LUẬN VĂN:
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính
quyền cấp xã ở tỉnh Phú Thọ hiện nay
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định:
"Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của
Đảng, của đất nước, của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng" [18, tr.
33].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy
huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng" [39, tr. 269].
Cấp xã (xã, phường, thị trấn) là một cấp trong hệ thống hành chính bốn cấp của
Nhà nước Việt Nam, là nền tảng của hệ thống chính trị. Cấp xã giữ một vai trò, vị trí hết
sức quan trọng, là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật và nhiệm vụ
cấp trên giao, là cấp chính quyền trực tiếp chăm lo đến đời sống của nhân dân, là cầu nối
giữa nhà nước với nhân dân.
Qua từng thời kỳ lịch sử, chính quyền cấp xã không ngừng được xây dựng và
thứ nhất. Qua cuộc thi cho thấy trình độ năng lực của đội ngũ chủ tịch UBND cấp xã còn
nhiều hạn chế bất cập, nhất là sự hiểu biết về pháp luật liên quan đến quản lý nhà nước ở
cấp xã, phường, thị trấn cũng còn nhiều hạn chế. Do những hạn chế đó, nên trong quá
trình quản lý khi gặp những tình huống, những vụ việc rắc rối không đề ra được phương
án giải quyết tối ưu. Cũng thông qua cuộc thi cho thấy có sự chênh lệch cả về nhận thức,
năng lực giữa chủ tịch UBND các xã miền núi so với các xã, phường, thị trấn đồng bằng,
thành phố, thị xã. Đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã của tỉnh hầu hết chưa qua đào tạo
cơ bản, chủ yếu là qua các lớp bồi dưỡng ngắn ngày. Những lúng túng, va vấp, vi phạm
trong công việc là điều khó tránh khỏi. Đây là một vấn đề rất lớn đặt ra cho Phú Thọ về
đào tạo để nâng cao trình độ năng lực cho đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã. Bên cạnh
những hạn chế do trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã, một bộ phận
không nhỏ cán bộ do tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, đã có biểu hiện suy thoái
về phẩm chất, đạo đức, sống xa dân, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, mất dân chủ, tham
nhũng, lãng phí, lợi dụng chức quyền làm trái các nguyên tắc quản lý, bán và sang
nhượng đất trái phép, thậm chí bớt xét tham ô tiền của nhà nước, bị truy tố trước pháp
luật gây tổn hại không nhỏ đến uy tín và làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với
Đảng và Nhà nước. Tình trạng khiếu kiện kéo dài, khiếu kiện đông người vẫn còn. Bên
cạnh đó, hoạt động của các đại biểu HĐND cấp xã còn nhiều hạn chế. Năng lực, trình độ
của các đại biểu HĐND cấp xã không đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của nhiệm vụ mà
nhân dân giao cho.
Trong bối cảnh trên, cần có một sự nghiên cứu toàn diện về đội ngũ cán bộ chính
quyền cấp xã để có giải pháp nâng cao trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ chính quyền
cấp xã ở tỉnh Phú Thọ. Từ những phân tích nêu trên tác giả lựa chọn đề tài: "Nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã ở tỉnh Phú Thọ hiện nay" để làm luận
văn thạc sĩ. Đây là vấn đề cấp bách, phù hợp với yêu cầu cải cách nền hành chính nhà
nước hiện nay, phù hợp với thực tiễn của địa phương.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã từ năm 1991
đến nay đã được các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và các nhà hoạt động chính trị quan
quyền nhà nước ở địa phương", Nxb Đồng Nai, 1997.
Ngoài ra, một số bài viết, nghiên cứu được đăng trên các Tạp chí Thông tin
Chính trị học, Tạp chí Quản lý nhà nước, Nhà nước pháp luật như: Tiến sĩ Lê văn Hòe:
"Về hoàn thiện tổ chức bộ máy hệ thống chính trị ở các tỉnh miền núi ", Đề tài độc lập
cấp nhà nước: "Các giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị các tỉnh miền
núi", Hà Nội, 2002.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đều đề cập vấn đề đội ngũ cán bộ
của chính quyền cấp xã, hoặc là ở dạng chung nhất hoặc đặt nó nằm trong phạm vi
nghiên cứu tổ chức hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã nói chung, chưa có công
trình nào đi sâu nghiên cứu có hệ thống dưới góc độ một luận văn khoa học về nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã ở một tỉnh cụ thể như đề tài luận văn lựa
chọn ở đây. Tuy nhiên, trong các công trình đã được công bố có những nội dung liên
quan đến đề tài sẽ được tác giả luận văn tham khảo có kế thừa, chọn lọc.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã của tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay.
- Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau
đây:
+ Phân tích cơ sở lý luận về cán bộ chính quyền cấp xã và chất lượng đội ngũ cán
bộ chính quyền cấp xã. Trong đó hệ thống hóa những quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng, Nhà nước ta về đội ngũ cán bộ chính quyền
cấp xã; khái niệm và những tiêu chí đánh giá, những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội
ngũ cán bộ chính quyền cấp xã.
+ Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã tỉnh Phú
Thọ, qua đó nêu ra những vấn đề tồn tại cần khắc phục cũng như phân tích các nguyên
nhân hạn chế đến chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã ở Phú Thọ.
+ Đề xuất các phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng, đội ngũ cán bộ
Chương 1
cƠ Sở lý luận về chất lượng
đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã
1.1. Chính quyền cấp xã và vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp
xã
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của chính quyền cấp xã
a) Khái niệm chung về chính quyền cấp xã
Trong hệ thống hành chính nước ta, chính quyền xã - phường - thị trấn (gọi
chung là cấp xã) là chính quyền cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp hoàn
chỉnh: Trung ương, tỉnh, huyện, xã.
Tính đến 19 tháng 4 năm 2002, nước ta có 10.579 đơn vị hành chính xã, phường,
thị trấn, trong đó có 8.964 xã, 573 thị trấn, 1.042 phường. Dưới xã, phường, thị trấn có
các cộng đồng dân cư tự quản; dưới xã có thôn, làng, ấp, bản, buôn. Dưới phường, thị
trấn có tổ dân phố, ở một số thành phố, thị xã giữa phường và tổ dân phố có cụm dân cư,
giữa xã và thôn có khu hành chính. Số lượng xã, phường, thị trấn trong những năm qua
không ổn định. Cùng với quá trình chia tách các tỉnh, huyện, việc thành lập mới các xã,
phường, thị trấn diễn ra ở hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Chỉ trong
vòng
7 năm từ 1995 đến 2002 đã tăng 357 đơn vị trong đó có 59 xã, 213 phường và 85 thị trấn.
Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể quản lý hành chính nhà
nước trên tất cả các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội ở cơ
sở, đảm bảo các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc
sống, nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân. Sự trong sạch vững mạnh, hoạt động có
hiệu lực, hiệu quả của chính quyền cấp xã đóng vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt
động quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công phục vụ nhân dân.
Trong quá trình xây dựng, hoàn thiện bộ máy nhà nước, Đảng và nhân dân ta
luôn dành sự quan tâm đối với chính quyền cấp xã. Cùng với việc hoàn thiện thể chế,
ninh quốc phòng ở cơ sở, là cầu nối trực tiếp giữa nhà nước và nhân dân, xử lý trực tiếp,
kịp thời những yêu cầu hàng ngày của nhân dân.
Hai là: Chính quyền cấp xã khác với chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện: Tổ chức
bộ máy chính quyền cấp xã chỉ bao gồm cơ quan quyền lực nhà nước là HĐND là cơ
quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân ở địa phương và UBND là cơ quan
chấp hành của HĐND và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, không có các cơ
quan tư pháp: Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân.
Ba là: Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp tiếp xúc với nhân dân; cán bộ chính
quyền cấp xã là người hàng ngày trực tiếp giải quyết những vấn đề liên quan đến mọi
quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân đảm bảo theo đúng đường lối, chính sách của Đảng
và pháp luật của Nhà nước, các văn bản pháp luật của cấp trên. UBND còn có trách
nhiệm rất nặng nề phải quản lý mọi mặt đời sống của nhân dân địa phương cho nên trong
hoạt động mang nhiều tính chất hành chính địa phương.
Bốn là: Trong hoạt động của chính quyền cấp xã, giữa HĐND và UBND khó
tách biệt nhau về các lĩnh vực thẩm quyền và UBND có ưu thế vượt trội: Chính quyền
cấp xã được coi là một cấp chính quyền hoàn chỉnh, bao quát toàn diện đời sống kinh tế,
văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa bàn cơ sở. Nội dung các nghị quyết của
HĐND và quyết định của UBND nhìn chung là giống nhau, chỉ khác ở chỗ: HĐND quyết
định biện pháp, còn UBND tổ chức thực hiện. Trong khi đó, tổ chức bộ máy của HĐND
không đủ sức hoạt động độc lập mà chủ yếu dựa vào bộ máy của UBND để soạn thảo các
nghị quyết. Theo Điều 5, Luật tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi): "Hội đồng nhân dân
cấp xã có Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân" [35, tr. 7]. Đối với cấp tỉnh và cấp
huyện: "Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có Thường trực Hội đồng nhân dân và các
ban của Hội đồng nhân dân" [35, tr. 7]. Với cơ cấu tổ chức như trên, các ban của HĐND
cấp tỉnh và cấp huyện có khả năng soạn thảo các nghị quyết, thức hiện chức năng quyết
định các biện pháp, chủ trương về các vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐND cấp tỉnh, cấp
huyện. Trong khi đó, ở cấp xã, do không có bộ máy giúp việc, đại biểu HĐND lại kiêm
nhiệm, việc chuẩn bị các kỳ họp hoàn toàn dựa vào bộ máy của UBND và mỗi năm chỉ
họp từ 3 - 4 lần. Trong điều kiện đó, hoạt động của UBND sẽ có ưu thế vượt trội hơn, dễ lấn
át HĐND, dễ lâm vào tình trạng "vừa đá bóng, vừa thổi còi".
V.I. Lênin là người đã vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác
trong điều kiện lịch sử cụ thể của nước Nga. Trong tác phẩm "Những nhiệm vụ bức thiết
của phong trào chúng ta", khi nói về vai trò của người lãnh đạo phong trào cách mạng,
Người đã chỉ rõ: "Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị,
nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh đạo chính trị, những
đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào" [30, tr. 473].
Tổng kết những năm đầu của cách mạng (1917-1922), V.I. Lênin đã khẳng định:
"Nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh. Hiện nay đó là then chốt; nếu
không thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn" [33, tr. 449].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc" [39, tr.
269]; "công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt
hay kém".
Quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và qua thực tiễn cách mạng ở các
nước, các Đảng cộng sản và công nhân quốc tế đều chứng minh và khẳng định vai trò
quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ.
Tính đến 19/4/2002, nước ta có 10.579 đơn vị hành chính cấp xã. Trong kỳ bầu cử
ngày 14/11/1999, tổng số đại biểu HĐND xã, phường, thị trấn được bầu là 227.000 đại
biểu.
Tổng số cán bộ xã, phường, thị trấn được hưởng sinh hoạt phí và phụ cấp hàng
tháng từ các nguồn ngân sách và kinh phí khác nhau trong toàn quốc khoảng 2 triệu
người, bình quân mỗi xã, phường, thị trấn có khoảng 190 cán bộ. Cán bộ chuyên trách
bình quân mỗi xã có 22 người. Đại biểu HĐND bình quân mỗi xã có 22 đại biểu; cán bộ
cấp thôn tổng số có khoảng 480.000 người; cán bộ y tế, giáo dục mầm non khoảng
200.000 người. Cán bộ không chuyên trách (như cán bộ phụ trách công tác dân số, Hội
người cao tuổi, Hội chữ thập đỏ, cán bộ hoạt động văn hóa - thông tin ) có khoảng
780.000 người. Có thể thấy, số lượng cán bộ cấp xã là quá lớn, và xu hướng còn mở rộng
thêm chứ không tinh giảm được do công việc dồn xuống cấp dưới quá nhiều, và nhiều
ngành cũng như cấp tỉnh, huyện đều muốn có cán bộ của mình ở cơ sở cấp xã.
Trong hệ thống chính trị ở cơ sở có cán bộ chuyên trách và không chuyên trách:
Tuy nhiên, đứng trước những nhiệm vụ to lớn của giai đoạn đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, trước những hoàn cảnh và tình thế mới,
đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã cũng bộc lộ nhiều điểm bất cập cần phải nghiên cứu
khắc phục.
Trước hết, đó là mâu thuẫn giữa số lượng ngày một tăng của đội ngũ cán bộ
chính quyền cấp xã nhưng chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Đội ngũ cán bộ
chính quyền cấp xã tuy rất đông về số lượng nhưng không đủ sức đảm đương được
những công việc trong những điều kiện và tình hình mới của đất nước.
Theo quy định tại Nghị định số 174/CP của Chính phủ ban hành ngày
29/9/1994, cơ cấu của UBND xã, phường, thị trấn gồm có: 1 chủ tịch, 1 phó chủ tịch và 5
ủy viên ủy ban. Với khoảng 1 vạn đơn vị hành chính cấp xã, đội ngũ cán bộ chính quyền
cấp xã có số lượng khoảng 70.000 người.
Nghị định số 50/CP ngày 26/7/1995 quy định, ngoài số ủy viên ủy ban đã nêu
trên, các chức danh khác được bố trí phù hợp với yêu cầu của từng địa phương theo các mức
sau đây:
- Dưới 5.000 dân: 12 cán bộ.
- Từ 5.000 dân đến dưới 10.000 dân: 14 cán bộ.
- Từ 10.000 dân đến dưới 15.000 dân: 16 cán bộ.
- Từ 15.000 dân đến dưới 20.000 dân: 18 cán bộ.
- Trên 20.000 dân trở lên tối đa không quá 20 cán bộ.
Trừ số cán bộ làm công tác đoàn thể, số cán bộ chính quyền cấp xã gồm chủ tịch
UBND và các thành viên của ủy ban dao động từ 7 đến 13 người tùy theo từng loại xã.
Đến Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ban hành ngày 23/01/1998, quy định số
lượng cán bộ chính quyền cấp xã như sau:
- Xã dưới 10.000 dân: 17-19 cán bộ.
- Xã từ 10.000 dân đến 20.000 dân: 19-21 cán bộ.
- Xã trên 20.000 dân, cứ thêm 3.000 dân thêm 1 cán bộ, tối đa không quá 25 cán
bộ.
Như vậy, nếu trừ số cán bộ làm công tác đoàn thể, số lượng cán bộ làm công tác
diện quy định của Chính phủ, 100 cán bộ do các bộ ngành ở Trung ương và tỉnh quy
định. ở một số xã, số lượng cán bộ được chi trả hàng tháng dưới các hình thức sinh hoạt
phí, hoạt động phí, phụ cấp từ các nguồn ngân sách và kinh phí khác nhau lên tới 250 đến
280 định suất.
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo được nhân dân nhiệt liệt
hưởng ứng và hăng hái thực hiện, đã thu được những thành tựu rất quan trọng. Tại Hội
nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng ta đã chỉ ra 4 nguy cơ lớn của đất
nước: Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và toàn thế
giới; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu;
nguy cơ "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Đồng thời, Hội nghị nhận định
"Công tác cán bộ vẫn là một khâu yếu. Đội ngũ cán bộ nhìn chung chưa ngang tầm đòi
hỏi của nhiệm vụ" [13, tr. 21].
Cán bộ quyết định mọi công việc. Trong hệ thống các cơ quan quản lý hành
chính nhà nước, cán bộ chính quyền cấp xã có vị trí hết sức quan trọng. Họ là những
người quán triệt quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
đưa vào cuộc sống, biến chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước thành
hiện thực. Cán bộ chính quyền cấp xã có vai trò to lớn và trách nhiệm hết sức nặng nề
trong hệ thống quản lý nhà nước. Cán bộ chính quyền cấp xã được Nhà nước trao cho
thẩm quyền quản lý nhà nước ở địa phương. Do phải thường xuyên tiếp xúc với nhân
dân, trực tiếp giáo dục, động viên và tổ chức nhân dân thực hiện pháp luật, thực hiện
quyền và nghĩa vụ công dân. Cán bộ chính quyền cấp xã, ngoài phẩm chất chính trị, cần
phải có trình độ, năng lực nhất định và cần nhất là phải tạo dựng được uy tín trong cộng
đồng dân cư.
1.2. Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã và những yếu
tố tác động đến chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã
1.2.1. Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Nxb Đà Nẵng xuất bản năm 2000
định nghĩa: "Chất lượng: Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự
việc" [46, tr. 144].
đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã.
1.2.2. Những tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ
Chất lượng của đội ngũ cán bộ được xác định trên cơ sở tiêu chí về phẩm chất
đạo đức, trình độ năng lực phù hợp với vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của đội ngũ
cán bộ, công chức nói chung và của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã nói riêng, về khả
năng hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Về phẩm chất đạo đức: Người cán bộ muốn xác lập được uy tín của mình trước
nhân dân, trước hết đó phải là người cán bộ có phẩm chất đạo đức tốt. Xây dựng các tiêu
chuẩn đạo đức của người cán bộ, công chức và hình thành ở họ các phẩm chất đạo đức
tương ứng với vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ là việc làm cần thiết
và cấp bách, nhất là trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước hiện nay. Trong bối cảnh nền
kinh tế thị trường đang có sự chuyển biến nhanh chóng và xã hội xuất hiện nhiều vấn đề
hết sức phức tạp, trong đó phải kể đến trình độ dân trí ngày một nâng cao, và sự đòi hỏi
của xã hội đối với đội ngũ cán bộ cũng ngày một cao hơn. Thêm vào đó công tác quản lý
xã hội cũng đòi hỏi người cán bộ phải tạo lập cho mình một uy tín nhất định đối với nhân
dân.
Việc nâng cao phẩm chất, đạo đức ở người cán bộ, công chức đã được Chủ tịch
Hồ Chí Minh quan tâm từ rất sớm. Nhất là sau khi cách mạng thành công, ngoài việc lãnh
đạo, quản lý đất nước, trước những khó khăn phải chống thù trong, giặc ngoài, Bác vẫn
chăm lo việc giáo dục đạo đức cho người cán bộ, công chức trong các cơ quan chính
quyền nhà nước non trẻ. Người đã xác định: "Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy" và
Người nhấn mạnh: "Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể
thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được"
[39, tr. 54]. Người cán bộ tốt ở đây phải là người có đủ cả năng lực trình độ lẫn đạo đức
cách mạng. Bác yêu cầu: "Một người cán bộ tốt phải có đạo đức cách mạng" [39, tr. 223].
Và muốn có đạo đức cách mạng, mỗi người cán bộ - theo Bác, phải có được các phẩm
chất trí, tín, nhân, dũng, liêm. Khi điều kiện và tình hình cách mạng thay đổi, trong khi
nói chuyện với anh, chị em công chức ở Thủ đô, Bác đã nhắc nhở: "Chúng ta phải cố
gắng thực hiện cần, kiệm, liêm, chính". Theo Bác:
Một là, năng lực là sự khác biệt nhau về phẩm chất tâm lý cá nhân làm cho người
này khác người kia.
Hai là, năng lực là những khác biệt có liên quan đến hiệu quả của việc thực hiện
một hoạt động nào đó chứ không phải bất cứ những sự khác biệt chung chung nào.
Ba là, năng lực không phải được đo bằng những kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo đã
được hình thành ở một người nào đó. Năng lực chỉ làm cho việc tiếp thu các kiến thức,
kỹ năng và kỹ xảo trở nên dễ dàng hơn.
Có thể hiểu, năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để
thực hiện một hoạt động nào đó. Năng lực là những phẩm chất tâm lý, sinh lý tạo cho con
người có khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao. Mỗi con người
có khả năng trong một hoạt động nhất định nào đấy có ích cho xã hội. Nghiên cứu năng
lực con người là nghiên cứu sức lực dự trữ của con người trong lao động hay là tiềm năng
của con người đối với lao động.
Năng lực thể hiện ở chỗ, con người làm việc tốn ít sức lực, ít thời gian, của cải,
mà kết quả lại tốt. Việc phát hiện ra năng lực của con người thường căn cứ vào những
dấu hiệu sau: Sự hứng thú đối với công việc nào đó; sự dễ dàng tiếp thu kỹ năng nghề
nghiệp; hiệu suất lao động trong lĩnh vực đó.
Năng lực có năng lực chung và năng lực chuyên môn, giữa chúng có mối quan hệ
ảnh hưởng, tương hỗ lẫn nhau. Năng lực chung cho phép con người có thể thực hiện có
kết quả những hoạt động khác nhau như hoạt động học tập, lao động Năng lực chuyên
môn cho phép người ta làm tốt một loại công việc nào đó như âm nhạc, hội họa, văn học,
toán học
Năng lực con người thường gắn liền với sở thích của người ấy. Con người có sở
thích, hứng thú về một hoạt động nào đấy thường nói lên năng lực của người đó về mặt
hoạt động đó. Năng lực không chỉ thể hiện trong những hoạt động lao động trí óc thuần
túy mà thể hiện cả trong hoạt động thể lực. Năng lực phát triển trong quá trình hoạt động.
Người lười biếng, trốn tránh hoạt động lao động trí óc cũng như lao động chân tay thì
năng lực không thể phát triển được.
Đối với cán bộ chính quyền cấp xã, năng lực thường bao gồm những tố chất cơ
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy,
huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng"; Người yêu cầu: " Đảng phải nuôi dạy
cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu, phải trọng nhân tài, trọng
cán bộ, trọng mỗi người có ích cho công việc của chúng ta" [38, tr. 32].
Con người ta không phải là thánh hiền, ai có thể nói mình không có sai lầm,
nhưng cần tránh định kiến sẵn. Dùng một cán bộ lão thành, cũng có thể có những ý kiến
nhưng nhìn chung về cơ bản vẫn tương đối dễ dàng thông qua; nhưng đề bạt một cán bộ
trung niên hay thanh niên thì thường hay có những cái nhìn khắt khe hơn, việc thông qua
khó khăn hơn và nhất là thường cho rằng cán bộ trẻ chưa có đóng góp nhiều cho đất
nước.
Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến vấn đề
cán bộ cũ và cán bộ mới. Đảng càng phát triển thì cần đến cán bộ mới càng nhiều. Theo
quy luật tự nhiên, khi cán bộ cũ già đi, "nếu không có cán bộ mới thế vào, thì ai gánh vác
công việc của Đảng" [39, tr. 237].
Tài năng của một con người không phải là bất biến suốt đời, mà là
một quá trình vận động như mũi tên bay. Khoa học nghiên cứu và thấy rằng đường cong
tuổi tác của những người làm công tác quản lý nói chung thì ở
độ tuổi 50 là tuổi đỉnh cao. Khi nói về phẩm chất, năng lực của người cán
bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói: Người có đức mà không có tài thì làm việc gì
cũng khó, người có tài mà không có đức thì vô dụng. Nhưng chữ "đức" ở đây phải được
hiểu cho đúng. Không thể coi những người gọi dạ, bảo vâng, đúng cũng gật, sai cũng gật
không có chính kiến gì là những người có
chữ "đức". Trong khi đó lại coi những người có chính kiến rõ ràng, dám đấu tranh phê
bình, dám chống lại những sai trái như quan liêu, tham nhũng lại bị coi là kiêu căng tự
mãn, là thiếu "đức". Nói về tiêu chuẩn cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng cả
đức và tài, trong đó đức là gốc. Người chỉ rõ yêu cầu đối với cán bộ là: "Phải có chính trị
trước rồi có chuyên môn; chính trị là đức, chuyên môn là tài. Có tài mà không có đức là
hỏng Đức phải có trước tài" [39, tr. 26]. Để nhấn mạnh tiêu chuẩn đạo đức của người
cán bộ cách mạng, Bác viết: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn
cán bộ thông qua xét tuyển) để sắp xếp, định biên cán bộ cấp xã theo Nghị định số
09/1998/NĐ-CP. Cán bộ cấp xã phải được giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng bằng nhiều hình
thức khác nhau như: Tự học, tự đào tạo, đưa đi đào tạo tập trung, tại chức cán bộ phải
gần gũi với nhân dân, phải am hiểu được tâm tư nguyện vọng của nhân dân. Tiêu chuẩn
cơ bản để lựa chọn cán bộ chính quyền cấp xã:
Một là: Cán bộ chính quyền cấp xã cần phải có trình độ học vấn, phải có kiến
thức quản lý nhà nước, phải qua đào tạo hoặc bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước.
Hai là: Cán bộ chính quyền cấp xã phải trong sạch, không tham nhũng, không ăn
hối lộ, chiếm đoạt của công. Đây là yếu tố phẩm chất đạo đức của người cán bộ. Cán bộ
muốn xây dựng uy tín của mình thì đòi hỏi phải mất rất nhiều thời gian, có khi là cả một
quá trình công tác lâu dài mới tạo lập được uy tín. Nhưng tự làm mất uy tín thì không cần
nhiều thời gian, và khi đã làm mất uy tín rồi thì cơ hội xây dựng lại uy tín rất khó.
Ba là: Cán bộ chính quyền cấp xã trong quá trình hoạt động phải tôn trọng nhân
dân, thông cảm với nhân dân, phải biết dựa vào nhân dân, phục vụ nhân dân, gần gũi với
nhân dân. Mọi hoạt động của cán bộ chính quyền cấp xã có ảnh hưởng và tác động rất lớn
đến đời sống của nhân dân địa phương.
1.2.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền
cấp xã
Một là: Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã
Trong bản giải trình của Bộ Chính trị tiếp thu ý kiến Trung ương về Đề án đổi
mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở đã chỉ rõ nguyên nhân của những
yếu kém, bất cập của hệ thống chính trị ở cơ sở là do: " chưa nhận thức đúng vai trò, vị
trí của cơ sở, quan liêu, để một thời gian quá dài không có chính sách đồng bộ đối với
cán bộ, thiếu chăm lo bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ cho cơ sở, không kịp thời bàn và
đưa ra những chính sách để củng cố và tăng cường cơ sở" [20, tr. 153].
Phần đông cán bộ cấp xã có trình độ học vấn thấp. Một số cán bộ là người dân
tộc, vùng sâu, vùng xa còn ở tình trạng mù chữ. Một số không nhỏ cán bộ chính quyền
cấp xã không được đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về quản lý nhà nước, về
pháp luật, về hành chính và kỹ năng quản lý hành chính - những kiến thức và kỹ năng