có sự đồng nhất và tương đối
đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã càng có ý nghóa quan trọng, đảm bảo cho
nhân dân biết và nắm được các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước, trên cơ sở đó sẽ tham gia, đóng góp vào việc thực hiện thắng lợi các
chủ trương, chính sách đó.
+ Để làm được điều đó, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phải tiến
hành nhiều hình thức, biện pháp khác nhau như thông qua các buổi tuyên
truyền, nói chuyện tại cuộc họp thôn, xóm, khu dân cư, tổ đoàn kết, trung
tâm học tập cộng đồng hoặc thông qua các buổi đối thoại trực tiếp với
nhân dân để giải quyết các vấn đề mới phát sinh như liên quan đến việc
bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng, quy hoạch… Đồng thời, nó còn
đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phải có những hiểu biết nhất
đònh về lý luận và am hiểu tình hình thực tế của đòa phương, cũng như nắm
bắt được đặc điểm, tâm lý của từng lớp dân cư thuộc phạm vi quản lý của
mình.
- Hai là, cán bộ, công chức cấp xã là người có vai trò rất quan trọng
trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, huy
động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng
đồng dân cư:
+ Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được nhân dân
nắm bắt, nhận thức mới chỉ là khởi đầu, điểm xuất phát để kiểm nghiệm
được tính đúng đắn của chủ trương, đường lối đó; điều kiện đủ là phải tổ
chức thực hiện trong thực tiễn; muốn làm được điều đó không có ai khác là
cán bộ, công chức cấp xã, bởi cán bộ, công chức cấp xã là người tiếp xúc
nhiều nhất, hiểu rõ nhất, giải quyết nhiều việc nhất của nhân dân.
+ Để thực hiện tốt vò trí, vai trò này; đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã phải có khả năng tổ chức, bố trí, sử dụng, tập hợp và lôi cuốn mọi
người vào hoạt động; phải có khả năng xử lý các tình huống phát sinh, đó là
các tình huống về tài chính, về thiên tai, đòch họa, do va chạm xóm giềng,
dòng tộc, tình huống nảy sinh khi ra những quyết đònh sai trái với cấp trên…;
xã hội như Bộ Luật dân sự, Bộ Luật hình sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Hôn
nhân và gia đình, Luật Cư trú, Luật Phòng chống tham nhũng…
Tóm lại, bất cứ ở đâu và lúc nào, đội ngũ cán bộ, công chức cũng
có vò trí, vai trò hết sức to lớn; với tư cách là một bộ phận quan trọng,
chiếm số lượng tương đối lớn thì đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vò
trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với chế độ, sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
1.2. KHÁI NIỆM, VAI TRỊ VÀ NỘI DUNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ, CƠNG CHỨC CẤP XÃ
1.2.1. Khái niệm, vai trò của của việc xây dựng đội ngũ cán bộ,
cơng chức cấp xã
Khái niệm từ “xây dựng”: Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt của
Nguyễn Như Ý thì từ “xây dựng” có 3 nghĩa chính: Làm nên, gây dựng nên;
tạo ra các giá trị tinh thần có nội dung nào đó; thái độ, ý kiến có tinh thần
đóng góp, làm tốt hơn, thái độ xây dựng [85, tr.1856].
Để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung, cán bộ, công
chức cấp xã nói riêng có chất lượng thì phải trải qua nhiều khâu, nhiều
công đoạn khác nhau, từ việc xác đònh chủ trương, mục tiêu, đến việc xây
dựng tiêu chuẩn, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố
trí, sử dụng, xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ. Quá trình đó được
coi là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức.
Như vậy, có thể hiểu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là
toàn bộ các mặt công tác, hoạt động, từ việc xác đònh mục tiêu đến xây
dựng và thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức, được tiến hành
bởi các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, nhằm tạo nên một đội
ngũ cán bộ, công chức cấp xã đồng bộ, có số lượng và cơ cấu hợp lý, có
phẩm chất chính trò, đạo đức, trình độ, năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
chính trò ở cơ sở trong từng giai đoạn cách mạng.
Từ khái niệm này, ta có thể thấy xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã có một số đặc điểm sau:
có phẩm chất chính trị đạo đức, lối sống tốt; có trình độ và năng lực chun
mơn đáp ứng u cầu nhiệm vụ chính trị ở cơ sở trong từng giai đoạn cách
mạng.
- Mục tiêu cụ thể:
Một là: Tạo ra một đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có số lượng,
cơ cấu hợp lý:
+ Tính hợp lý trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã biểu hiện ở việc tinh giản biên chế một cách tối ưu, đảm bảo gọn nhẹ,
hoạt động có chất lượng, trong đó mỗi cá nhân cán bộ, công chức phát huy
được hết năng lực, sở trường của mình, có thể đảm đương tốt nhiệm vụ
được giao, đảm bảo cho bộ máy hoạt động thông suốt và hiệu quả. Tính
hợp lý còn biểu hiện ở chỗ số lượng cán bộ, công chức không qúa đông,
nếu không sẽ gây dư thừa, lãng phí nguồn nhân lực, đồng thời cũng không
quá ít, vì nó tạo ra sức ép lớn trong công việc, gây ra sự mệt mỏi, căng
thẳng trong cán bộ, công chức.
+ Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã sẽ tạo ra một đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã có cơ cấu hợp lý, đó là sự cân đối giữa các thành
phần dân tộc, giai cấp, nghề nghiệp, giới tính, độ tuổi; sự hợp lý đó sẽ tạo
nên sức mạnh tổng hợp, tính năng động, phối hợp nhòp nhàng, hài hòa và
sự kế thừa, phát triển trong đội ngũ cán bộ, công chức; đặc biệt hiện nay
với chủ trương của Đảng và Nhà nước là tăng tỷ lệ trẻ, tỷ lệ nữ trong đội
ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thì công tác này sẽ biến chủ trương đó
thành kết quả trong thực tế.
Hai là: Tạo ra một đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có phẩm chất
chính trò, đạo đức, lối sống tốt:
+ Về phẩm chất chính trò: Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có
lòng yêu nước sâu sắc, kiên đònh mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghóa xã hội; chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước, quyết tâm tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới. Có bản lónh
chính trò vững vàng, không dao động trước những khó khăn, thách thức và
cái gì cả” [48, tr.253] và Lênin cũng cho rằng: “Lòng trung thành được kết
hợp với năng lực hiểu biết về con người, về năng lực giải quyết những vấn
đề tổ chức, thì chỉ có lòng trung thành đó mới có thể rèn luyện ra những tổ
chức lớn” [dt 13, tr.20].
Đối với Hồ Chí Minh, bên cạnh những đòi hòi về đạo đức cách
mạng, Người còn chú trọng đến việc nâng cao trình độ năng lực đối với
cán bộ, công chức, Người đã nói: “Năng lực của con người không phải
hoàn toàn tự nhiên mà có, mà phần lớn do công tác, do luyện tập mà có”
[53, tr.21]. Như vậy, năng lực khôg phải là phẩm chất bẩm sinh, mà phải
thông qua một quá trình rèn luyện, phấn đấu trong học tập, đặc biệt trong
hoạt động thực tiễn.
Vì vậy, bên cạnh những yêu cầu về phẩm chất chính trò, đạo đức,
lối sống thì xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phải tạo ra được