Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện lệ thủy, tỉnh quảng bình - Pdf 38

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

PHẠM ANH TUẤN

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở HUYỆN LỆ THỦY,
TỈNH QUẢNG BÌNH

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60 34 04 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
(BÁO CÁO TIẾN ĐỘ)

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS. BÙI DŨNG THỂ

HUẾ, 2016


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU...........................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài.............................................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu..................................................................................................................3
3. Phương pháp nghiên cứu...........................................................................................................3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.............................................................................................5
5. Kết cấu luận văn........................................................................................................................5
Chương 1.......................................................................................................................................6
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH QUYỀN VÀ CÁN BỘ CÔNG
CHỨC CẤP XÃ............................................................................................................................6
1.1. Chính quyền cấp xã và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.....................................................6

.....................................................................................................................................................56
2.3.1. Qui mô và cơ cấu mẫu.......................................................................................................56
2.3.2. Thống kê mô tả về đánh giá của các đối tượng điều tra về chất lương cán bộ công chức 57
2.3.5. Đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của CBCC cấp xã huyện Lệ Thủy.............61
2.4 Đánh giá chung về đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Huyện Lệ Thủy................................63
2.4.1 Mặt được.............................................................................................................................64

i


2.4.2 Mặt chưa được....................................................................................................................65
2.4.3 Nguyên nhân mặt chưa được..............................................................................................67
Chương 3.....................................................................................................................................70
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
HUYỆN LỆ THỦY TRONG THỜI GIAN TỚI.........................................................................70
3.1. Quan điểm về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã.............................................70
3.1.1. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phải nhận thức đúng đắn vị trí,
vai trò cấp xã...............................................................................................................................70
3.1.2 Mục tiêu về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã...................................................71
3.1.3 Những định hướng về công tác cán bộ của tỉnh Quảng Bình và Huyện Lệ Thủy..............71
3.2 Các giải pháp chủ yếu............................................................................................................72
3.2.1 Rà soát, phân loại đội ngũ cán bộ , công chức xã..............................................................72
3.2.2 Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã.................................................73
3.2.3 Tổ chức thi tuyển một số chức danh CBCC; đổi mới việc thực hiện chế độ chính sách thu
hút người có bằng cấp chuyên môn nghiệp vụ cao về công tác cấp xã.......................................75
3.2.4 Cụ thể hóa tiêu chuẩn các chức danh cán bộ, công chức; tiêu chuẩn đánh giá và thực hiện
tốt việc đánh giá cán bộ, công chức cấp xã.................................................................................78
3.2.5 Thực hiện tốt chế độ, chính sách về quyền lợi cán bộ, công chức cấp xã..........................84
3.2.6 Tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn của ngành dọc cấp trên đối với cán bộ, công
chức cơ sở thực hiện nhiệm vụ....................................................................................................85

iii


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước bao gồm nhiều cấp (cấp trung ương, cấp tỉnh,
cấp huyện, cấp xã); tuy nhiên, cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn (sau đây gọi
chung là cấp xã) lại có tầm quan trọng hàng đầu đối với quá trình phát triển kinh tế ở các
địa phương; bởi vì: Chính quyền cấp xã, phường, thị trấn (hay còn gọi là chính quyền cấp
xã) có vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống chính trị - hành chính. Là cầu nối trực tiếp
của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân, thực hiện hoạt động quản lý nhà nước
trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương theo
thẩm quyền được phân cấp, đảm bảo cho các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, được triển khai thực hiện trong cuộc sống.
Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và
hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành công vụ. Hiệu lực, hiệu
quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, xét đến
cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
vững vàng về chính trị, văn hóa, có đạo đức lối sống trong sạch, có trí tuệ, kiến thức và
trình độ năng lực để thực thi chức năng, nhiệm hiệm vụ theo đúng pháp luật, bảo vệ lợi
ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và phục vụ nhân dân... là một trong những nhiệm vụ
trọng tâm của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị.
Đảng và Nhà nước ta đã xác định công tác cán bộ là khâu quan trọng nhất, có ý
nghĩa quyết định tới chất lượng và hiệu quả công việc, là khâu then chốt trong sự nghiệp
cách mạng, là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào những thành công trong
sự nghiệp đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Lúc sinh
thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định “Cán bộ là những người đem chính sách
của Đảng, của Chính phủ, giải thích cho dân chúng hiểu và thi hành. Đồng thời đem
tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách

lượng cán bộ, công chức cấp xã của huyện Lệ Thủy gần như vẫn chưa thực sự đáp ứng
nhu cầu phát triển của địa phương ở trong điều kiện mới, đặc biệt là đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã ở các xã miền núi, xã đồng bào ít người và các xã bãi ngang, cồn bải.

2


Vì vậy, nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã ở địa phương là đòi hỏi bấc thiết
trong thời gian tới.
Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề trên nên tôi chọn nghiên cứu
đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Lệ
Thủy, tỉnh Quảng Bình”, làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Là xác định những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình; từ đó nâng cao ảnh hưởng của các chính
sách và chủ trương của nhà nước đối với địa phương, thúc đẩy kinh tế địa phương phát
triển, góp phần giải quyết các vấn đề mà nền kinh tế xã hội ở địa phương đang đặt ra.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiển về chất lượng nguồn nhân lực và chất
lượng cán bộ, công chức cấp xã.
- Phân tích thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp xã của huyện Lệ Thủy
hiện nay.
- Xác định các nhân tố và vai trò của các ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ, công
chức cấp xã.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế địa phương trong giai đoạn
mới.
3. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã nêu ở trên, luận văn sử dụng kết hợp các

3.2. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:
Phương pháp phân tích được sử dụng trong luận văn này bào gồm phân tích thống
kê mô tả như tính giá trị phần trăm, giá trị trung bình, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất và
các kiểm định thống kê phù hợp. Phương pháp thống kê kiểm định như t test, ANOVA
để kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng.
4


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tương nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là chất lượng đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã của Huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
-

Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung: Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu, đề tài không đi sâu vào phân tích
quá trình phát triển của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng
Bình mà tập trung đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Huyện Lệ Thủy trong thời gian vừa qua.
Về thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2013 đến năm 2015 và sơ cấp
thu thấp vào năm 2016
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận
văn có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về cán bộ, công chức cấp xã
Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở Huyện Lệ
Thủy, Tỉnh Quảng Bình.
Chương 3: Định hướng và các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã ở huyện Lệ Thủy, Tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2015- 2020.

6


Chính quyền được hiểu là bộ máy điều khiển, quản lý công việc của nhà nước
và hoạt động của nó mang tính chất quyền lực của Nhà nước, bằng phương thức tác
động của Nhà nước. Cấp xã là đơn vị cấp dưới cùng, vì thế Chính quyền cấp xã bao
gồm HĐND và UBND. Qua đó có thể hiểu, chính quyền cấp xã là một cấp cuối cùng
trong hệ thống chính quyền 4 cấp của Việt Nam, là nơi trực tiếp thực hiện các chủ
trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các mục tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh
quốc phòng ở cơ sở, thực hiện việc quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn.
Từ những phân tích trên đây, có thể nêu khái quát khái niệm chính quyền cấp xã
như sau: Chính quyền cấp xã bao gồm HĐND và UBND là cấp thấp nhất trong hệ thống
chính quyền 4 cấp ở Việt Nam, thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương, có chức
năng thay mặt nhân dân địa phương, căn cứ vào nguyện vọng của nhân dân địa phương,
quyết định và tổ chức thực hiện những vấn đề có liên quan đến phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đời sống của nhân dân địa phương, theo Hiến pháp,
pháp luật và các mệnh lệnh, quyết định của cấp trên.
1.1.1.2 Đặc điểm của chính quyền cấp xã
Chính quyền cấp xã có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, chính quyền cấp xã có HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương và UBND do HĐND bầu ra là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương. Vì thế, chính quyền cấp xã là cấp trực tiếp thực hiện
nhiệm vụ cụ thể về quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã
hội, an ninh quốc phòng ở cơ sở, là cầu nối trực tiếp giữa nhà nước và nhân dân, xử lý
trực tiếp, kịp thời những yêu cầu hàng ngày của nhân dân.
Thứ hai, chính quyền cấp xã khác với chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện: Tổ chức
bộ máy chính quyền cấp xã chỉ bao gồm cơ quan quyền lực nhà nước là HĐND là cơ
quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân ở địa phương và UBND là cơ
quan chấp hành của HĐND và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, không có
các cơ quan tư pháp: Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân.

kết hợp hài hòa các lợi ích: Nhà nước, dân cư và giữa dân cư với nhau. Chính quyền ở
đây không chỉ là cơ quan cai trị- quản lý mà còn là cơ quan thể hiện lợi ích chung của
dân cư.
8


Trong khi tổ chức quyền lực nhà nước ở cấp trung ương có việc phân chia, hoặc
phân công phân nhiệm một cách rạch ròi giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp. Cấp tỉnh,
cấp huyện cũng có cơ quan tư pháp - Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân. Riêng
cấp xã, trong cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền chỉ có HĐND là cơ quan quyền lực
nhà nước ở địa phương và UBND là cơ quan chấp hành của HĐND và là cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương, thậm chí UBND cấp xã, phường, thị trấn trong nhiều
trường hợp còn phải kiêm nhiệm luôn cả chức năng tư pháp (xét xử, hòa giải).
1.1.1.3 Phân loại các đơn vị hành chính cấp xã
Cấp xã là cấp cuối cùng trong hệ thống hành chính 4 cấp. Tính đến ngày 31
tháng 12 năm 2012, nước ta có 11.121 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm: 1.448
phường, 623 thị trấn và 9.050 xã[2].
Qua 25 năm đổi mới chúng ta đã thu được những thành tựu về kinh tế. Nó là
nền tảng cho việc đổi mới hệ thống chính trị, trong đó có đổi mới tổ chức và hoạt động
của chính quyền cơ sở đổi mới hệ thống chính trị trở thành xúc tác, động lực cho đổi
mới kinh tế thu được kết quả. Một trong những yếu tố góp phần nâng cao vai trò của
chính quyền cơ sở trong việc quản lý xã hội là Đảng, Nhà nước ta đã xác định được tiêu
chí phân loại đơn vị hành chính cấp xã trên cơ sở các điều kiện tự nhiên, xã hội, phong
tục, tập quán.
Dựa trên các tiêu chí cụ thể, xã, phường, thị trấn được phân làm ba loại đơn vị
hành chính. Theo nghị định số 159/2005 ngày 27/12/2005 của Chính phủ về phân loại
đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn gồm :
- Xã, phường, thị trấn loại 1;
- Xã, phường, thị trấn loại 2;
- Xã, phường, thị trấn loại 3.

+ Các yếu tố đặc thù: Xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và xã ATK
được tính 20 điểm;

10


Xã có số lao động Nông – lâm – ngư – diêm nghiệp chiếm thấp hơn hoặc bằng
45% tổng số lao động toàn xã hội được tính 10 điểm;
Xã có tỷ lệ thu ngân sách bình quân hằng năm trên địa bàn (tính bình quân
trong 03 năm đến năm ngân sách gần nhất) đạt 100% kế hoạch được tính 05 điểm, thu
đạt thêm 10% được tính thêm 02 điểm đến tối đa không quá 15 điểm;
Xã có tỷ lệ tín đồ tôn giáo chiếm từ 30 đến 50% dân số được tính 10 điểm,
chiếm trên 50% dân số được tính 15 điểm.
- Đối với phường và thị trấn:
+ Về dân số: Phường và thì trấn có dân số dưới 3.000 nhân khẩu được tính 45
điểm; phường và thị trấn có từ 3.000 đến 10.000 nhân khẩu, cứ tăng 1.000 nhân khẩu
được tính thêm 10 điểm và được tính từ 46 đến 115 điểm; phường và thị trấn có trên
10.000 nhân khẩu cứ tăng 1.000 nhân khẩu được tính thêm 09 điểm và được tính từ 116
đến không quá 200 điểm.
+ Về diện tích: Phường và thị trấn có diện tích tự nhiên dưới 500 ha được tính
30 điểm; phường và thị trấn có từ 500 ha đến 2.000 ha, cứ tăng 500 ha được tính thêm
10 điểm và được tính từ 31 đến 60 điểm; phường và thị trấn có trên 2.000 ha, cứ tăng
500 ha được tính thêm 08 điểm và được tính từ 61 đến không quá 100 điểm.
+ Các yếu tố đặc thù: Phường và thị trấn miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa
và ATK được tính 20 điểm;
Phường thuộc đô thị loại đặc biệt được tính 20 điểm, phường thuộc đô thị loại I
được tính 15 điểm; phường thuộc đô thị loại II được tính 10 điểm; phường thuộc đô thị
loại III được tính 08 điểm và phường thuộc đô thị loại IV được tính 05 điểm; thị trấn có
vị trí trung tâm huyện lỵ được tính 10 điểm;
Phường và thị trấn có tỷ lệ thu ngân sách bình quân hàng năm trên địa bàn (tính

Khoản 2 Điều 4 quy định về công chức:
“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức
vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân
dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong
12


cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên
nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng
sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự
nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công
chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo
đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Như vậy, thuật ngữ công chức nói chung, công chức xã - thị trấn nói riêng theo
quy định tại khoản 3, điều 4 “Luật cán bộ, công chức” được Quốc hội thông qua ngày
13 tháng 11 năm 2008, cụ thể “ Công chức cấp xã là công dân Việt Nam, được tuyển
dụng, giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban Nhân dân cấp xã, trong
biên chế và hưởng lương từ Ngân sách nhà nước”.
1.1.2.2 Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã
Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc" [39, tr.
269]; "công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém".
Quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và qua thực tiễn cách mạng ở các
nước, các Đảng cộng sản và công nhân quốc tế đều chứng minh và khẳng định vai trò
quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ.
Tính đến 19/4/2002, nước ta có 10.579 đơn vị hành chính cấp xã. Trong kỳ bầu cử
ngày 14/11/1999, tổng số đại biểu HĐND xã, phường, thị trấn được bầu là 227.000 đại biểu.
Tổng số cán bộ xã, phường, thị trấn được hưởng sinh hoạt phí và phụ cấp hàng
tháng từ các nguồn ngân sách và kinh phí khác nhau trong toàn quốc khoảng 2 triệu
người, bình quân mỗi xã, phường, thị trấn có khoảng 190 cán bộ. Cán bộ chuyên trách
bình quân mỗi xã có 22 người. Đại biểu HĐND bình quân mỗi xã có 22 đại biểu; cán bộ

chế, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy
định của pháp luật.
Cán bộ chính quyền cấp xã là bộ phận lớn nhất và rất quan trọng trong đội ngũ
cán bộ của bộ máy chính quyền ở nước ta. Họ vừa là người đại diện của nhân dân trong
quản lý hành chính nhà nước ở địa phương, vừa là người trực tiếp tổ chức thực hiện
quyền hành pháp và quản lý hành chính nhà nước, cũng như thực hiện các nhiệm vụ
quản lý và phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng ở địa
phương. Cán bộ chính quyền cấp xã đã có nhiều đóng góp, trưởng thành trong sự

14


nghiệp bảo vệ và xây dựng tổ quốc qua các thời kỳ cách mạng trước đây và hiện nay, họ
vẫn phát huy được những ưu điểm của mình.
Tuy nhiên, đứng trước những nhiệm vụ to lớn của giai đoạn đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, trước những hoàn cảnh và tình thế
mới, đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã cũng bộc lộ nhiều điểm bất cập cần phải nghiên
cứu khắc phục.
Trước hết, đó là mâu thuẫn giữa số lượng ngày một tăng của đội ngũ cán bộ
chính quyền cấp xã nhưng chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Đội ngũ cán bộ
chính quyền cấp xã tuy rất đông về số lượng nhưng không đủ sức đảm đương được
những công việc trong những điều kiện và tình hình mới của đất nước.
Theo quy định tại Nghị định số 174/CP của Chính phủ ban hành ngày
29/9/1994, cơ cấu của UBND xã, phường, thị trấn gồm có: 1 chủ tịch, 1 phó chủ tịch và
5 ủy viên ủy ban. Với khoảng 1 vạn đơn vị hành chính cấp xã, đội ngũ cán bộ chính
quyền cấp xã có số lượng khoảng 70.000 người.
Nghị định số 50/CP ngày 26/7/1995 quy định, ngoài số ủy viên ủy ban đã nêu
trên, các chức danh khác được bố trí phù hợp với yêu cầu của từng địa phương theo các
mức sau đây:
- Dưới 5.000 dân: 12 cán bộ.

- xã hội phức tạp thì biên chế tối đa theo quy định là ít. Do đó, phát sinh tư tưởng muốn
chia tách thêm đơn vị hành chính để giảm nhẹ công việc, lại được tăng thêm biên chế
cán bộ. Đối với chức danh trưởng thôn, trưởng khu hành chính... nếu làm kiêm thêm
chức danh bí thư chi bộ thì mức sinh hoạt phí chỉ được tính tăng thêm 1,5 lần (nếu làm
nguyên chức danh trưởng thôn, trưởng khu hành chính, bí thư chi bộ... thì được hưởng
mức phụ cấp là 80.000/tháng. Nếu làm kiêm cả hai chức danh thì được hưởng mức phụ
cấp là 120.000/tháng). Do đó chưa kích thích được họ làm kiêm nhiệm cả hai chức
danh. Hầu hết các xã, phường, thị trấn đều có tình trạng tách riêng hai chức danh trưởng
thôn, trưởng khu hành chính... và bí thư chi bộ để tăng thêm cán bộ và giảm nhẹ công
việc.

16


Phần lớn các bộ, ngành đều muốn có chân rết của mình xuống tận cơ sở để tiện
cho việc chỉ đạo, liên hệ, và yêu cầu cần có thêm chức danh trong cơ cấu chính quyền
và hợp thức hóa các chức danh đó. Ý muốn này bắt gặp sự yếu kém về năng lực của cán
bộ cấp xã, sự lúng túng trong chỉ đạo của bộ máy chính quyền đã dẫn tới sự tăng nhanh
số lượng cán bộ ở cấp xã trong những năm qua, làm cho cơ cấu đội ngũ cán bộ chính
quyền cấp xã phình to, tạo gánh nặng cho ngân sách và làm giảm hiệu quả hoạt động
của chính quyền cấp xã. Bình quân mỗi xã có khoảng 190 cán bộ, trong đó có 90 cán bộ
nằm trong diện quy định của Chính phủ, 100 cán bộ do các bộ ngành ở Trung ương và
tỉnh quy định. Ở một số xã, số lượng cán bộ được chi trả hàng tháng dưới các hình thức
sinh hoạt phí, hoạt động phí, phụ cấp từ các nguồn ngân sách và kinh phí khác nhau lên
tới 250 đến 280 định suất.
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo được nhân dân nhiệt liệt
hưởng ứng và hăng hái thực hiện, đã thu được những thành tựu rất quan trọng. Tại Hội
nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng ta đã chỉ ra 4 nguy cơ lớn của
đất nước: Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và toàn
thế giới; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan

lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Thứ hai, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, công tâm, thạo việc, tận tụy với
dân. Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức tổ chức
kỷ luật trong công tác. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được
nhân dân tín nhiệm.
Thứ ba, có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị (LLCT) quan điểm, đường lối
của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ
năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
1.1.3.2 Tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ, công chức cấp xã
- Đối với cán bộ chuyên trách
+ Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy: Có học vấn, trình dộ tốt nghiệp trung học phổ
thông(THPT). Về LLCT có trình độ trung cấp chính trị trở lên. Về chuyên môn, nghiệp
vụ: Ở khu vực đồng bằng và đô thị có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên. Ở khu vực
miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn (tương đương trình độ sơ cấp trở
lên), nếu tham gia giữ chức vụ lần đầu phải có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên.

18


Đã qua bồi dưỡng nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng, nghiệp vụ quản lý hành chính
nhà nước, nghiệp vụ quản lý kinh tế.
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND: Trình độ học vấn phải tốt nghiệp THPT; có
trình độ trung cấp LLCT đối với khu vực đồng bằng; khu vực miền núi phải được bồi
dưỡng LLCT tương đương trình độ sơ cấp trở lên. Có trình độ trung cấp chuyên môn trở
lên. Đã qua bồi dưỡng quản lý Hành chính nhà nước, nghiệp vụ quản lý kinh tê, kiến
thức và kỹ năng hoạt động đại biểu HĐND cấp xã.
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND: Có trình độ học vấn tốt nghiệp THPT; trình độ
trung cấp LLCT trở lên đối với khu vực đồng băng; khu vực miền núi phải được bồi
dưỡng LLCT tương đương Trình độ sơ cấp trở lên. Có trình độ trung cấp chuyên môn
trở lên(đối với khu vực đồng bằng). Với miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức

chuyên môn về văn thư, lưu trữ hoặc hành chính, luật; công chức Văn hóa – Xã hội phải
có chuyên môn về văn hóa nghệ thuật hoặc quản lý văn hóa – thông tin hoặc Lao động –
Thương binh và xã hội;
Tiêu chuẩn cụ thể đối với chức danh Chỉ huy trưởng Quân sự và và Trưởng Công
an xã thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành đối với các chức danh này;
trường hợp pháp luật chuyên ngành không quy định thì thực hiện theo tiêu chuẩn chung
cụ thể đối với CCCM Văn phòng - Thống kê, Địa chính – Xây dựng – Đô thị và môi
trường(đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính – Nông nghiệp – Xây dựng và môi
trường(đối với xã), Tài chính - Kế toán, Tư pháp - Hộ tịch, Văn hóa – Xã hội.
Bảng 1.1: Tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ, công chức cấp xã
TT

Chức danh

Tiêu chuẩn cụ thể
Tuổi đời
Học

LLCT

CM,NV

QLNN

THPT

TC trở

TC trở


Chứng chỉ

lên

lên

vấn
I CÁN BỘ CHUYÊN TRÁCH
1
Bí thư Đảng ủy

lên

SC trở

SC trở

lên

lên

SC trở

SC trở

lên

lên

THPT

SC trở

SC trở

Chứng chỉ

THPT

lên
SC trở


THPT

lên
SC trở

lên
TC trở

Chứng chỉ

THPT

lên
SC trở

lên
TC trở

Chứng chỉ

THPT

lên
SC trở

lên
TC trở

Chứng chỉ


vụ lần đầu
tịch
5

Văn hóa- xã hội

dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status