LUẬN VĂN: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Cà Mau hiện nay - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã ở tỉnh Cà Mau hiện nay
MỞ ĐẦU


quan liêu, tham nhũng, lãng phí…
Cấp xã (xã, phường, thị trấn) là một cấp trong hệ thống hành chính bốn cấp
của Nhà nước Việt Nam, là nơi trực tiếp thực hiện các chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ cấp trên giao, chăm lo mọi
sinh hoạt và đời sống hằng ngày của nhân dân ở địa phương và là cầu nối giữa Đảng,
Nhà nước với nhân dân. Thực tiễn cho thấy nơi đâu có quan tâm đầy đủ và làm tốt
công tác cán bộ, công chức ở cơ sở, có đội ngũ cơ sở vững mạnh thì nơi đó tình hình
chính trị - xã hội ổn định, kinh tế, văn hoá phát triển, quốc phòng an ninh được giữ
vững. Ngược lại, ở đâu công tác cán bộ không được quan tâm, đội ngũ cán bộ, công
chức không đủ phẩm chất, năng lực và uy tín thì sẽ gặp khó khăn, có nhiều nơi còn tạo
sơ hở cho kẻ địch lợi dụng, gây nên “điểm nóng” về chính trị. Điều đó cho thấy, đội
ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc
xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, tác động trực tiếp đến sự nghiệp cách
mạng và đổi mới của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
Cà Mau là một tỉnh cuối cùng cực Nam của Tổ quốc, có nhiều dân tộc, tôn
giáo cùng sinh sống trên địa bàn, có vị trí địa lý phức tạp (là vùng bán đảo, rừng, biển,
đồng bằng và cả hải đảo) là vùng căn cứ kháng chiến nên chịu nhiều hậu quả của chiến
tranh, là vùng đất mới, là bán đảo nên chịu nhiều thiên tai. Ngay từ khi tách tỉnh Minh
Hải cũ tái lập tỉnh Cà Mau, cùng với những cơ hội và thuận lợi, tỉnh còn thiếu hụt trầm
trọng và yếu kém của đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và đội ngũ cán bộ, công
chức cơ sở nói riêng.
Trong những năm qua, việc tổng kết, đánh giá một cách có hệ thống và thường
xuyên đội ngũ cán bộ, công chức (đặc biệt là cấp xã) chậm được tiến hành. Nhìn
chung chưa có giải pháp đồng bộ, phù hợp với đặc thù của địa phương nhằm xây dựng
đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh nói chung, cán bộ, công chức cấp xã.
Xuất phát từ những lý do trên, cùng với kinh nghiệm công tác của bản thân,
kết hợp với kiến thức học được trong thời gian 03 năm ở Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, tác giả chọn đề tài: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công

không trùng với các công trình khoa học đã được công bố. Mặc dù vậy, các công trình
khoa học trên đây là tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu và hoàn thiện
bản luận văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
Luận văn có mục đích là trên cơ sở nghiên cứu lý luận về xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở
tỉnh Cà Mau, luận văn đề xuất các giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã ở tỉnh Cà Mau hiện nay.
- Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở
cấp xã.
+ Phân tích, đánh giá thành tựu và chỉ ra những mặt tồn tại, hạn chế, nhiên cứu
xây dựng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã ở tỉnh Cà Mau.
+ Đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở
tỉnh Cà Mau hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo
Luật Cán bộ, công chức 2008.
- Qua khảo sát ở các xã ở nông thôn, đô thị ở tỉnh Cà Mau để đánh giá việc
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở Cà Mau từ khi tách tỉnh đến nay.
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ cn bộ, cơng chức cấp x ở tỉnh
Cà Mau đến năm 2015.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà
nước về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức chính
quyền cơ sở nói riêng.



người được tuyển dụng, bổ nhiệm làm việc trong các công sở hành chính từ trung
ương đến địa phương, ngoài ra còn có sĩ quan cao cấp làm việc trong quân đội, những
người đứng đầu doanh nghiệp nhà nước. Ở Canada, công chức là những người được
tuyển dụng làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước (không kể những người làm
việc trong đơn vị hành chính sự nghiệp).
Ở Việt Nam, cán bộ, công chức là khái niệm thường được dùng để gọi chung
những người làm việc cho nhà nước, hoặc các tổ chức trong hệ thống chính trị. Theo
Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, năm 2006) cán bộ được định
nghĩa là: "Người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, Đảng
và đoàn thể có chức vụ. Như vậy, trong tổ chức đảng và đoàn thể, cán bộ được dùng
để chỉ những người được bầu vào các chức vụ lnh đạo, làm công tác chuyên trách
hưởng lương từ ngân sách nhà nước". "Công chức là những người được tuyển dụng,
bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng lương do
ngân sách nhà nước cấp". Như vậy, khái niệm công chức theo Từ điển Tiếng Việt
không đề cập đến lực lượng làm việc trong cơ quan Đảng, tổ chức chính trị - x hội. Cc
yu cầu phải "được tuyển dụng", "được bổ nhiệm" và "hưởng lương từ ngân sách nhà
nước" không phải là điểm đặc trưng của riêng đối tượng công chức. Lực lượng cán bộ
ở các cơ quan đảng cũng được bổ nhiệm và cũng hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Với khái niệm công chức như vậy, thì khơng thể phn biệt được cán bộ và công chức.
Dẫn đến việc khó khăn cho các cấp có thẩm quyền trong việc hoạch định chính sách
cụ thể đối với đối tượng cán bộ, công chức.
Hiện nay, theo văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực pháp luật và có giá
trị pháp lý cao nhất về địa vị pháp lý của cán bộ, công chức Việt Nam là Pháp lệnh
Cán bộ, công chức năm 1998 được sửa đổi bổ sung một số điều năm 2003 thì cn bộ,
cơng chức được quy định chung tại Khoản 1, Điều 1 như sau:
1. Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong
biên chế, bao gồm:
a) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan
nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - x hội ở Trung ương; ở tỉnh, thành phố

Điều 2. Đối tượng điều chỉnh Công chức nói tại Nghị định này là công dân Việt Nam, trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước được quy định tại Điểm b, Điểm c, Điểm e Khoản
1 Điều 1 của Pháp lệnh Cán bộ, công chức, làm việc trong các cơ quan nhà nước, lực
lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - x hội sau đây:
1. Văn phịng Quốc hội;
2. Văn phịng Chủ tịch nước;
3. Các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
4. Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp;
5. Cơ quan đại diện nước Cộng hoà x hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài;
6. Đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và Công an nhân dân;
7. Bộ my gip việc thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - x hội ở trung ương,
cấp tỉnh, cấp huyện.
Ngoại trừ những đối tượng được xác định là viên chức ở Điểm d, Khoản 1,
Điều 1 của Php lệnh Cn bộ, cơng chức thì những đối tượng cịn lại l cn bộ. Cn bộ cĩ
những điểm khác biệt cơ bản so với công chức theo quy định của các văn bản trên như
được bổ nhiệm và làm việc theo nhiệm kỳ, không phân biệt cơ quan họ công tác là cơ
quan nhà nước hay các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - x hội, cn bộ khơng nằm
trong bin chế của bộ my nh nước. Xét về mặt nguyên tắc nếu họ (cán bộ) không được
bầu cử ở các nhiệm kỳ tiếp theo thì họ sẽ khơng tiếp tục hoạt động trong cơ quan nhà
nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - x hội.
Luật về Cán bộ, công chức năm 2008, có hiệu lực thi hành vào ngày 1/1/2010
cũng có những quy định phân biệt r giữa cn bộ v cơng chức tại điều 4 như sau:
1. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức
vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị - x hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau
đây gọi chung l cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị x, thnh phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung
là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

50/CP ngày 26/7/1995. Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 không quy định cụ thể
về cán bộ, công chức cấp x m chỉ quy định chung về cán bộ, công chức. Trong các văn
bản trên chỉ r những chức danh no l cn bộ cơng tc tại x được hưởng sinh hoạt phí chứ không nêu khái niệm về cán bộ và công chức cấp x. Trải qua một thời gian tương đối
dài, lực lượng cán bộ, công chức cấp x chưa được quan tâm đúng mức.
Năm 2003, Uỷ ban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp
lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 mới quy định chung về cn bộ, cơng chức cấp x: Cán
bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế, bao
gồm:
g) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường
trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ; người đứng
đầu tổ chức chính trị - x hội x, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp x);
h) Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp
vụ thuộc Uỷ ban nhn dn cấp x (Khoản 1, Điều 1, Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm
2003).
Mặc dù quy định trên cũng chưa phân định r quan niệm về cn bộ v cơng chức
cấp x nhưng trên cơ sở tiêu chí chung để phân biệt giữa cán bộ và công chức và Nghị
định 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về cán bộ, cơng chức cấp x thì chúng ta vẫn
có thể xác định được những đối tượng là cán bộ, cơng chức cấp x. Cn bộ cấp x bao
gồm cn bộ chuyn trch v khơng chuyn trch. Cn bộ chuyn trch gồm:
1. Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ (sau đây gọi
chung là cán bộ chuyên trách cấp x), gồm cĩ cc chức vụ sau đây:
a) Bí thư, Phó Bí thư đảng uỷ, Thường trực đảng uỷ (nơi không có Phó Bí thư
chuyên trách công tác đảng), Bí thư, Phó Bí thư chi bộ (nơi chưa thành lập đảng uỷ
cấp x);
b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;
d) Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ

e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với x, phường, thị trấn có
hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);
h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Từ những quy định trên đây cho thấy đội ngũ cán bộ cấp x cĩ những đặc điểm
sau:
Về tiu chuẩn, cn bộ cấp x cĩ tiêu chuẩn chung được quy định tại Quyết định số
04/2004/QĐ-BNV ngày 16/1/2004. Hầu hết cán bộ x đều đảm nhận vị trí chủ chốt tại
x kể cả cơng tc Đảng, chính quyền và đoàn thể. Nên tiêu chuẩn về chính trị là một
trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất. Tiêu chuẩn chính trị đảm bảo cho cán bộ x đủ
phẩm chất để lnh đạo các mặt công tác quan trọng.
Nguồn hình thnh cn bộ cấp x rất đa dạng. Do cán bộ được bầu cử nên các tổ
chức chính trị - x hội như: Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể là nơi cung cấp
nguồn cn bộ cho x. Cũng xuất pht từ lý do trn nn cn bộ x thường xuyên biến động,
thay đổi vị trí công tác do yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương.
Trong thực tế, trình độ chuyên môn của cán bộ không đồng đều. Nguyên nhân
là do cán bộ hình thnh từ cơ chế bầu cử nên tiêu chuẩn chuyên môn chưa được chú ý
đúng mức. Cán bộ Mặt trận và đoàn thể chưa có chuyên môn phù hợp. Tuy nhiên, do
cán bộ được sự tín nhiệm nên được giữ những trọng trách quan trọng mặc dù có thể
chưa đủ tiêu chuẩn theo quy định. Từ thực tế đó địi hỏi cc cơ quan có thẩm quyền phải
có kế hoạch chuẩn hoá lực lượng cán bộ này.
1.1.3. Quan niệm, đặc điểm công chức cấp x
Công chức cấp x được quy định tại Khoản 2, Điều 2, Nghị định 114/2003/NĐ-
CP như sau:
2. Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyn mơn, nghiệp
vụ thuộc Uỷ ban nhn dn cấp x (gọi chung l cơng chức cấp x), gồm cĩ cc chức danh sau
đây:
a) Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy);

định của công chức cấp x cao hơn so với cán bộ cấp x. Cơng chức x trực tiếp tham mưu
cho lnh đạo UBND cấp x trong việc điều hành, chỉ đạo công tác. Chất lượng của cơng
chức cấp x sẽ gĩp phần quyết định đến hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước ở
cấp x.
Đội ngũ cán bộ, công chức cấp x đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện các
chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và là lực lượng chiếm số lượng hết sức đông đảo trong tổng số biên chế hiện nay. Chính vì vậy, việc xc định r đặc điểm, vị trí,
vai trị của cn bộ, cơng chức cấp x l vấn đề cần thiết để có chủ trương, chính sách phù
hợp.
1.1.4. Vị trí, vai trị của cn bộ, cơng chức cấp x
Cán bộ, công chức có một vị trí, vai trò rất quan trọng, là chủ thể thực thi pháp
luật để quản lý mọi mặt của đời sống xã hội nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
mà Nhà nước đề ra; giữ gìn trật tự kỷ cương xã hội, đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa,
xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm, bảo vệ lợi ích của các tầng lớp nhân
dân lao động; điều hành các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong quá
trình hoạt động của bộ máy nhà nước.
Xuất phát từ đặc điểm của mình, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ngoài
những vị trí, vai trò chung của cán bộ, công chức còn có những vị trí, vai trò sau:
- Một là, cán bộ, công chức cấp xã là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến
các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước đến nhân dân;
làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu đúng, hiểu đầy đủ các chủ trương, chính sách đó:
+ Trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang tiến hành xây dựng nhà nước
pháp quyền, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa
Đảng, Nhà nước và nhân dân; vì vậy, vai trò này của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
càng có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo cho nhân dân biết và nắm được các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước, trên cơ sở đó sẽ tham gia, đóng góp vào việc thực
hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách đó.
+ Để làm được điều đó, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phải tiến hành nhiều

- Ba là, cán bộ, công chức cấp xã là người nắm bắt kịp thời, phản ánh đầy đủ
các tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để Đảng, Nhà nước có cơ sở khoa học sửa đổi,
bổ sung, ban hành mới các chủ trương, chính sách có tính khả thi, phù hợp với từng
giai đoạn phát triển của đất nước:
+ Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước khi ban hành muốn đảm
bảo tính khả thi phải xuất phát từ thực tiễn cuộc sống; muốn vậy, đòi hỏi đội ngũ cán
bộ, công chức nói chung, cán bộ, công chức cấp xã nói riêng phải nắm bắt được tâm
tư, nguyện vọng của nhân dân, để mọi chủ trương, chính sách khi ban hành đều vì lợi ích của nhân dân, dựa trên ý kiến của nhân dân; qua đó sẽ phát huy được tính tích cực,
chủ động của mỗi con người, làm cho mọi tiềm năng sáng tạo được phát triển, mọi
người dân đều được tham gia vào các quá trình chính trị, xã hội, các vấn đề nảy sinh
được phát hiện kịp thời, các khó khăn sớm được tháo gỡ, tạo sự phát triển mạnh mẽ
của đất nước.
+ Thực tiễn cách mạng của đất nước đã khẳng định, chính từ vai trò của cán bộ,
công chức cấp xã trong việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, nên Đảng và Nhà
nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đúng, được nhân dân đồng tình ủng hộ.
Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng như Nghị quyết về khoán sản phẩm trong
nông nghiệp; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; xây dựng và phát
triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc… Nhà nước cũng đã ban
hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh có hiệu quả các mặt của đời sống - xã hội như Bộ
Luật dân sự, Bộ Luật hình sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Cư
trú, Luật Phòng chống tham nhũng…
Tóm lại, bất cứ ở đâu và lúc nào, đội ngũ cán bộ, công chức cũng có vị trí, vai
trò hết sức to lớn; với tư cách là một bộ phận quan trọng, chiếm số lượng tương đối
lớn thì đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với
chế độ, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1.2. KHI NIỆM, VAI TRỊ V NỘI DUNG XY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP X

công chức cấp xã có chất lượng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị đặt ra đối với
từng xã, phường, thị trấn.
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp x giữ vai trị hết sức quan trọng trong
tình hình hiện nay, góp phần xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh toàn diện.
Bởi vì, con người và tổ chức luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau. Con người
sáng lập ra tổ chức, là yếu tố động nhất trong tổ chức, con người hoạt động hiệu quả
thì tổ chức hoạt động hiệu quả; nhưng khi tổ chức thành lập thì nó tác động trở lại con
người, làm con người phát triển đi lên và ngược lại kìm hãm sự phát triển của con
người; con người sống trong tổ chức thì sức mạnh được nhân lên gấp bội và ngược lại
thì sức mạnh của con người sẽ yếu đi. Đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp x cũng vậy, lực lượng này có quan hệ
mật thiết với hệ thống chính trị ở cơ sở. Hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở có
chất lượng và hiệu quả hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cơ sở vật chất,
phương tiện làm việc, tính khoa học, hợp lý trong thiết kế bộ máy và đội ngũ cán bộ,
công chức…; trong đó đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là yếu tố có ảnh hưởng trực
tiếp nhất.
1.2.2. Nội dung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp x
1.2.2.1. Mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp x
- Mục tiêu chung: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp x nhằm tạo ra
một đội ngũ cán bộ, công chức đồng bộ, có số lượng, cơ cấu hợp lý, có phẩm chất
chính trị đạo đức, lối sống tốt; có trình độ và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ chính trị ở cơ sở trong từng giai đoạn cách mạng.
- Mục tiêu cụ thể:
Một là: Tạo ra một đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có số lượng, cơ cấu
hợp lý:
+ Tính hợp lý trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã biểu hiện
ở việc tinh giản biên chế một cách tối ưu, đảm bảo gọn nhẹ, hoạt động có chất lượng,
trong đó mỗi cá nhân cán bộ, công chức phát huy được hết năng lực, sở trường của

nhỏ cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, Đảng
ta đánh giá: “Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ’’
[4, tr.253]. Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức không thể không chú ý về đạo
đức, lối sống. Trong giai đoạn hiện nay, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có
phẩm chất, đạo đức tốt phải đáp ứng được yêu cầu:
Có tinh thần trách nhiệm cao, gương mẫu, đi đầu trong công tác; xử lý
hài hòa các lợi ích, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết. Liên hệ
mật thiết với nhân dân, tôn trọng và bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân. Có
lối sống trong sạch, lành mạnh, có kỷ cương, kỷ luật. Không quan liêu,
tham nhũng, lãng phí và kiên quyết đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham
nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác [4, tr.289-290]. Ba là: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã còn tạo ra một đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã có trình độ năng lực chuyên môn:
Cán bộ, công chức có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt mà không có năng lực
thì trong quá trình thực hiện nhiệm vụ sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí thất bại,
như V.I.Lênin đề cập: “Chỉ dựa vào tinh thần xung kích, vào tinh thần phấn khởi và
nhiệt tình không thôi, thì không thể làm được cái gì cả” [48, tr.253] và Lênin cũng cho
rằng: “Lòng trung thành được kết hợp với năng lực hiểu biết về con người, về năng lực
giải quyết những vấn đề tổ chức, thì chỉ có lòng trung thành đó mới có thể rèn luyện ra
những tổ chức lớn” [dt 13, tr.20].
Đối với Hồ Chí Minh, bên cạnh những đòi hòi về đạo đức cách mạng, Người
còn chú trọng đến việc nâng cao trình độ năng lực đối với cán bộ, công chức, Người
đã nói: “Năng lực của con người không phải hoàn toàn tự nhiên mà có, mà phần lớn do
công tác, do luyện tập mà có” [53, tr.21]. Như vậy, năng lực khôg phải là phẩm chất
bẩm sinh, mà phải thông qua một quá trình rèn luyện, phấn đấu trong học tập, đặc biệt
trong hoạt động thực tiễn.
Vì vậy, bên cạnh những yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống thì
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phải tạo ra được đội ngũ cán bộ, công chức

đúng người, giao đúng việc, bảo đảm sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ;
 Sáng tạo, năng động: giúp cán bộ, công chức có những sáng kiến trong
công tác. Đồng thời, sự sáng tạo, năng động thôi thúc đội ngũ cán bộ, công chức tìm ra
những cách thức và biện pháp làm việc mới mang lại hiệu quả cao hơn;
 Tính quyết đoán: Giúp cán bộ, công chức cấp xã vượt qua những thử thách,
khó khăn để thực hiện những mục tiêu do tập thể đặt ra. Nhờ có phẩm chất này mà
người cán bộ, công chức quyết tâm không chùn bước, dao động trước những khó khăn,
trở ngại trên con đường tiến tới mục tiêu; họ sẽ làm cho nhân dân phục tùng và tập
trung được sức mạnh của tập thể;
 Khả năng thuyết phục và lôi cuốn quần chúng: Cách mạng là sự nghiệp của
quần chúng nhân dân, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức phải có khả năng này để huy
động được sức mạnh của toàn dân vào việc thực hiện mục tiêu xây dựng và phát triển
quê hương, đất nước. 1.2.2.2. Xác định tiêu chuẩn và tuyển dụng cán bộ, công chức
Đây là nội dung quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến việc xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã. Tiêu chuẩn cán bộ, công chức là sự biểu hiện yêu cầu về phẩm
chất và năng lực để hoàn thành nhiệm vụ, luôn luôn được bổ sung, cụ thể hóa phù hợp
với từng giai đoạn phát triển của cách mạng. Tiêu chuẩn cán bộ, công chức là căn cứ
để lựa chọn, bố trí, sử dụng, đánh giá, quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức. Có tiêu chuẩn phù hợp mới có cơ sở rà soát, đánh giá khách quan đội ngũ cán
bộ, công chức hiện có, loại bỏ những cán bộ, công chức cơ hội, thoái hóa, biến chất.
Mặt khác, căn cứ vào tiêu chuẩn, từng cán bộ, công chức sẽ phấn đấu hoàn thiện bản
thân mình.
Hiện nay, tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức cấp xã được quy định tại Nghị
định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã,
phường, thị trấn và Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng
Bộ Nội vụ như sau:
- Về tiêu chuẩn chung:

* Việc bầu cử cán bộ chuyên trách cấp xã trong tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội thực hiện theo điều lệ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
+ Tuyển dụng công chức cấp xã:
* Việc tuyển dụng công chức cấp xã, phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí
công tác, tiêu chuẩn và số lượng các chức danh cần tuyển dụng;
* Người được tuyển dụng làm công chức phải có phẩm chất đạo đức, đủ tiêu
chuẩn và thông qua thi tuyển. Việc tuyển dụng công chức ở vùng cao, vùng sâu, vùng
xa, biên giới, hải đảo hoặc để đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
vùng dân tộc thiểu số thì có thể thực hiện thông qua xét tuyển.
* Chủ tịch UBND cấp huyện chỉ đạo, tổ chức việc tuyển dụng công chức cấp xã
theo quy chế tuyển dụng công chức của UBND cấp tỉnh.
* Người được tuyển dụng phải thực hiện chế độ tập sự đủ thời gian 06 tháng.
Khi hết thời gian tập sự. Chủ tịch UBND cấp xã căn cứ vào tiêu chuẩn và kết quả công
việc của người tập sự, nếu đủ tiêu chuẩn thì đề nghị Chủ tịch UBND cấp huyện xem
xét quyết định tuyển dụng; nếu không đủ tiêu chuẩn tuyển dụng thì cho thôi việc. 1.2.2.3. Xác định tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức
Đánh giá cán bộ, công chức là việc hệ trọng, là khâu có ý nghĩa quyết định
trong công tác cán bộ, là cơ sở để thực hiện các khâu khác trong công tác cán bộ. Đánh
giá đúng cán bộ, công chức sẽ phát huy tiềm năng của từng cán bộ, công chức và cả
đội ngũ cán bộ, công chức. Đánh giá không đúng, sẽ dẫn đến việc lựa chọn cán bộ,
công chức không đủ phẩm chất và năng lực bố trí vào những cương vị có trọng trách,
dẫn đến hỏng người, hỏng việc, gây tổn thất cho địa phương và ảnh hưởng trong phạm
vi cả nước.
Đánh giá cán bộ, công chức là công việc hết sức khó khăn và nhạy cảm, sau
đánh giá có thể xảy ra hai khuynh hướng khác nhau; một mặt nó làm cho cán bộ, công
chức yên tâm, phấn khởi, năng động, sáng tạo trong công tác, mặt khác nó gây ra sức
ỳ, thiếu chí tiến thủ, bi quan, chán nản trong cán bộ, công chức, thậm chí gây ra những
hành vi vi phạm pháp luật, bị các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá Đảng và Nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status