Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã ở huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh - Pdf 28

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG
CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ 5

2.1 Cơ sở lý luận về chất lượng cán bộ công chức cấp xã 5

2.1.1 Khái quát chung về cán bộ công chức cấp xã 5

2.1.2 Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã 13

3.2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 41

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42

4.1 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện
Thuận Thành 42

4.1.1 Số lượng cán bộ, công chức cấp xã huyện Thuận Thành 42

4.1.2 Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã của huyện 44

4.2 Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã, thị
trấn của huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh 47

4.2.1 Tự đánh giá của cán bộ công chức xã, thị trấn về chất lượng đội ngũ
cán bộ 47

4.2.2 Đánh giá của người dân về chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp
xã, thị trấn 52

4.2.3 Đánh giá của cán bộ lãnh đạo huyện về chất lượng đội ngũ cán bộ
công chức cấp xã, thị trấn 55

4.2.3 Khả năng hoàn thành nhiệm vụ 55

4.2.4 Đánh giá chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã huyện Thuận Thành 56

4.3 Thực trạng công tác nâng cao chất lượng cán bộ công chức cấp xã ở huyện 58

4.3.1 Thực trạng công tác quy hoạch cán bộ, công chức cấp xã 58


TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CBCC Cán bộ, công chức
HĐND Hội đồng nhân dân
UBND Ủy ban nhân dân
MTTQ Mặt trận tổ quốc
CNH Công nghiệp hóa
HĐH Hiện đại hóa
HTCT Hệ thống chính trị
CNXH Chủ nghĩa xã hội
QLNN Quản lý nhà nước

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii


1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Gần 80 năm lãnh đạo cách mạng, đặc biệt sau Đại hội đổi mới (Đại hội
VI năm 1986) đến nay; công tác cán bộ, công chức luôn được Đảng và Nhà
nước ta chú trọng và quan tâm. Hội nghị trưng ương 3-khóa VIII, Đảng đã
khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng,
gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt
trong việc xây dựng Đảng”.
Ở nước ta, cấp xã (xã, phường, thị trấn) là một trong bốn cấp hành
chính. Cấp xã là thấp nhất, gần dân nhất, là cấp trực tiếp tổ chức và vận động
nhân thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc
sống của cộng đồng dân cư. Thực tiễn cho thấy nơi đâu có quan tâm đầy đủ
và làm tốt công tác cán bộ, công chức ở cơ sở, có đội ngũ cơ sở vững mạnh
thì nơi đó tình hình chính trị-xã hội ổn định, kinh tế, văn hóa phát triển, quốc
phòng an ninh được giữ vững. Ngược lại, ở đâu công tác cán bộ không được
quan tâm, đội ngũ cán bộ, công chức không có đủ phẩm chất, năng lực và uy
tín thì sẽ gặp khó khăn, có nhiều nơi còn tạo sơ hở cho kẻ địch lợi dụng, gây
nên điểm nóng về chính trị. Điều đó cho thấy, đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã có vai trò rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng và củng cố
hệ thống chính trị ở cơ sở, tác động trực tiếp đến sự nghiệp cách mạng và đổi
mới của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
Đảng ta quan tâm đối với cán bộ, công chức là sự quan tâm toàn diện,
không chỉ cán bộ, công chức cấp cao, lãnh đạo, quản lý; cán bộ, công chức ở
cấp trung ương, tỉnh, huyện mà cả cán bộ công chức bình thường, đặc biệt là
cán bộ, công chức ở cơ sở, xã, phường, thị trấn; Văn kiện Đại hội IX của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2



Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ công chức cấp xã ở huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh” làm luận
văn thạc sĩ, nhằm đưa ra một số giải pháp góp phần giải quyết những yêu cầu
nêu trên.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã ở
huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian vừa qua, từ đó đề xuất một
số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ công chức cấp xã ở huyện trong giai
đoạn tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về cán bộ công
chức và nâng
cao chất lượng cán bộ cán bộ
công chức
ở cấp xã, thị trấn.
- Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã, thị
trấn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong những năm gần đây.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ công chức cấp
xã, thị trấn ở huyện trong thời gian tới.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã, thị trấn của huyện Thuận
Thành, tỉnh Bắc Ninh.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
* Nội dung nghiên cứu
- Các vấn đề lý luận và thực tiễn về đội ngũ cán bộ công chức cấp xã
và chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã.
- Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã của huyện

2.1.1.1 Khái niệm về chính quyền cấp xã [1]
Theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân
dân, chính quyền cấp xã (xã, phường, thị trấn) là một cấp cuối cùng trong hệ
thống hành chính 4 cấp. Xã, phường, thị trấn được xác định là cấp cơ sở. Vì
vậy, cấp xã chính là nền tảng của hệ thống chính trị, đóng vai trò thiết thực
trong việc xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước, là yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp cách mạng
nước ta. Chính quyền cấp xã bao gồm HĐND và UBND, trong đó HĐND "là
cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương đại diện cho ý chí, nguyện vọng và
quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách
nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên". Còn UBND
do HĐND bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà
nước cấp trên.
Xuất phát từ vị trí của chính quyền cấp xã trong hệ thống chính trị nên
nó có vai trò rất quan trọng trong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước của
nhân dân. Có thể khẳng định chính quyền cấp xã là cầu nối quan trọng giữa
Đảng, Nhà nước với nhân dân.
- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp giải quyết các yêu cầu của
nhân dân.
- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp quyết định các vấn đề kinh tế - xã
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6

hội ở địa phương.
- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của
nhân dân địa phương để kịp thời phản ánh với cơ quan nhà nước cấp trên,
giúp Nhà nước đề ra các biện pháp phù hợp với đặc điểm của mỗi địa phương.

dân cư, là nơi trực tiếp vận động và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.
2.1.1.3 Khái niệm cán bộ công chức cấp xã [11]
Nước ta khi bước vào thời kỳ mới vừa đẩy mạnh công nghiệp hóa (CNH),
hiện đại hóa (HĐH), vừa xây dựng và hoàn chỉnh Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, vừa tiến hành xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Chính vì vậy, ta cần phải xây dựng một đội ngũ CBCC có chất lượng đồng bộ,
phù hợp với những yêu cầu mới đặt ra, đặc biệt là đội ngũ CBCC cấp xã.
Để làm được điều đó trước hết chúng ta cần phải làm rõ khái niệm về
đội ngũ CBCC cấp xã.
Quan niệm về cán bộ
Từ "cán bộ" xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta khoảng mấy chục
năm gần đây; được dùng phổ biến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Từ
đó đến nay từ "cán bộ" được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau: có
nhiều từ điển có khái niệm "cán bộ" nhưng tựu chung lại có thể quan niệm
một cách chung nhất: "Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai
trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng đến hoạt
động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành,
góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức"
Theo Luật cán bộ, công chức, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm
2010, tại điểm khoản 3, Điều 4 quy định cán bộ, công chức cấp xã: Cán bộ
cấp xã là công dân Việt Nam được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong
Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng
ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội;
Quan niệm về công chức
Nhiều quốc gia quan niệm công chức là những nhân viên công tác,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8

được hưởng lương ngân sách, bị quy định bởi quy chế hoặc luật công chức, là
người làm việc trong hệ thống chính quyền nhà nước.

xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã;
Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTB&XH ngày 27 tháng
5 năm 2010 của Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội hướng dẫn thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10
năm 2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách
đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động
không chuyên trách ở cấp xã; Nghị định số 112/2011/NĐ - CP ngày 05 tháng
12 năm 2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn.
Cán bộ cấp xã là công dân Việt Nam được bầu cử giữ chức vụ theo
nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy,
người đứng đầu tổ chức Chính trị - xã hội.
- Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây:
+ Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
+ Chủ tịch, Phú Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;
+ Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
+ Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
+ Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
+ Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị
trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân
Việt Nam);
+ Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức
danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và
hưởng lương ngân sách nhà nước.
- Công chức cấp xã có:
+ Trưởng Công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy);
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10



công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém".
Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ, đặc biệt là thời kỳ đẩy mạnh
CNH - HĐH đất nước, Đảng nhận định: "Cán bộ là nhân tố quyết định sự
thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của chế độ, là khâu
then chốt trong công tác xây dựng Đảng".
Như vậy, CBCC là "cầu nối" giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là
"nhân tố quyết định" đến sự thành bại của cách mạng, "là khâu then chốt
trong công tác xây dựng Đảng". Ngoài những vị trí, vai trò trên CBCC chính
quyền cấp xã còn có vị trí, vai trò thể hiện những phương diện sau đây:
- Một là, cán bộ, công chức cấp xã là người trực tiếp tuyên truyền, phổ
biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước
đến nhân dân; làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu đúng, hiểu đầy đủ các chủ
trương, chính sách đó:
+ Trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang tiến hành xây dựng nhà
nước pháp quyền, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường mối quan hệ
gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; vì vậy, vai trò này của đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã càng có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo cho nhân dân biết và nắm
được các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, trên cơ sở đó sẽ tham
gia, đóng góp vào việc thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách đó.
+ Để làm được điều đó, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phải tiến
hành nhiều hình thức, biện pháp khác nhau như thông qua các buổi tuyên
truyền, nói chuyện tại cuộc họp thôn, xóm, khu dân cư, tổ đoàn kết, trung tâm
học tập cộng đồng hoặc thông qua các buổi đối thoại trực tiếp với nhân dân để
giải quyết các vấn đề mới phát sinh như liên quan đến việc bồi thường thiệt
hại, giải phóng mặt bằng, quy hoạch… Đồng thời, nó còn đòi hỏi đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã phải có những hiểu biết nhất định về lý luận và am hiểu
tình hình thực tế của địa phương, cũng như nắm bắt được đặc điểm, tâm lý
của từng lớp dân cư thuộc phạm vi quản lý của mình.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13

riêng phải nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, để mọi chủ
trương, chính sách khi ban hành đều vì lợi ích của nhân dân, dựa trên ý kiến
của nhân dân.
+ Thực tiễn cách mạng của đất nước đã khẳng định, chính từ vai trò của
cán bộ, công chức cấp xã trong việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân
dân, nên Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đúng,
được nhân dân đồng tình ủng hộ.
Tóm lại, bất cứ ở đâu và lúc nào, đội ngũ cán bộ, công chức cũng có vị
trí, vai trò hết sức to lớn; với tư cách là một bộ phận quan trọng, chiếm số
lượng tương đối lớn thì đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vị trí, vai trò đặc
biệt quan trọng đối với chế độ, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2.1.2. Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã
2.1.2.1. Khái niệm chất lượng cán bộ, công chức cấp xã
Chất lượng là một phạm trù được sử dụng khá phổ biến, là đối tượng
nghiên cứu của nhiều chuyên ngành, nhiều môn khoa học và được xem xét
dưới nhiều góc độ khác nhau, tuỳ thuộc nhu cầu tiếp cận và khai thác. “Chất
lượng” hiểu ở nghĩa chung nhất là “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con
người, một sự vật, sự việc” [4]
Khi nói về chất lượng đội ngũ cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:
Cán bộ phải có cả “Đức” và “Tài”, trong đó “Đức” là gốc. Người chỉ rõ: “Nếu
có đức mà không có tài ví như ông bụt ngồi trong chùa không giúp ích gì
được cho ai”, “người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài
giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [5]
Phẩm chất và năng lực của người cán bộ luôn gắn bó chặt chẽ với nhau,
tạo điều kiện cho nhau. Phẩm chất của người cán bộ là cơ sở tiền đề cho năng
lực phát triển đúng hướng. Người cán bộ có năng lực thì phẩm chất sẽ được
củng cố và phát huy, phẩm chất và năng lực của người cán bộ được biểu hiện

tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền nhân dân.
Để nâng cao chất lượng của đội ngũ CBCC, cần phải giải quyết tốt mối
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15

quan hệ giữa chất lượng với số lượng CBCC. Chỉ khi nào hai mặt này quan hệ
hài hòa, tác động hữu cơ với nhau thì mới tạo nên sức mạnh đồng bộ của cả
đội ngũ. Trong thực tế chúng ta cần phải chống hai khuynh hướng:
- Khuynh hướng thứ nhất, là chạy theo số lượng, ít chú trọng đến chất
lượng dẫn đến cán bộ nhiều về số lượng nhưng hoạt động không hiệu quả;
- Khuynh hướng thứ hai, cầu toàn về chất lượng nhưng không quan tâm
đến số lượng. Khuynh hướng này là một nguyên nhân quan trọng làm cho
tuổi đời bình quân của đội ngũ CBCC ngày càng cao, hẫng hụt về thế hệ.
Trong giai đoạn hiện nay thì cần hơn hết là phải coi trọng chất lượng
của CBCC trên cơ sở bảo đảm số lượng hợp lý.
Từ những đặc điểm trên có thể khái niệm: “Chất lượng đội ngũ CBCC
cấp xã là một hệ thống những phẩm chất, giá trị được kết cấu như một chỉnh
thể toàn diện được thể hiện qua phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức,
trình độ năng lực, khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mỗi CBCC và cơ cấu,
số lượng, độ tuổi, thành phần của cả đội ngũ CBCC cấp xã.”
Để đánh giá đúng thực trạng và xác định các giải pháp nâng cao chất
lượng đội ngũ CBCC cấp xã cần phải xác định rõ những tiêu chí đánh giá chất
lượng đội ngũ cán bộ, cũng như hiểu rõ những yếu tố tác động đến chất lượng
của đội ngũ CBCC cấp xã.
2.1.2.2. Các yếu tố cấu thành chất lượng cán bộ, công chức cấp xã
Xây dựng tiêu chí đánh giá CBCC là công việc hết sức khó khăn, song
lại là vấn đề rất quan trọng. Đây là khâu mở đầu có ý nghĩa quyết định trong
công tác cán bộ, là cơ sở để tiến hành việc bố trí, sử dụng và thực hiện các
chính sách cán bộ. Việc đánh giá CBCC cấp xã phải dựa vào tiêu chuẩn cán
bộ và lấy kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao làm thước đo chủ yếu. Tuy

luật Đảng, luôn đi đầu trong chấp hành các chính sách, pháp luật của Nhà
nước, kiên quyết chống lại mọi lệch lạc, biểu hiện sai trái trong đời sống xã
hội đi trái ngược với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 17

Về phẩm chất đạo đức: Người cán bộ muốn xác lập được uy tín của
mình trước nhân dân, trước hết đó phải là người cán bộ có phẩm chất đạo đức
tốt. Xây dựng các tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ và hình thành ở họ các
phẩm chất đạo đức tương ứng với vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của đội
ngũ cán bộ là việc làm cần thiết và cấp bách, nhất là trong sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước hiện nay. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang có sự
chuyển biến nhanh chóng và xã hội xuất hiện nhiều vấn đề hết sức phức tạp,
trình độ dân trí ngày một nâng cao, và sự đòi hỏi của xã hội đối với đội ngũ
cán bộ cũng ngày càng cao hơn. Thêm vào đó, công tác quản lý xã hội cũng
đòi hỏi người cán bộ phải tạo lập cho mình có được uy tín cao nhất đối với
nhân dân.
Người cán bộ tốt ở đây phải là người có đủ cả năng lực trình độ lẫn
đạo đức cách mạng và muốn có đạo đức cách mạng, mỗi người cán bộ - theo
Chủ tịch Hồ Chí Minh thì phải có được các phẩm chất trí, tín, nhân, dũng,
liêm. Khi nói chuyện với anh, chị em ở Thủ đô, Bác đã nhắc nhở: Chúng ta
phải cố gắng thực hiện cần, kiệm, liêm, chính. Theo Bác:
Trước hết là cần, tức là tăng năng suất trong công tác, bất kỳ là công tác gì.
Kiệm tức là không lãng phí thì giờ, của cải của mình và của nhân dân.
Liêm tức là không tham ô và luôn tôn trọng, giữ gìn của công.
Chính tức là việc phải thì dù nhỏ cũng làm, việc trái thì dù nhỏ cũng tránh.
Về trình độ năng lực: Năng lực là một khái niệm rộng, tùy thuộc vào
môi trường, trách nhiệm, vị thế của mỗi người, mỗi cán bộ trong những điều
kiện cụ thể.

phải nhìn nhận hoạt động lãnh đạo, quản lý như một phần tất yếu và là điều
kiện tiên quyết cho sự phát triển năng lực và quản lý tri thức của hệ thống
quản lý hành chính.
Thứ hai, năng lực thực thi nhiệm vụ của mỗi cán bộ, công chức cấp xã.
Đây là lĩnh vực khó phân tích. Lĩnh vực này liên quan tới cá tính và giá trị,
niềm tin của mỗi CBCC cấp xã và những yếu tố này định hướng cách thức xử
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 19

lý công việc của họ. Lĩnh vực cá nhân của năng lực bao gồm khả năng đưa ra
sáng kiến có giá trị, dám chịu trách nhiệm, sáng tạo, có khả năng phân biệt cái
gì là quan trọng đối với công việc và cái gì thì không quan trọng và có “khát
vọng” đạt được kết quả. Năng lực mỗi CBCC cấp xã được coi là khả năng của
một người để làm được công việc được giao, để xử lý một tình huống (kể cả
tình huống bất ngờ xảy ra) và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một
môi trường xác định. Như vậy tức là phải biết sử dụng tổng hợp các “tài sản”
của một con người (ví dụ như kiến thức, kỹ năng và cá tính) để đạt được các
mục tiêu và mục đích cụ thể. Năng lực gắn với bối cảnh mang tính cá nhân và
năng động. Năng lực của mỗi CBCC cấp xã không phải là tổng số học các
kiến thức, kỹ năng, thái độ mà nó quy tụ đồng thời các nguồn lực, hoạt động
và kết quả cần đạt được. Cán bộ, công chức cấp xã phải biết phối hợp các yếu
tố trên trong mọi điều kiện, hoàn cảnh nhất định để hành động một cách có
năng lực.
Thứ ba, năng lực thực hiện nhiệm vụ của tập thể (năng lực nhóm).
Năng lực không chỉ liên quan đến mỗi CBCC cấp xã mà còn liên quan đến
việc tổng hợp năng lực của CBCC cấp xã để biến chúng thành năng lực tập
thể của tổ chức. Năng lực tập thể giúp kết hợp tất cả các năng lực khác nhau
và sử dụng chúng một cách hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu tổng thể của
cơ quan, tổ chức và góp phần vào việc phát triển tổ chức. Năng lực tập thể
bao gồm các khả năng như biết phân tích và giải quyết vấn đề trong các tình

nước trong thời kỳ đổi mới, làm cho đội ngũ cán bộ tràn đầy sức sống. Nơi
nào mà các cán bộ cấp trên biết lựa chọn và dìu dắt, có nhiều cán bộ mới, ở
đó công việc sẽ tiến triển tốt hơn. Đội ngũ cán bộ không được tri thức hóa và
chuyên môn hóa thì không thể hoàn thành nhiệm vụ. Cán bộ có tư cách, tác
phong tốt, phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, dám nói thật, dám bảo vệ
cái đúng, đấu tranh chống những tiêu cực, quan liêu, tham nhũng, có mối
quan hệ tốt với các đồng nghiệp và quần chúng nhân dân.
Yêu cầu đặt ra hiện nay là xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã đủ phẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status