1
MỞ ĐẦU
1-Tính cấp thiết của đề tài
Công tác tư tưởng là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong
toàn bộ hoạt động của Đảng; là lĩnh vực trọng yếu để xây dựng, bồi đắp nền
tảng chính trị của chế độ; tuyên truyền, giáo dục, động viên và tổ chức nhân
dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng; khẳng định và nâng cao vị trí, vai trò
tiên phong của Đảng về lý luận chính trị, về văn hóa và đạo đức; thể hiện vai
trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn coi trọng công tác tư tưởng.
Trong hơn 20 năm đổi mới, công tác tư tưởng đã góp phần bảo đảm sự thống
nhất trong Đảng, xây dựng và củng cố niềm tin của toàn dân vào thắng lợi của
sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; tạo cơ sở để
tập hợp lực lượng, đoàn kết dân tộc, hình thành sức mạnh to lớn giữ vững ổn
định chính trị, phát triển kinh tế-xã hội; tạo tiền đề cho sự phát triển công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế của đất nước.
Trong những năm tới, trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu
quả công tác tư tưởng.
Công tác tư tưởng là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân,
của cả hệ thống chính trị, trong đó, có trách nhiệm của đội ngũ cán bộ tuyên
giáo.
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng chúng ta phải giải
quyết nhiều vấn đề, nhưng trước hết, trên hết là nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ tuyên giáo- những chiến sỹ xung kích trên mặt trận tư tưởng.
Sau hơn 20 năm góp phần cùng cả nước thực hiện đường lối đổi mới,
đội ngũ cán bộ tuyên giáo nước ta từng bước được kiện toàn, năng lực chuyên
2
3
bắt, đề xuất, xử lý những vấn đề đột xuất, nổi cộm diễn ra trên địa bàn còn
yếu, đa số chưa được đào tạo đúng chuyên ngành, phần lớn cán bộ tuyên giáo
được tuyển từ các lĩnh vực khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu trước mắt, và
giải quyết sự thiếu hụt về biên chế đã được phân bổ,... Từ đó, đã ảnh hưởng
rất lớn đến hiệu quả công tác tư tưởng trên địa bàn.
Chính từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện của tỉnh Bến Tre hiện nay” nhằm
nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng của tỉnh nhà góp phần
cùng toàn Đảng, toàn quân và nhân dân Bến Tre vươn lên trong sự nghiệp đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2- Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Về công tác tư tưởng nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên
giáo nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Đến nay có
nhiều bài viết của nhiều tác giả ở các góc độ khác nhau được đăng tải trên
sách, báo, tạp chí. Một số công trình có liên quan trực tiếp đến vấn đề này
như:
- Trần Xuân Sầm (1998): Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ
lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới , Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
- Lương Khắc Hiếu (2008), Nguyên lý công tác tư tưởng tập 2, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Ban Tuyên giáo Trung ương (2009), Tập bài giảng lớp bồi dưỡng
cán bộ tuyên giáo cấp tỉnh, cấp huyện năm 2009.
- Đào Duy Quát (2001), Một số vấn đề về công tác tư tưởng của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Viện Xây dựng Đảng Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
Giáo trình công tác tư tưởng của Đảng, Nxb Lý luận chính trị, 2004, Hà Nội.
5
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện của tỉnh Bến Tre hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện của tỉnh Bến Tre
hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu, khảo sát đội ngũ cán bộ công tác tại
Ban Tuyên giáo các huyện, thành phố của tỉnh Bến Tre hiện nay.
Thời gian khảo sát: từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 6 năm 2010.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả dựa trên cơ sở lý luận,
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch
sử và tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, đường lối và các chính sách của
Đảng, Nhà nước về xây dựng đội ngũ cán bộ và đội ngũ cán bộ tuyên giáo
của Đảng.
Đồng thời, tác giả kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những kết quả
nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp như:
phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp
so sánh và các phương pháp xã hội học như: quan sát, phân tích tài liệu và các
phương pháp điều tra.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
6.1.Ý nghĩa khoa học
huyện
- Khái niệm “cán bộ”
Cán bộ được hiểu theo nhiều nghĩa và rất phong phú. Nó xuất hiện
trong đời sống xã hội nước ta khoảng mấy chục năm gần đây, để chỉ một lớp
người là những chiến sĩ cách mạng,lớp người mới, sẵn sang chịu đựng gian
khổ, hy sinh, gắn bó với nhân dân, phục vụ cho sự nghiệp cao cả giành độc
lập, tự do cho dân tộc.
Từ cán bộ được du nhập vào nước ta từ Trung Quốc và được dung
phổ biến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ban đầu, từ này được dung
nhiều trong quân đội để phân biệt chiến sĩ và cán bộ. Từ cán bộ được dùng để
chỉ những người làm nhiệm vụ chỉ huy từ tiểu đội phó trở lên. Dần dần từ cán
bộ được dùng để chỉ tất cả những người hoạt động kháng chiến thoát ly, để
phân biệt với nhân dân.
Trong từ điển Nhật-Việt, từ cán bộ được dùng với nghĩa là người ở
hạng cao (trong một đoàn thể), là yếu nhân (nhân vật quan trọng).
Trong Từ điển Tiếng Việt, từ “cán bộ” được định nghĩa là:
- Người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước,
Đảng và đoàn thể.
- Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức,
phân biệt với người không có chức vụ.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ là người đem chính sách của
Đảng, Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem
8
tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách
cho đúng”[45,tr.269].
Cho đến nay, từ cán bộ đã được dùng với rất nhiều nghĩa khác nhau:
- Trong tổ chức đảng và đoàn thể, từ cán bộ được dùng với hai nghĩa:
thu và tiến hành truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và
phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời
của Đảng vào ngày 3/2/1930. Họ chính là những cán bộ tư tưởng mà người
đầu tiên là Nguyễn Ái Quốc. Những cán bộ tư tưởng này đã trưởng thành, lớn
mạnh cùng với quá trình phát triển của Đảng. Sau khi Đảng ta giành được
chính quyền, lực lượng làm công tác tư tưởng chuyên nghiệp được tập hợp lại
trong Ban Tuyên giáo, trong cơ quan tư tưởng-văn hóa các cấp, ngành, các
đoàn thể và trở thành bộ phận hữu cơ trong đội ngũ cán bộ chính trị, cán bộ
tham mưu của Đảng và Nhà nước.
Trải qua lịch sử 80 năm xây dựng và phát triển, cơ quan chuyên trách
làm công tác tuyên giáo của Đảng đã có những tên gọi khác nhau và có những
lần chia tách, hợp nhất cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của mỗi giai đoạn
cách mạng.
Từ năm 1930 đến tháng 8 năm 1945, cơ quan tham mưu của Trung
ương Đảng về công tác tư tưởng-văn hóa gọi là Ban Cổ động và Tuyên truyền
của Đảng.
Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 7/9/1945, Bộ
Tuyên truyền được thành lập.
Tháng 3/1949, Ban Thường vụ Trung ương ra quyết nghị về việc
thành lập Ban Văn hóa Trung ương.
Ngày 14/9/1950, Trung ương ban hành Quyết định số 55-QĐ/TW về
tổ chức Ban tuyên truyền và Ban giáo dục Trung ương Đảng.
Ngày 16/4/1951, Trung ương ban hành Quyết định số 09-QĐ/TW
thành lập Ban Tuyên huấn.
10
Ngày 22/5/1957, Ban Bí thư ban hành Quyết định số 13-QĐ/TW về
việc thành lập Tiểu ban văn nghệ Trung ương và đảng đoàn các ngành văn
Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi xin nêu ra một cách hiểu về
cán bộ tuyên giáo như sau:
Cán bộ tuyên giáo là những người hoạt động trong cơ quan tham
mưu các cấp của Đảng về công tác tuyên giáo, có chức năng tham mưu, giúp
cấp ủy chỉ đạo, quản lý, kiểm tra các mặt hoạt động của công tác tư tưởng
-văn hóa và khoa giáo.
- Cán bộ tuyên giáo cấp huyện
Hệ thống tổ chức của Đảng ta theo bốn cấp: đảng bộ cơ sở (xã,
phường, thị trấn …), đảng bộ huyện (quận, thị xã…), đảng bộ tỉnh, thành phố
và Trung ương. Do đó, Ban Tuyên giáo được thành lập theo bốn cấp trên:
Trung ương, tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương), huyện (quận, thị xã) và
xã (phường, thị trấn…). Song, với tư cách làmột tổ chức có bộ máy chuyên
trách thì có ở ba cấp: Trung ương, tỉnh và huyện.
Về cơ bản, chức năng, nhiệm vụ của ban tuyên giáo huyện ủy cũng
như của ban tuyên giáo cấp trên; khác nhau là ở cấp độ, ở việc xác định
những nhiệm vụ cụ thể để thực hiện trong phạm vi và hoàn cảnh cụ thể của
cấp huyện.
Ban tuyên giáo huyện ủy là cơ quan tham mưu của huyện ủy về
công tác tư tưởng-văn hóa và khoa giáo. Ban tuyên giáo huyện ủy có
chức năng tham mưu, chỉ đạo và kiểm tra năm mặt công tác: tuyên
truyền, giáo dục lý luận chính trị, văn hóa-văn nghệ, khoa giáo và
nghiên cứu, biên soạn lịch sử đảng bộ địa phương. [50,tr.493]
Theo đó, có thể hiểu cán bộ tuyên giáo cấp huyện là những người
công tác tại ban tuyên giáo huyện ủy. Đó là những cán bộ có chức năng tham
mưu, giúp cấp ủy huyện chỉ đạo, quản lý, kiểm tra năm mặt công tác tuyên
12
truyền, giáo dục lý luận chính trị, văn hóa văn nghệ, khoa giáo và nghiên
hướng dẫn triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng; kiểm tra các tổ chức
Đảng, các ban, ngành, đoàn thể huyện và cơ sở trong việc thực hiện các nghị
quyết, chỉ thị của Trung ương và Tỉnh uỷ về công tác tư tưởng - văn hoá, khoa
giáo và lịch sử Đảng.
+ Tổ chức phổ biến thông tin thời sự, chính sách theo hướng dẫn của
Trung ương, tỉnh và thực hiện sự chỉ đạo của cấp uỷ Ban Thường vụ cấp uỷ
cho cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ.
+ Tổ chức mạng lưới báo cáo viên, tuyên truyền viên từ huyện đến cơ
sở; hướng dẫn và kiểm tra nội dung thông tin của các phương tiện thông tin
Đài Truyền thanh, hoạt động thông tin cổ động, văn hóa - thông tin, khoa giáo
trên địa bàn huyện.
+ Hướng dẫn và chỉ đạo tuyên truyền các ngày lễ lớn, các phong trào
thi đua yêu nước trong nội bộ Đảng và nhân dân.
+ Tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ công tác khoa giáo,
nghiệp vụ công tác nghiên cứu dư luận xã hội, nghiệp vụ công tác sưu tầm và
biên soạn lịch sử Đảng bộ cơ sở, ngành… cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo cơ
sở.
+ Sưu tầm, biên soạn, bổ sung lịch sử Đảng bộ huyện, địa chí huyện;
hướng dẫn sưu tầm, biên soạn lịch sử Đảng bộ xã, lịch sử ngành; đưa lịch sử
địa phương vào giảng dạy ở các trường phổ thông, nhằm phát huy truyền
thống cách mạng của quê hương Bến Tre Đồng Khởi anh hùng; giáo dục
truyền thống cách mạng của địa phương.
+ Chỉ đạo và tham gia tổng kết thực tiễn, phát hiện và nhân rộng
những mô hình mới, nhân tố mới trên địa bàn huyện. Tổng kết kinh nghiệm
công tác tuyên giáo cơ sở và định kỳ có báo cáo Ban Thường vụ cấp uỷ, Ban
Tuyên giáo Tỉnh uỷ.
14
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4. Để biến hệ tư tưởng của mình
thành hệ tư tưởng thống trị trong một chế độ xã hội, giai cấp thống trị nào
cũng phải tổ chức việc truyền bá hệ tư tưởng trong quảng đại quần chúng.
Việc truyền bá này, một mặt xuất phát từ yêu cầu xác lập địa vị thống trị của
hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội, mặt khác xuất phát từ yêu cầu động
viên, cổ vũ quần chúng tham gia hoạt động thực tiễn nhằm xây dựng và bảo
vệ chế độ đương thời.
Hệ tư tưởng tự nó không xâm nhập vào ý thức quần chúng nếu không
thông qua các công tác tuyên truyền, giáo dục. Kể từ khi xã hội loài người
phân chia thành giai cấp đối kháng, hệ tư tưởng xuất hiện thì đồng thời cũng
hình thành tầng lớp những nhà tư tưởng những cán bộ tuyên truyền. Đội ngũ
này lấy việc truyền bá hệ tư tưởng cho một giai cấp làm nghề nghiệp của
mình. Xã hội càng phát triển, đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng càng
phức tạp thì yêu cầu về số lượng và chất lượng đối với đội ngũ này càng cao,
tính chuyên nghiệp của nghề này càng sâu.
Từ kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người và từ quá trình truyền bá
lý luận khoa học vào phong trào công nhân, C.Mác đã khẳng định: “Muốn
thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực
tiễn”[31,tr.181].Trong điều kiện lịch sử cụ thể của cách mạng đang ở thời kỳ
Đảng chưa nắm chính quyền, C.Mác và Ph.Ăngghen rất quan tâm đến việc
xây dựng một đội ngũ những nhà tuyên truyền, cổ động, truyền bá tư tưởng
cộng sản; lãnh đạo, tổ chức các phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản, trên
cơ sở đó, kết hợp với phong trào công nhân để lập ra những chính đảng của
giai cấp công nhân. Những nhà tuyên truyền, cổ động đó chính là những cán
bộ cách mạng chuyên nghiệp của Đảng trong thời kỳ hoạt động bí mật.
Đội ngũ cán bộ tuyên giáo nói chung, đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp
huyện nói riêng giữ vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển và
Đội ngũ cán bộ tuyên giáo các thế hệ của Đảng đã góp phần bồi
dưỡng các thế hệ con người Việt Nam, những chiến sĩ cộng sản thành lớp
người “gan vàng dạ sắt”, dũng cảm, kiên cường trong đấu tranh cách mạng.
Hiện nay, họ đang góp phần tích cực xây dựng những thế hệ con người Việt
Nam mới, đủ sức gánh vác sứ mệnh lịch sử mà đất nước giao phó.
1.2. Chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện của tỉnh Bến
Tre và tiêu chí đánh giá
1.2.1. Quan niệm về chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp
huyện
- Chất lượng
Theo Đại từ điển tiếng Việt: Chất lượng: Cái làm nên phẩm chất, giá
trị của con người, sự vật... Cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này
khác sự vật kia [60, tr.331].
Từ điển Bách Khoa Việt Nam cho rằng: Chất lượng là phạm trù triết
học biểu hiện những thuộc tính, bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn
định tương đối của sự vật phân biệt nó với sự vật khác [57,tr.419].
Từ điển Triết học chỉ rõ: Chất lượng (chất) là tính qui định bản chất
của sự vật, tính qui định những đặc điểm và tính cách vốn có của sự vật; do
tính qui định đó, sự vật là sự vật như nó đang tồn tại, chứ không phải là sự vật
khác; tính qui định đó phân biệt sự vật ấy với sự vật khác [58,tr.150].
- Đội ngũ: Trong Đại từ điển Tiếng Việt đưa ra khái niệm như sau:
1.Tổ chức gồm nhiều người tập hợp lại thành một lực lượng. 2. Tập hợp số
đông người cùng chức năng, nghề nghiệp. [60 ,tr.659]
Từ sự phân tích ở trên có thể hiểu: Chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên
giáo cấp huyện là tổng hợp các thuộc tính, đặc trưng của tập hợp những
người cán bộ tuyên giáo cấp huyện, đảm bảo cho đội ngũ cán bộ đó hoàn
thành nhiệm vụ được giao.
19
máy, tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng trong hoạt động. Cơ cấu hợp lý là yếu tố
quan trọng tạo nên chất lượng cán bộ tuyên giáo.
Trong điều kiện hiện nay, xây dựng cơ cấu cán bộ tuyên giáo cần kết
hợp chặt chẽ việc trẻ hóa đội ngũ cán bộ với việc sử dụng tốt số cán bộ hiện
có, số cán bộ có kinh nghiệm, số cán bộ trẻ được đào tạo cơ bản, có trình độ
chuyên môn. Việc xây dựng cơ cấu cán bộ tuyên giáo phải trên cơ sở khoa
học, gắn với yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan ban tuyên giáo.
Chất lượng của đội ngũ cán bộ tuyên giáo là sự tổng hợp chất lượng
của từng người cán bộ tuyên giáo. Mỗi một cán bộ mạnh, có đủ đức, đủ tài sẽ
tạo nên chất lượng và sức mạnh tổng hợp của toàn đội ngũ cán bộ tuyên giáo.
Chất lượng của mỗi cán bộ tuyên giáo được biểu hiện ở bản lĩnh
chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, ở trình độ được đào tạo về chuyên môn,
trình độ về lý luận chính trị và tri thức khoa học.
Người cán bộ tuyên giáo phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên
định với mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, là người tiêu biểu
cho lý tưởng cách mạng, có lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc và nhân
dân, trung thành với lý tưởng của giai cấp và dân tộc. Bất luận trong hoàn
cảnh nào họ cũng phải là người cầm lái giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa. Trong điều kiện hiện nay, phẩm chất chính trị của người cán bộ tuyên
giáo phải được đặt lên hàng đầu, là tiêu chuẩn quan trọng quyết định chất
lượng của mỗi người cán bộ.
Người cán bộ tuyên giáo phải thực sự là người có đạo đức cách mạng,
đạo đức Hồ Chí Minh. Đạo đức cách mạng của người cán bộ tuyên giáo đó là
lòng trung thành với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, kiên định mục tiêu
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu hết mình vì sự nghiệp cách
mạng của Đảng và dân tộc. Nó được thể hiện ở tinh thần trách nhiệm và gắn
liền với hiệu quả hoạt động, nói đi đôi với làm, mang lại lợi ích thiết thực cho
hóa Trung ương, Ban Khoa giáo Trung ương, ban Tổ chức Trung ương về
21
chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy Ban Tuyên giáo tỉnh ủy, thành ủy;
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và Ban Tổ chức Tỉnh ủy Bến Tre đã ban hành
hướng dẫn liên ban số 10-HDLB/BTGTU-BTCTU, ngày 11/5/2006 về chức
năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Ban tuyên giáo Huyện ủy, Thị xã ủy
cho phép biên chế của ban tuyên giáo cấp huyện từ 7 đến 8 đồng chí, theo các
phương án sau:
* Phương án 1:
- Trưởng ban (là Uỷ viên Thường vụ);
- Phó Trưởng ban Thường trực (là cấp uỷ viên);
- Phó Trưởng ban phụ trách khoa giáo;
- Cán bộ văn phòng và huấn học;
- Cán bộ tuyên truyền;
- Cán bộ khoa giáo;
- Cán bộ lịch sử Đảng.
* Phương án 2:
- Trưởng ban (là Uỷ viên Thường vụ);
- Phó Trưởng ban Thường trực (là cấp uỷ viên);
- Phó Trưởng ban phụ trách khoa giáo;
- Cán bộ văn phòng;
- Cán bộ tuyên truyền; Cán bộ huấn học;
- Cán bộ khoa giáo;
- Cán bộ lịch sử Đảng.
1.2.2.2. Về cơ cấu đội ngũ
Được xây dựng theo phương hướng đồng bộ, chuyên sâu và chuyên
môn hóa. Số lượng chuyên viên phải chiếm tỷ trọng lớn. Số cán bộ lãnh đạo ở
thức tổng hợp về lĩnh vực chính trị - xã hội, kiến thức về giáo dục con người.
Hiểu biết về thế giới hiện đại, về đất nước, xã hội và con người Việt Nam trên
phương diện truyền thống, tâm lý, văn hóa…Hiểu biết sâu sắc nền tảng khoa
23
học giáo dục, lý luận nhận thức, hiểu biết các quá trình tư tưởng diễn ra trong
xã hội, những quy luật của hoạt động tư tưởng, quy luật và cơ chế tác động để
hình thành ý thức xã hội.
- Về phẩm chất chính trị và đạo đức lối sống
Trước hết là bản lĩnh chính trị và sự kiên định chính trị. Trong bối
cảnh xã hội phức tạp, rất nhiều luồng tư tưởng khác nhau, nhiều ý kiến khác
nhau thì người cán bộ tuyên giáo, bằng trí tuệ của mình, bằng tấm lòng của
mình, phải biết tìm ra trong bộn bề cái phức tạp ấy, cái đúng về bản chất để tự
thuyết phục mình, rồi mới thuyết phục người khác. Việc kịp thời cung cấp
thông tin là rất cần thiết, nhưng vấn đề là trong những thông tin đó, cán bộ
cung cấp thông tin cần phân tích thế nào là đúng và định hướng công tác như
thế nào, định hướng dư luận ra sao. Điều đó đòi hỏi bản lĩnh, sự kiên định.
Nếu chỉ nghe dư luận rồi vội vàng nghe theo, tin vào cái đó và dao động thì
thuyết phục ai? Định hướng cho ai? Cho nên bản lĩnh và sự kiên định là cực
kỳ quan trọng, là phẩm chất số một, đòi hỏi ở người làm công tác tuyên giáo.
Thứ hai, sự nhạy bén và sắc bén. Trong bối cảnh bùng nổ thông tin và
đang có sự phân hóa về mặt tư tưởng thì sự nhạy bén, phát hiện sớm vấn đề,
dự báo vấn đề là rất quan trọng. Nhưng nhạy bén thôi thì còn chưa đủ, mà cần
phải sắc bén. Đây là thời đại đấu tranh tư tưởng quyết liệt, đấu tranh nội bội,
đấu tranh với kẻ thù, muốn đấu tranh được thì phải rất sắc bén, lập luận sắc
bén thì mới thắng được.
Thứ ba, sự say mê. Phải coi tuyên giáo là một nghề, mà đã là nghề
muốn giỏi thì phải say mê. Nghề này đòi hỏi phải tích lũy từng bước một.
giống như người đi truyền đạo. Việc thuyết phục quần chúng, vận động quần
chúng quan trọng vô cùng. Thuyết phục phải bằng trí tuệ, lòng chân thành,
phải nói những điều chính mình rung động, chính mình trăn trở thì mới có sức
thuyết phục.
25
Thứ tư, có năng lực sử dụng các phương tiện thông tin tuyên truyền
đại chúng, nhất là sử dụng các phương tiện hiện đại, để tác động đến ý thức
quần chúng. Có khả năng giúp cấp ủy chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, phối hợp
hoạt động của các cơ quan thông tin tuyên truyền đại chúng.
Thứ năm, có năng lực tham mưu, giúp cấp ủy ướng dẫn, triển khai,
chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện các chương trình học tập lý luận chính trị cho
các đối tượng.
Thứ sáu, có năng lực tham mưu, giúp cấp ủy hướng dẫn, triển khai
việc thực hiện đường lối, chủ trương và những định hướng tư tưởng của Đảng
trong lĩnh vực văn hóa-văn nghệ, khoa giáo, nghiên cứu lịch sử Đảng ở địa
phương.
Thứ bảy, có năng lực độc lập nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn,
nhất là năng lực nghiên cứu phân tích, phê phán, tổng kết các vấn đề chính trị
và tư tưởng – chính trị, khả năng nắm bắt, hướng dẫn dư luận xã hội, phát
hiện, lý giải những khuynh hướng tư tưởng phát sinh trong đời sống xã hội và
trong các tầng lớp dân cư khác nhau.
1.3. Sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
tuyên giáo cấp huyện ở tỉnh Bến Tre
1.3.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước
1.3.1.1. Bối cảnh quốc tế
Hòa bình, hợp tác vẫn là xu hướng lớn của sự phát triển. Toàn cầu
hóa và hội nhập quốc tế chi phối tất cả các quốc gia, tạo nên các thời cơ và