DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNH, HĐH
Hệ thống chính trị
HTCT
Hội đồng nhân dân
HĐND
Hội nhập quốc tế
HNQT
Mặt trận tổ quốc
MTTQ
Nhà xuất bản
Nxb
Quốc phòng - An ninh
Thực trạng chất lượng và một số kinh nghiệm nâng cao chất
13
42
lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Sóc Trăng
Chương 2
YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ Ở
70
2.1.
TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY
Những yếu tố tác động và yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay
Những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt
70
2.2.
cấp xã ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
78
106
Trăng đã có bước trưởng thành về nhiều mặt, cả về phẩm chất, trình độ, năng
3
lực, phong cách, phương pháp, tác phong công tác, góp phần vào xây dựng
HTCT và bộ máy chính quyền ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, giữ vững ổn
định chính trị, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện các nhiệm vụ
khác ở địa phương. Tuy nhiên, so với yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế,
văn hóa - xã hội, QP-AN của địa phương thì đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã,
tỉnh Sóc Trăng còn bộc lộ không ít những bất cập, hạn chế cả về phẩm chất,
trình độ, năng lực cũng như phong cách, phương pháp, tác phong công tác,
theo đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ hoàn thành nhiệm vụ.
Xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp CNH,HĐH xây dựng và nhiệm vụ
bảo vệ tổ quốc XHCN, trước yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
xã trong hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện và từ yêu cầu đòi hỏi nhiệm
vụ phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, QP-AN của địa phương trong tình hình
mới. Chính vì thế, để xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị
cấp xã, tỉnh Sóc Trăng đáp ứng được nhiệm vụ của địa phương mới nổi lên
như một đòi hỏi khách quan mang tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Vì
vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “Chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở
tỉnh Sóc Trăng hiện nay” mang tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề cán bộ nói chung và công tác cán bộ nói riêng đã được nhiều
học giả quan tâm. Đã có nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu về
vấn đề này, trong đó công tác xây dựng cán bộ cơ sở là nội dung được các nhà
lãnh đạo, các cấp ủy đảng và nhiều nhà khoa học nghiên cứu ở những góc độ
và phạm vi khác nhau đã được công bố.
Thời gian qua, đã có một số công trình, đề tài nghiên cứu liên quan đến
công tác xây dựng cán bộ, công chức nói chung, xây dựng cán bộ chủ chốt xã,
phường, thị trấn, quận, huyện, tỉnh… mà tác giả đã tìm hiểu, thống kê được,
5
về khả năng làm việc, môi trường làm việc, cũng như khẳng định rõ quá trình
hình thành đội ngũ cán bộ chủ chốt để chủ động trong tạo nguồn cán bộ kế
cận và đề xuất những phương án, những chế độ chính sách nhằm tạo điều kiện
cho đội ngũ cán bộ chủ chốt chủ động hơn trong các quyết định phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh. Nó là cơ sở để Đảng ta rút ra
những bài học cho giai đoạn tiếp theo, giai đoạn đổi mới đất nước, thực hiện
CNH,HĐH và HNQT.
Các đề tài này bước đầu đi vào nghiên cứu xác định cơ cấu và tiêu
chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong HTCT thời kỳ đổi mới, xây dựng đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vùng nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long hiện
nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ với việc nâng cao năng lực
lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh
đạo chủ chốt cấp tỉnh, cấp huyện trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất
nước. Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt có tầm quan trọng trong sự
nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay, quyết định phát triển kinh tế, chính trị, văn
hóa - xã hội, QP-AN tại địa phương. Là vấn đề rộng lớn và phức tạp, cần
được tiếp tục đi sâu nghiên cứu. Đặc biệt là chất lượng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã cũng chưa có công trình nào đề cập một cách có hệ thống dưới
góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước.
- Nhóm đề tài về xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán
bộ chính quyền cơ sở gồm có:
Vũ Thị Nghĩa, Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính
trị các xã ở tỉnh Đồng nai trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sỹ, Hà
Nội, 2004.
Phạm Thị Thúy Vân, Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp phường ở
thành phố Cần Thơ hiện nay - Thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sỹ
Khoa học Chính trị, 2005.
cho địa phương tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Nhìn chung, các đề tài này đều có đề cập đến vấn đề đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp xã, nhưng cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu khoa
học nào làm nỗi bậc chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, làm rõ việc
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Sóc Trăng và
việc đánh giá sâu sắc thực trạng chất lượng cũng như kinh nghiệm nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Sóc Trăng để phát
huy vai trò của đội ngũ này trong quá trình phát triển kinh tế , chính trị, văn
hóa - xã hội, QP-AN tại địa phương. Vì vậy, vấn đề chất lượng đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp xã trong sự nghiệp CNH,HĐH đất nước và HNQT ở Sóc
Trăng hiện nay rất cần được quan tâm nghiên cứu.
- Ngoài ra, một số bài viết, nghiên cứu được đăng trên các Tạp chí
như:
Trương Minh Nguyệt, Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã ở Lạng Sơn,
Tạp chí Xây dựng Đảng, số 4/2012.
Phúc Sơn, Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã, Tạp chí Xây
dựng Đảng, số 5/2012.
Lê Ngọc Xuyên, Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở
ở Tây Nguyên, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 1 + 2/2014.
Trần Minh Quế, Nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán
bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn ở Bắc Giang, Tạp chí Xây dựng Đảng, (9),
2007.
Vũ Thị Phương, Phó trưởng Ban Tổ chức Tỉnh uỷ, Nâng cao chất lượng
cán bộ, công chức cơ sở ở Hải Dương, Tạp chí Xây dựng Đảng số 9/2010.
8
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải làm rõ một số vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn chất lượng
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích làm rõ một số vấn đề cơ bản chất lượng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay.
- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ những nguyên nhân và rút ra một số
kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Sóc
Trăng.
- Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
xã ở tỉnh Sóc Trăng.
* Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp xã ở tỉnh Sóc Trăng.
- Phạm vi nghiên cứu, khảo sát tập trung ở 104 xã, phường, thị trấn của
tỉnh Sóc Trăng. Thời gian và các số liệu điều tra, khảo sát từ năm 2010 đến
nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Cơ sở lý luận
10
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm, đường lối, chính sách của
Luận văn gồm phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ
Ở TỈNH SÓC TRĂNG
12
1.1. Đội ngũ cán bộ chủ chốt và những vấn đề cơ bản về chất lượng
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Sóc Trăng
1.1.1. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Sóc Trăng
* Khái quát tỉnh Sóc Trăng
- Đặc điểm vị trí địa lý
Sóc Trăng thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, giáp tỉnh Cần Thơ ở
phía Bắc và Tây Bắc, giáp Bạc Liêu ở phía Tây Nam, giáp Trà Vinh ở phía
Đông Bắc và giáp biển Đông ở phía Nam. Là một tỉnh cận cực Nam của Tổ
quốc có diện tích tự nhiên là 3.311,6 km 2, gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 8
huyện. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Sóc Trăng.
Địa hình dân cư tỉnh Sóc Trăng với mật độ dân số là 395 người/km 2
sinh sống dọc theo các giồng đất cao, các trục lộ giao thông thủy và giao
thông bộ với đường bờ biển dài 72 km và 03 cửa sông lớn: Định An, Trần Đề,
Mỹ Thanh đổ ra Biển Đông, hệ thống sông ngòi chằn chịt, có 4 Quốc lộ:
Quốc lộ 1A, Nam Sông Hậu, Quản lộ Phụng Hiệp và Quốc lộ 61 đi ngang
qua, khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm với 2 mùa mưa và mùa nắng rõ rệt với cấu
tạo địa hình đồng bằng có 2 vùng ngọt, mặn ven biển. Nằm trong vùng nhiệt
đới gió mùa, khí hậu Sóc Trăng chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5
đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ bình quân
khoảng 27,30C, lượng mưa trung bình đạt 1.500-1.800mm/năm, số giờ nắng
hệ rừng ngập mặn ven biển và rừng tràm ở khu vực đất nhiễm phèn.
Tài nguyên khoáng sản: Những kết quả thăm dò bước đầu cho thấy có
triển vọng về khai thác dầu và khí đốt tại vùng thềm lục địa ngoài khơi gần
Sóc Trăng.
- Về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, QP - AN tỉnh Sóc Trăng
+ Về kinh tế
Kinh tế truyền thống của người dân Sóc Trăng bao gồm cả nghề nông,
nghề khai thác biển, nuôi trồng và chế biến thủy sản và các loại hình chế biến,
dịch vụ khác. Hình thái kinh tế đó đã giúp cho đời sống của người dân Sóc
Trăng phát triển khá phồn thịnh. Là vùng đất phù sa nằm cuối nguồn dòng
Cửu Long với ba vùng sinh thái: ngọt, lợ và mặn, Sóc Trăng đang tập trung
14
khai thác 2 thế mạnh, mang tính đột phá là cây lúa chất lượng cao với kinh
tế vườn và thuỷ, hải sản. Là tỉnh thuần nông nên Sóc Trăng đặc biệt chú ý
chuyển đổi kinh tế trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá, với cơ cấu cây
trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá phục vụ công nghiệp chế biến
và xuất khẩu, kết hợp khai thác dịch vụ - du lịch.
Sóc Trăng là một tỉnh có bờ biển dài so với các tỉnh trong khu vực và
cả nước nên ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tình trạng nước mặn xâm nhập
ngày càng sâu trong đất liền làm cho việc phát triển nông nghiệp, thu hút đầu
tư, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng hàng hóa… gặp nhiều
khó khăn. Kinh tế Sóc Trăng khá thấp so với mặt bằng chung của cả nước
(năm 2014, GDP của Sóc Trăng là 10,04%), thu nhập bình quân đầu người
tăng chậm và còn thấp (năm 2010 là 21,4 triệu đồng/người, năm 2014 là
34,30 triệu đồng/ người). Trong khu vực miền Tây Nam bộ tỷ lệ này năm
2010 là 13,8% và 26 triệu đồng/người/năm. Điều đó, ảnh hưởng nhiều đến
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trong đó có đội ngũ cán bộ nói
nơi thành lập chi bộ đảng đầu tiên của tỉnh Hậu Giang cũ, là quê hương của
những con người tài năng, có học thức uyên thâm như nhà bác học Lương
Định Của, anh hùng Trần Văn Bảy, Huỳnh Cương, Mai Thanh Thế... Đặc
biệt, trong hai cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ, quân và dân Sóc Trăng đã chiến đấu anh dũng và đầy sáng tạo, góp phần
to lớn vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc. Sóc Trăng cũng là một trong những
tỉnh bị chiến tranh tàn phá nặng nề nhất ở Miền Nam. Trải qua cuộc chiến đấu
ác liệt, Sóc Trăng đã gánh chịu những hậu quả hết sức nặng nề, nhất là về mặt
xã hội, với hơn 15.307 liệt sĩ, 6.483 thương binh, 1.810 Bà mẹ Việt Nam anh
hùng (hiện còn sống là 266 mẹ), gần 1.151 người bị nhiễm chất độc hoá học
và địch bắt tù đài.
Dân số 1.303.700 người, bao gồm 3 dân tộc chính là Kinh, Hoa,
Khmer. Mật độ 395 người/km2. Sóc Trăng có nhiều tôn giáo và thờ cúng tín
ngưỡng dân gian. Tín đồ Phật giáo, Thiên chúa giáo chiếm số đông, còn lại là
Tin lành, Tịnh độ Cư sĩ, Cao Đài, Hòa Hảo… Người kinh thường theo Phật
16
giáo Bắc Tông, người Hoa theo Phật giáo Hoa Tông, người Khmer theo Phật
giáo Nam Tông.
Phát huy truyền thống quê hương, Đảng bộ và nhân dân Sóc Trăng
không ngừng phấn đấu, vượt thắng khó khăn, thực hiện tốt công tác đền ơn
đáp nghĩa với tinh thần “uống nước nhớ nguồn” gắn liền với cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” (Đặc biệt là
“Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh” tại Cù Lao Dung, được xem là một trong
những nơi được cây dựng đầu tiên trong cả nước). Vì vậy, đời sống nhân dân
từng bước được cải thiện và ngày càng nâng cao; công tác y tế, vệ sinh, chăm
sóc sức khoẻ của nhân dân được quan tâm đúng mức, an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội được giữ vững. Sóc Trăng đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu
đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt
chính sách cho đúng” [11, tr.269].
Vì vậy quan niệm cán bộ cần được hiểu là: những người có chức vụ
lãnh đạo, quản lý, chỉ huy được bầu, được bổ nhiệm hoặc có chuyên môn
nghiệp vụ, hoạt động trong các ngành, các lĩnh vực khác nhau, giữ trọng
trách trong một tổ chức, cơ quan, đơn vị; có tác động, ảnh hưởng quan trọng
đến sự phát triển của tổ chức, cơ quan, đơn vị đó.
- Cán bộ chủ chốt là những người nắm các chức vụ chủ chốt của tổ
chức Đảng, các ban, ngành, đoàn thể của các bộ, ngành chuyên môn. Ở nước
nào và vào thời điểm nào cũng vậy, sự thành bại của mọi sự nghiệp hay sự tồn
vong, thịnh suy của mọi quốc gia, chế độ đều phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ
cán bộ nói chung, trong đó đặc biệt quan trọng là cán bộ chủ chốt.
Quan niệm đội ngũ cán bộ chủ chốt: “là những người có chức vụ,
nắm giữ các vị trí quan trọng nhất, có tác dụng làm nồng cốt trong các tổ
chức thuộc hệ thống bộ máy của một cấp nhất định; những người được giao
đảm đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều hành bộ máy
thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm trước cấp trên và
cấp mình về lĩnh vực công tác được giao”.
- Đội ngũ cán bộ chủ chốt có những đặc trưng cơ bản như sau:
18
+ Đội ngũ cán bộ chủ chốt là người có vị trí quan trọng, giữ vai trò
quyết định trong việc xác định phương hướng, mục tiêu, phương pháp công
tác; đề ra các quyết định và tổ chức thực hiện tốt các quyết định của cấp mình
hoặc cấp trên giao. Kiểm tra, giám sát, kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những biểu
hiện lệch lạc; bổ sung, điều chỉnh kịp thời những giải pháp mới khi cần thiết; đúc rút
kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn chỉnh lý luận. Đồng thời, đội
ngũ cán bộ chủ chốt còn là người giữ vai trò đoàn kết, tập hợp, phát huy sức
mạnh của quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và xây dựng nội
trực tiếp gần gũi, gắn bó với nhân dân, sống, làm việc và hàng ngày có mối
quan hệ chặt chẽ với dân. Họ thường xuyên lắng nghe, tham khảo ý kiến của
nhân dân. Trong quá trình triển khai, vận động, dẫn dắt nhân dân thực hiện
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp có chức năng tạo ra cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân
dân. Thông qua họ mà ý Đảng, lòng dân tạo thành một khối thống nhất, làm cho
Đảng, Nhà nước “ăn sâu, bám rễ” trong quần chúng, tạo nên quan hệ máu thịt
giữa Đảng với nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước
và chế độ. Như vậy, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước có đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực sinh động hay không, tùy
thuộc phần lớn vào sự tuyên truyền và tổ chức vận động nhân dân thực hiện
của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã.
Nhiệm vụ: Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã có nhiệm vụ tổ chức thực
hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
tại địa phương. Là những người có nhiệm vụ giữ vai trò trụ cột, có tác dụng
chi phối mọi hoạt động tại cơ sở, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã không những
phải nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của các tổ chức Đảng, Nhà
nước, đoàn thể cấp trên để tuyên truyền, phổ biến, dẫn dắt, tổ chức cho quần
chúng thực hiện mà còn phải am hiểu sâu sắc đặc điểm, tình hình của địa
phương để đề ra những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể hóa đường lối, chủ trương
chính sách ấy cho phù hợp với điều kiện đặc thù của cơ sở.
20
Quyền hạn: Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là lực lượng cán bộ cấp cơ
sở trong hệ thống chính trị nước ta, là những người thay mặt Đảng, Nhà nước
trực tiếp lãnh đạo, quản lý xã hội đến tận người dân, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân, bảo đảm mọi quyền lợi của công dân, chăm lo đời sống vật chất
và tinh thần của họ, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi mọi
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, động
thành và hoạt động trên mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, kiên cường,
bất khuất… Cho nên, họ thừa hưởng những giá trị tốt đẹp đó, giữ gìn và phát
huy trong công tác cũng như rèn luyện phẩm chất đạo đức của mình. Tuy
nhiên, khách quan mà nói, đặc điểm này cũng dễ phát sinh những “thứ bệnh”
mà trước đây Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói, nhất là bệnh công thần,
“kiêu ngạo cộng sản”, ỷ lại, tự mãn,…
Đại bộ phận là người dân tại địa phương gắn liền với điều kiện sản
xuất, kinh doanh ở gia đình, địa phương, được đào tạo, bồi dưỡng một cách
cơ bản và có tư duy, nhạy bén, năng động, sáng tạo trong lãnh đạo, điều hành,
quản lý, tiếp cận trình độ khoa học - kỹ thuật và những vấn đề mới rất nhanh.
Đồng thời, họ được kế thừa truyền thống cách mạng của cha ông và được sự
giúp đỡ, hướng dẫn của thế hệ cán bộ đi trước, nên trưởng thành nhanh
chóng, trở thành nguồn bổ sung cán bộ lãnh đạo cao hơn ở cơ sở hoặc cho
huyện, thị xã, thành phố và cho tỉnh Sóc Trăng.
Ngoài những tính cách chung của người đồng bằng sông Cửu Long,
do đan xen và kết tụ nhiều phong tục, tập quán của miền Bắc, miền Trung,
của người Việt, người Khmer, người Hoa, cùng với sự hình thành lâu đời, con
người của vùng đất Sóc Trăng có nhiều phẩm chất đáng quý thể hiện rất đậm
nét trong đội ngũ cán bộ. Đó là bình dị, chân chất, trọng nghĩa, trung thực,
thẳn thắn; kiên cường, bất khuất, dũng cảm trong đấu tranh; đoàn kết, hòa
nhập trong cộng đồng; tinh thần dám nghĩ, dám làm, cần cù sáng tạo trong lao
động, mạnh dạn tiếp thu cái mới, nhạy bén với thị trường, năng động trong
cách làm ăn; gắn bó, quý trọng và có ý thức gìn giữ mảnh đất làng quê của
mình... đã được hình thành rõ nét ở người dân Sóc Trăng. Nó tạo điều kiện
22
cho sự xuất hiện những cán bộ năng động, tháo vát, biết quản lý, nhạy bén với
cơ chế thị trường.
Hai là, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã đại bộ phận là cấp uỷ viên cơ
dân, do nhân dân “ủy thác” trách nhiệm.
Ba là, cơ cấu đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Sóc Trăng không
đồng bộ, tỷ lệ cán bộ nữ, người dân tộc thiểu số đạt thấp
Về cơ cấu đội ngũ, mặc dù Tỉnh ủy rất quan tâm đến quy hoạch, đào tạo
đội ngũ cán bộ chủ chốt trẻ, nữ, dân tộc. Nhưng tỷ lệ nữ đạt rất thấp (nữ
208/1.181, chiếm 17,61%). [Phụ lục 03]. Tỷ lệ nữ tham gia làm công tác đảng,
quản lý nhà nước còn thấp (toàn tỉnh có 50 đồng chí là Bí thư, Chủ tịch, Phó Chủ
tịch UBND xã, phường, thị trấn, 158 đồng chí là Chủ tịch MTTQ và các đoàn
thể). Về cơ cấu độ tuổi được các cấp uỷ đảng quan tâm, qua mỗi nhiệm kỳ Đại hội
Đảng và bầu cử HĐND, UBND, các đoàn thể quần chúng đều có định hướng về
cơ cấu độ tuổi mang tính kế thừa liên tục. Tuy nhiên, lực lượng cán bộ trẻ đến nay
vẫn còn thấp, dưới 30 tuổi chỉ chiếm 8,89 % (chủ yếu là lực lượng Đoàn thanh
niên và Hội Liên hiệp phụ nữ). Tỷ lệ cán bộ chủ chốt là đồng bào dân tộc có
112/1.181 đồng chí, chiếm 9,48 %. [Phụ lục 03].
Bốn là, đại bộ phận đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Sóc Trăng
được đào tạo, bồi dưỡng một cách cơ bản, toàn diện, có phẩm chất đạo đức
tốt, đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ…
Đại bộ phận đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã trên địa bàn tỉnh Sóc
Trăng được rèn luyện, trưởng thành từ thực tiễn địa phương; được đào tạo,
bồi dưỡng một cách cơ bản, toàn diện, có phẩm chất đạo đức tốt, đủ năng lực
hoàn thành nhiệm vụ; về chuyên môn nghiệp vụ đã qua đào tạo, bồi dưỡng
chiếm tỷ lệ khá cao 69,26%; tỷ lệ được đào tạo tin học, ngoại ngữ đồng đều, đạt
54,19%). % [Phụ lục 04]. Từ đó, khả năng hoàn thành nhiệm vụ điều hành, quản
lý thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở. Đặc biệt đến nay còn 360 cán bộ chưa qua
đào tạo chuyên môn, chiếm 30,84% [Phụ lục 03].
24
Sóc Trăng là tỉnh mang nhiều nét đặc thù khá rõ so với các tỉnh, thành khác