Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã ở tỉnh Phú Thọ hiện nay - Pdf 29

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng
định: "Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với
vận mệnh của Đảng, của đất nước, của chế độ, là khâu then chốt trong công
tác xây dựng Đảng" [18, tr. 33].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Cán bộ là cái gốc của mọi công
việc. Vì vậy huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng" [39, tr. 269].
Cấp xã (xã, phường, thị trấn) là một cấp trong hệ thống hành chính
bốn cấp của Nhà nước Việt Nam, là nền tảng của hệ thống chính trị. Cấp xã
giữ một vai trò, vị trí hết sức quan trọng, là nơi trực tiếp thực hiện đường lối,
chính sách, pháp luật và nhiệm vụ cấp trên giao, là cấp chính quyền trực tiếp
chăm lo đến đời sống của nhân dân, là cầu nối giữa nhà nước với nhân dân.
Qua từng thời kỳ lịch sử, chính quyền cấp xã không ngừng được xây
dựng và củng cố, bảo đảm cho chính quyền nhà nước vững mạnh từ cơ sở.
Cán bộ là một yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng và củng cố
chính quyền cấp xã vững mạnh. Đồng thời muốn xây dựng và củng cố chính
quyền cấp xã vững mạnh thì phải xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ năng lực và
phẩm chất để thực hiện sự nghiệp đổi mới mà Đảng ta đã khởi xướng.
Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa IX về đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị ở cơ
sở xã, phường, thị trấn nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước đã xác
định từ nay đến năm 2005, cần tập trung giải quyết mấy vấn đề cơ bản và bức
xúc trong đó ghi rõ:
Xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận
động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà
1
nước, công tâm, thạo việc, tận tuỵ với dân, biết phát huy sức dân,
không tham nhũng, không ức hiếp dân; trẻ hóa đội ngũ, chăm lo
công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính
sách đối với cán bộ cơ sở [20, tr. 167-168].

phận không nhỏ cán bộ do tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, đã có biểu
hiện suy thoái về phẩm chất, đạo đức, sống xa dân, quan liêu, hách dịch, cửa
quyền, mất dân chủ, tham nhũng, lãng phí, lợi dụng chức quyền làm trái các
nguyên tắc quản lý, bán và sang nhượng đất trái phép, thậm chí bớt xét tham ô
tiền của nhà nước, bị truy tố trước pháp luật... gây tổn hại không nhỏ đến uy
tín và làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Tình
trạng khiếu kiện kéo dài, khiếu kiện đông người vẫn còn. Bên cạnh đó, hoạt
động của các đại biểu HĐND cấp xã còn nhiều hạn chế. Năng lực, trình độ
của các đại biểu HĐND cấp xã không đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của
nhiệm vụ mà nhân dân giao cho.
Trong bối cảnh trên, cần có một sự nghiên cứu toàn diện về đội ngũ
cán bộ chính quyền cấp xã để có giải pháp nâng cao trình độ năng lực của đội
ngũ cán bộ chính quyền cấp xã ở tỉnh Phú Thọ. Từ những phân tích nêu trên
tác giả lựa chọn đề tài: "Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền
cấp xã ở tỉnh Phú Thọ hiện nay" để làm luận văn thạc sĩ. Đây là vấn đề cấp
bách, phù hợp với yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước hiện nay, phù
hợp với thực tiễn của địa phương.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã từ
năm 1991 đến nay đã được các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và các nhà
hoạt động chính trị quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau như: Học viện
3
Hành chính Quốc gia năm 1991, đã công bố một cuốn sách về: "Cải cách bộ
máy quản lý hành chính nhà nước và xây dựng đội ngũ công chức nhà nước".
Có nhiều công trình khoa học, các luận văn thạc sĩ, cử nhân nghiên
cứu về bộ máy chính quyền cấp xã trong đó có bàn về đội ngũ cán bộ chính
quyền cấp xã. Đáng chú ý là các công trình sau đây: Giáo sư Hồ Văn Thông:
"Tình hình các tổ chức chính trị ở nông thôn nước ta" được in trong cuốn sách
"Kinh tế xã hội nông thôn Việt Nam ngày nay", tập 2, Nxb Tư tưởng văn hóa,
Hà Nội 1991; Lê Đình Chếch: "Về nhà nước xã hội chủ nghĩa và công tác cán

động của hệ thống chính trị các tỉnh miền núi", Hà Nội, 2002.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đều đề cập vấn đề đội
ngũ cán bộ của chính quyền cấp xã, hoặc là ở dạng chung nhất hoặc đặt nó
nằm trong phạm vi nghiên cứu tổ chức hoạt động của bộ máy chính quyền cấp
xã nói chung, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu có hệ thống dưới góc
độ một luận văn khoa học về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền
cấp xã ở một tỉnh cụ thể như đề tài luận văn lựa chọn ở đây. Tuy nhiên, trong
các công trình đã được công bố có những nội dung liên quan đến đề tài sẽ
được tác giả luận văn tham khảo có kế thừa, chọn lọc.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã của tỉnh Phú Thọ
trong giai đoạn hiện nay.
- Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ
thể sau đây:
5
+ Phân tích cơ sở lý luận về cán bộ chính quyền cấp xã và chất lượng
đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã. Trong đó hệ thống hóa những quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng, Nhà nước ta
về đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã; khái niệm và những tiêu chí đánh giá,
những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã.
+ Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã
tỉnh Phú Thọ, qua đó nêu ra những vấn đề tồn tại cần khắc phục cũng như
phân tích các nguyên nhân hạn chế đến chất lượng đội ngũ cán bộ chính
quyền cấp xã ở Phú Thọ.
+ Đề xuất các phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng, đội ngũ
cán bộ chính quyền cấp xã ở Phú Thọ nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi
mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân ở nước ta hiện nay.

gồm 3 chương, 8 tiết.
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ
1.1. CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ VÀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của chính quyền cấp xã
a) Khái niệm chung về chính quyền cấp xã
Trong hệ thống hành chính nước ta, chính quyền xã - phường - thị trấn
(gọi chung là cấp xã) là chính quyền cấp thấp nhất trong hệ thống chính
quyền 4 cấp hoàn chỉnh: Trung ương, tỉnh, huyện, xã.
Tính đến 19 tháng 4 năm 2002, nước ta có 10.579 đơn vị hành chính
xã, phường, thị trấn, trong đó có 8.964 xã, 573 thị trấn, 1.042 phường. Dưới
xã, phường, thị trấn có các cộng đồng dân cư tự quản; dưới xã có thôn, làng,
ấp, bản, buôn. Dưới phường, thị trấn có tổ dân phố, ở một số thành phố, thị xã
giữa phường và tổ dân phố có cụm dân cư, giữa xã và thôn có khu hành
chính. Số lượng xã, phường, thị trấn trong những năm qua không ổn định.
Cùng với quá trình chia tách các tỉnh, huyện, việc thành lập mới các xã,
phường, thị trấn diễn ra ở hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Chỉ trong vòng
7 năm từ 1995 đến 2002 đã tăng 357 đơn vị trong đó có 59 xã, 213 phường và
85 thị trấn. Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể
quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc
phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội ở cơ sở, đảm bảo các chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống, nâng cao mọi mặt đời
sống của nhân dân. Sự trong sạch vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả
8
của chính quyền cấp xã đóng vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động
quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công phục vụ nhân dân.

Chính quyền cấp xã có những đặc điểm sau:
Một là: Chính quyền cấp xã có HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước
ở địa phương và UBND do HĐND bầu ra là cơ quan chấp hành của HĐND,
cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Vì thế, chính quyền cấp xã là cấp
trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể về quản lý hành chính nhà nước trên các
lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng ở cơ sở, là cầu nối trực
tiếp giữa nhà nước và nhân dân, xử lý trực tiếp, kịp thời những yêu cầu hàng
ngày của nhân dân.
Hai là: Chính quyền cấp xã khác với chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện:
Tổ chức bộ máy chính quyền cấp xã chỉ bao gồm cơ quan quyền lực nhà nước
là HĐND là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân ở địa
phương và UBND là cơ quan chấp hành của HĐND và là cơ quan hành chính
nhà nước ở địa phương, không có các cơ quan tư pháp: Viện kiểm sát nhân
dân và Tòa án nhân dân.
Ba là: Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp tiếp xúc với nhân dân; cán
bộ chính quyền cấp xã là người hàng ngày trực tiếp giải quyết những vấn đề
liên quan đến mọi quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân đảm bảo theo đúng
đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, các văn bản pháp
luật của cấp trên. UBND còn có trách nhiệm rất nặng nề phải quản lý mọi mặt
đời sống của nhân dân địa phương cho nên trong hoạt động mang nhiều tính
chất hành chính địa phương.
10
Bốn là: Trong hoạt động của chính quyền cấp xã, giữa HĐND và
UBND khó tách biệt nhau về các lĩnh vực thẩm quyền và UBND có ưu thế
vượt trội: Chính quyền cấp xã được coi là một cấp chính quyền hoàn chỉnh,
bao quát toàn diện đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở
địa bàn cơ sở. Nội dung các nghị quyết của HĐND và quyết định của UBND
nhìn chung là giống nhau, chỉ khác ở chỗ: HĐND quyết định biện pháp, còn
UBND tổ chức thực hiện. Trong khi đó, tổ chức bộ máy của HĐND không đủ
sức hoạt động độc lập mà chủ yếu dựa vào bộ máy của UBND để soạn thảo

ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực thì cách mạng cũng khó thành công.
Cán bộ có vai trò quyết định thắng lợi của cách mạng.
C. Mác, Ph. Ăngghen là người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa
học, là lãnh tụ vĩ đại đầu tiên của phong trào cách mạng vô sản trên thế giới
đã đưa ra những tư tưởng, quan điểm cơ bản về tầm quan trọng của việc xây
dựng đội ngũ cán bộ. Song do điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, chưa có một đảng
vô sản nào giành được chính quyền nên Mác và Ăngghen chưa thể bàn cụ thể
về cán bộ và công tác cán bộ trong điều kiện Đảng cầm quyền. Nhưng chính
các ông đã trực tiếp bắt tay vào việc tuyển chọn, xây dựng đội ngũ cán bộ cho
tổ chức cộng sản có tính quốc tế đầu tiên là "Ủy ban thông tin cộng sản".
Trong Đại hội "Liên đoàn những người cộng sản", Mác và Ăngghen đã nêu rõ
nguyên tắc tổ chức một đảng cách mạng của giai cấp vô sản là phải lựa chọn
cho mình những đại biểu công nhân giác ngộ nhất, tiêu biểu nhất theo phương
châm: Cần phải sàng lọc từng người một.
V.I. Lênin là người đã vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của chủ
nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử cụ thể của nước Nga. Trong tác phẩm "Những
nhiệm vụ bức thiết của phong trào chúng ta", khi nói về vai trò của người lãnh
12
đạo phong trào cách mạng, Người đã chỉ rõ: "Trong lịch sử, chưa hề có một
giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong
hàng ngũ của mình những lãnh đạo chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ
khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào" [30, tr. 473].
Tổng kết những năm đầu của cách mạng (1917-1922), V.I. Lênin đã
khẳng định: "Nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh. Hiện nay
đó là then chốt; nếu không thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là
mớ giấy lộn" [33, tr. 449].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: "Cán bộ là cái gốc của mọi công
việc" [39, tr. 269]; "công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt
hay kém".
Quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và qua thực tiễn cách

chính sách chế độ về cơ bản như cán bộ, công chức nhà nước; khi không còn
là cán bộ chuyên trách mà chưa đủ điều kiện để hưởng chế độ hưu trí, được
tiếp tục tự đóng bảo hiểm xã hội hoặc hưởng phụ cấp một lần theo chế độ
nghỉ việc. Cán bộ, công chức cơ sở có đủ điều kiện được thi tuyển vào ngạch
công chức ở cấp trên.
Theo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ,
công chức, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2003, tại điểm g và h khoản 1,
Điều 1 quy định: Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm
kỳ trong thường trực HĐND, UBND; Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy; người đứng
đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn và những người được tuyển
dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã
được gọi là cán bộ công chức nhà nước trong biên chế, được hưởng lương từ
ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật.
14
Cán bộ chính quyền cấp xã là bộ phận lớn nhất và rất quan trọng trong
đội ngũ cán bộ của bộ máy chính quyền ở nước ta. Họ vừa là người đại diện
của nhân dân trong quản lý hành chính nhà nước ở địa phương, vừa là người
trực tiếp tổ chức thực hiện quyền hành pháp và quản lý hành chính nhà nước,
cũng như thực hiện các nhiệm vụ quản lý và phát triển kinh tế, văn hóa - xã
hội, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng ở địa phương. Cán bộ chính quyền
cấp xã đã có nhiều đóng góp, trưởng thành trong sự nghiệp bảo vệ và xây
dựng tổ quốc qua các thời kỳ cách mạng trước đây và hiện nay, họ vẫn phát
huy được những ưu điểm của mình.
Tuy nhiên, đứng trước những nhiệm vụ to lớn của giai đoạn đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, trước những hoàn cảnh
và tình thế mới, đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã cũng bộc lộ nhiều điểm
bất cập cần phải nghiên cứu khắc phục.
Trước hết, đó là mâu thuẫn giữa số lượng ngày một tăng của đội ngũ
cán bộ chính quyền cấp xã nhưng chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ. Đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã tuy rất đông về số lượng nhưng không

không phải là nhỏ. Ngoài số đó ra còn có 227.000 người là đại biểu HĐND và
hàng trăm ngàn các trưởng thôn, trưởng bản, trưởng các cụm dân cư, những
người đang được chính quyền cấp xã trao những quyền hạn nhất định về quản
lý hành chính, tạo thành một đội ngũ cán bộ đông đảo ở cấp xã trong toàn
quốc.
Việc quy định số lượng cán bộ chính quyền cấp xã tính theo quy mô
dân số là chủ yếu, và quy định mức tối thiểu là 17 người và mức tối đa không
quá 25 người là chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tế. Cụ thể là đối với
16
xã, phường, thị trấn quá ít dân cư (dưới 1.000 người) thì biên chế cho 17
người là nhiều; còn đối với xã, phường, thị trấn có quá đông dân cư (trên
30.000) mà lại có địa hình tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội phức tạp thì
biên chế tối đa theo quy định là ít. Do đó, phát sinh tư tưởng muốn chia tách
thêm đơn vị hành chính để giảm nhẹ công việc, lại được tăng thêm biên chế
cán bộ. Đối với chức danh trưởng thôn, trưởng khu hành chính... nếu làm
kiêm thêm chức danh bí thư chi bộ thì mức sinh hoạt phí chỉ được tính tăng
thêm 1,5 lần (nếu làm nguyên chức danh trưởng thôn, trưởng khu hành chính,
bí thư chi bộ... thì được hưởng mức phụ cấp là 80.000/tháng. Nếu làm kiêm
cả hai chức danh thì được hưởng mức phụ cấp là 120.000/tháng). Do đó chưa
kích thích được họ làm kiêm nhiệm cả hai chức danh. Hầu hết các xã,
phường, thị trấn đều có tình trạng tách riêng hai chức danh trưởng thôn,
trưởng khu hành chính... và bí thư chi bộ để tăng thêm cán bộ và giảm nhẹ
công việc.
Phần lớn các bộ, ngành đều muốn có chân rết của mình xuống tận cơ
sở để tiện cho việc chỉ đạo, liên hệ, và yêu cầu cần có thêm chức danh trong
cơ cấu chính quyền và hợp thức hóa các chức danh đó. Ý muốn này bắt gặp
sự yếu kém về năng lực của cán bộ cấp xã, sự lúng túng trong chỉ đạo của bộ
máy chính quyền đã dẫn tới sự tăng nhanh số lượng cán bộ ở cấp xã trong
những năm qua, làm cho cơ cấu đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã phình to,
tạo gánh nặng cho ngân sách và làm giảm hiệu quả hoạt động của chính

1.2.1. Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Nxb Đà Nẵng xuất bản
năm 2000 định nghĩa: "Chất lượng: Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con
người, một sự vật, sự việc" [46, tr. 144].
18
Khi đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã, một vấn
đề đặt ra là hiểu cho đúng thế nào là chất lượng của đội ngũ cán bộ. Chất
lượng của đội ngũ cán bộ được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:
Chất lượng của đội ngũ cán bộ được thể hiện thông qua hoạt động của
bộ máy chính quyền cấp xã, ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của
chính quyền cấp xã.
Chất lượng của đội ngũ cán bộ được đánh giá dưới góc độ phẩm chất
đạo đức, trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao cũng
như hiệu quả công tác của họ.
Chất lượng của đội ngũ cán bộ là chỉ tiêu tổng hợp chất lượng của
từng cán bộ. Đối với đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã, muốn xác định chất
lượng cao hay thấp ngoài việc đánh giá phẩm chất đạo đức phải có hàng loạt
chỉ tiêu đánh giá trình độ năng lực và sự tín nhiệm của nhân dân địa phương.
Chẳng hạn, các lớp đào tạo huấn luyện đã qua; bằng cấp (kể cả ngoại ngữ, tin
học) về chuyên môn, kỹ thuật, quản lý nhà nước, pháp luật v.v...; độ tuổi;
thâm niên công tác v.v...
Chất lượng của đội ngũ cán bộ còn được đánh giá dưới góc độ khả
năng thích ứng, xử lý các tình huống phát sinh của người cán bộ, công chức
đối với công vụ được giao.
Công vụ là một hoạt động gắn liền với công chức, là một loại lao động
đặc thù để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước; thi hành pháp luật - đưa
pháp luật vào đời sống; quản lý và sử dụng có hiệu quả công sản và ngân sách
Nhà nước phục vụ nhiệm vụ chính trị.
Từ những góc độ khác nhau nêu trên, có thể đưa ra khái niệm chất
lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã như sau: Chất lượng đội ngũ cán

Người đã xác định: "Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy" và Người nhấn
mạnh: "Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể
thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực
hiện được" [39, tr. 54]. Người cán bộ tốt ở đây phải là người có đủ cả năng lực
trình độ lẫn đạo đức cách mạng. Bác yêu cầu: "Một người cán bộ tốt phải có
đạo đức cách mạng" [39, tr. 223]. Và muốn có đạo đức cách mạng, mỗi người
cán bộ - theo Bác, phải có được các phẩm chất trí, tín, nhân, dũng, liêm. Khi
điều kiện và tình hình cách mạng thay đổi, trong khi nói chuyện với anh, chị
em công chức ở Thủ đô, Bác đã nhắc nhở: "Chúng ta phải cố gắng thực hiện
cần, kiệm, liêm, chính". Theo Bác:
Trước hết là cần, tức là tăng năng suất trong công tác, bất kỳ
là công tác gì.
Kiệm tức là không lãng phí thì giờ, của cải của mình và của
nhân dân.
Liêm tức là không tham ô và luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của
công và của nhân dân.
Chính tức là việc phải thì dù nhỏ cũng làm, việc trái thì dù
nhỏ cũng tránh [41, tr. 392].
Bác nói: "Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền
hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chímh thì dễ trở nên hủ bại,
biến thành sâu mọt của dân" [39, tr. 104]. Ngay từ những ngày đầu xây dựng
chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Mình có quyền dùng người thì
phải dùng những người có tài năng, làm được việc. Chớ vì bà con bầu bạn,
mà kéo vào chức nọ, chức kia. Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ có tài
năng hơn mình" [39, tr. 105].
21
Về trình độ năng lực: Năng lực là một khái niệm rộng, tùy thuộc vào
môi trường và trách nhiệm, vị thế của mỗi người, mỗi cán bộ trong những
điều kiện cụ thể.
Năng lực là những phẩm chất tâm lý mà nhờ chúng con người tiếp thu

Năng lực thể hiện ở chỗ, con người làm việc tốn ít sức lực, ít thời
gian, của cải, mà kết quả lại tốt. Việc phát hiện ra năng lực của con người
thường căn cứ vào những dấu hiệu sau: Sự hứng thú đối với công việc nào đó;
sự dễ dàng tiếp thu kỹ năng nghề nghiệp; hiệu suất lao động trong lĩnh vực
đó.
Năng lực có năng lực chung và năng lực chuyên môn, giữa chúng có
mối quan hệ ảnh hưởng, tương hỗ lẫn nhau. Năng lực chung cho phép con
người có thể thực hiện có kết quả những hoạt động khác nhau như hoạt động
học tập, lao động... Năng lực chuyên môn cho phép người ta làm tốt một loại
công việc nào đó như âm nhạc, hội họa, văn học, toán học...
Năng lực con người thường gắn liền với sở thích của người ấy. Con
người có sở thích, hứng thú về một hoạt động nào đấy thường nói lên năng
lực của người đó về mặt hoạt động đó. Năng lực không chỉ thể hiện trong
những hoạt động lao động trí óc thuần túy mà thể hiện cả trong hoạt động thể
lực. Năng lực phát triển trong quá trình hoạt động. Người lười biếng, trốn
tránh hoạt động lao động trí óc cũng như lao động chân tay thì năng lực
không thể phát triển được.
Đối với cán bộ chính quyền cấp xã, năng lực thường bao gồm những
tố chất cơ bản về đạo đức cách mạng, về tinh thần phục vụ nhân dân, về trình
23
độ kiến thức pháp luật, kinh tế, văn hóa, xã hội... Sự am hiểu và nắm vững
đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, thành thạo nghiệp vụ chuyên
môn, kỹ thuật xử lý thông tin... để giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý
nhà nước một cách khôn khéo, minh bạch, dứt khoát, hợp lòng dân và không
trái pháp luật. Người cán bộ quản lý phải được đào tạo sâu về nghề mình phụ
trách, phải am hiểu công việc chuyên môn do mình phụ trách, phải có kinh
nghiệm hoạt động thực tiễn. Đồng thời, người cán bộ phải có sự ham mê, yêu
nghề, chịu khó học hỏi, tích lũy kinh nghiệm. Người cán bộ phải có khả năng
thu thập thông tin, chọn lọc thông tin, khả năng quyết định đúng đắn, kịp thời.
Vì vậy, việc nâng cao nhận thức, trình độ hiểu biết và năng lực tổ chức thực

thể có những ý kiến nhưng nhìn chung về cơ bản vẫn tương đối dễ dàng thông
qua; nhưng đề bạt một cán bộ trung niên hay thanh niên thì thường hay có
những cái nhìn khắt khe hơn, việc thông qua khó khăn hơn và nhất là thường
cho rằng cán bộ trẻ chưa có đóng góp nhiều cho đất nước.
Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói
đến vấn đề cán bộ cũ và cán bộ mới. Đảng càng phát triển thì cần đến cán bộ
mới càng nhiều. Theo quy luật tự nhiên, khi cán bộ cũ già đi, "nếu không có
cán bộ mới thế vào, thì ai gánh vác công việc của Đảng" [39, tr. 237].
Tài năng của một con người không phải là bất biến suốt đời, mà là
một quá trình vận động như mũi tên bay. Khoa học nghiên cứu và thấy rằng
đường cong tuổi tác của những người làm công tác quản lý nói chung thì ở
độ tuổi 50 là tuổi đỉnh cao. Khi nói về phẩm chất, năng lực của người cán
bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói: Người có đức mà không có tài thì làm
việc gì cũng khó, người có tài mà không có đức thì vô dụng. Nhưng chữ
25

Trích đoạn Nhận thức đúng đắn vai trò của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã Quan điểm mới về nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã và chế độ chính sách đối với đội ngũ cán bộ chính Tiến hành rà soát, đánh giá tổng thể đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã làm cơ sở cho công tác quy hoạch, đào tạo, sử dụng cán bộ Xây dựng chiến lược, quy hoạch cán bộ cấp xã đảm bảo khoa học, hợp lý Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc bầu và giám sát hoạt động của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status