BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
--------------------
LÊ THỊ PHI YẾN
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
Ở HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN THÁI SƠN
2
ĐỒNG THÁP - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
--------------------
LÊ THỊ PHI YẾN
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
Ở HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60. 31. 02. 01
4
Tác giả
MỤC LỤC
Trang
Lời cám ơn
Mục lục
A. MỞ ĐẦU……………………………………………………………………. 1
B. NỘI DUNG……………………………………………………………… …12
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ…………………………………………….12
1.1 Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã……………………………………….12
1.2 Vị trí, vai trò, đặc điểm của cán bộ, công chức cấp xã……………………..17
1.3 Nội dung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã……………………..22
Kết luận chương 1…………………………………………………………… ..40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP…41
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
2.2 Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
hiện nay………………………………………………………………………...46
2.3 Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Châu Thành,
tỉnh Đồng Tháp…………………………………………………………………52
2.4 Thành tựu, hạn chế…………………………………………………………64
Kết luận chương 2……………………………………………………………...70
5
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỘI
lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng, trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn.
Nghị quyết hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về
đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn
7
đã khẳng định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận
động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm
thạo việc, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, trẻ hóa đội ngũ cán bộ,
chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng và giải quyết hợp lý, đồng bộ chính sách
đối với cán bộ cơ sở”[15, tr. 167- 168].
Trong hệ thống hành chính bốn cấp ở nước ta, xã, phường, thị trấn
(sau đây gọi chung là cấp xã) là đơn vị hành chính cấp cơ sở, là nơi trực tiếp
thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước và nhiệm vụ cấp trên giao, chăm lo mọi sinh hoạt và đời sống hằng ngày của
nhân dân ở địa bàn và là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Bộ máy hành chính cấp xã là cầu nối trực tiếp giữa Đảng, Nhà nước với
nhân dân, là nơi chuyển tải các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống. Hay nói cách khác, cán bộ cơ sở có vai trò
rất quan trọng trong việc tuyên truyền, vận động, tổ chức cho nhân dân thực hiện
đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra. Việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã có đầy đủ bản lĩnh, năng động, thật sự vững mạnh sẽ tạo nên động lực
mạnh mẽ trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội tại địa bàn. Một trong những
biện pháp quan trọng mà các địa phương quan tâm thực hiện để phát triển kinh
tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng, đó là xây dựng và phát triển đội ngũ
cán bộ, công chức, trong đó chú trọng đến công tác quy hoạch đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn. Điều này thể hiện đội
ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn có vai trò rất quan trọng trong hệ
thống chính trị ở cơ sở.
vì vậy quá trình chỉ đạo, điều hành, giải quyết công việc còn mang tính chủ
quan, tuỳ tiện theo cảm tính cá nhân, không căn cứ vào quy định của pháp luật
dẫn đến vi phạm. Từ những tồn tại, yếu kém của đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã vùng đồng bằng sông Cửu Long, tác giả bài viết đã đề xuất bảy giải pháp
mang tính chiến lược và cụ thể để giải quyết tình hình đội ngũ cán bộ, công chức
9
cấp xã trong vùng để đáp ứng được yêu cầu phát triển tiềm năng và thế mạnh
của vùng đồng bằng sông Cửu Long.
- Lê Ngọc Xuyên, Phó Vụ trưởng, Văn phòng đại diện Bộ Nội vụ tại Đà
Nẵng: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở ở Tây Nguyên; Tạp
chí xây dựng Đảng số 1+2/ 2014. Trong bài viết tác giả nêu một thực trạng đáng
quan tâm là tỷ lệ cán bộ, công chức cấp xã chưa qua đào tạo chuyên môn còn
22,34% và chưa qua đào tạo lý luận chính trị là 23,79% . Tỷ lệ cán bộ chuyên
trách chưa được đào tạo chuyên môn còn rất cao, chiếm 44,2%; chưa qua đào
tạo lý luận chính trị còn nhiều, tới 79,6% và số cán bộ, công chức cấp xã đã qua
đào tạo, bồi dưỡng về quản lý nhà nước rất ít. Năng lực xử lý các vấn đề thực
tiễn đặt ra còn bất cập, một số cán bộ làm việc thụ động, cảm tính, thiếu kỹ
năng, ít sáng tạo chưa đủ sức giải quyết các vấn đề phức tạp phát sinh trong thực
tiễn. Nhiều cán bộ, công chức cấp xã chưa thật sự gương mẫu, còn quan liêu, xa
dân. Việc tuyển dụng, bố trí và sử dụng cán bộ, công chức cấp xã còn nhiều bất
cập. Còn nhiều cán bộ, công chức cấp xã cao tuổi, không đạt chuẩn nhưng chưa
có chính sách phù hợp để giải quyết nên không thể bổ sung, thay thế bằng cán
bộ trẻ, có năng lực, được đào tạo cơ bản. Chế độ, chính sách đối với cán bộ,
công chức cấp xã còn mang tính bình quân, chưa cụ thể hóa cho phù hợp với
tính đặc thù, phức tạp của từng địa bàn. Đặc biệt đối với những cán bộ không
chuyên trách ở xã, chế độ làm việc, phụ cấp còn rất bất cập. Chính những hạn
chế trên, tác giả đã đề ra năm nhóm giải pháp gồm: coi trọng tạo nguồn công tác
công tác kiểm tra, giám sát của huyện ủy đối với hoạt động của cán bộ và công
tác cán bộ; thứ năm, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo khắc phục những hạn chế, yếu
kém trong công tác cán bộ của cấp ủy cơ sở; trong đó, tác giả nhấn mạnh giải
pháp thứ nhất và cho đây là giải pháp quan trọng quyết định công trong công tác
đổi mới phương thức lãnh đạo công tác cán bộ của các huyện ủy ở tỉnh Đồng
Tháp.
- Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp (2013), Đề án năng cao năng lực cán
bộ, công chức chính quyền xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
giai đoạn 2013 – 2015 và định hướng đến năm 2020. Xuất phát từ tình hình thực
11
tế của địa phương, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã chưa đạt chuẩn về chuyên
môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước, bộ máy hành
chính cấp xã chưa được như nhân dân mong muốn; Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng
Tháp xây dựng đề án với mục tiêu tạo bước đột phá trong công tác bố trí cán bộ,
sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo đúng chức danh, tiêu chuẩn;
tăng cường cán bộ cho cơ sở; thay thế cán bộ, công chức trì trệ, năng lực yếu,
uy tín thấp; thực hiện chính sách tinh giảm biên chế; đẩy mạnh công tác điều
động, luân chuyển cán bộ, công chức cho cơ sở; đào tạo chuẩn hóa đội ngũ
cán bộ, công chức; góp phần thực hiện có hiệu quả chương trình cải cách
hành chính và chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Trên
cơ sở đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã và thực trạng xây
dựng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã của tỉnh đã đề ra các giải pháp chủ
yếu: Quy hoạch cán bộ chính quyền theo chức vụ; Tuyển dụng, sử dụng cán
bộ, công chức, thực hiện việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức chính
quyền; Tạo nguồn nhân lực cán bộ công chức; tăng cường công tác đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức; gắn đào tạo bồi dưỡng với quy hoạch từng chức
vụ chức danh cán bộ, công chức chính quyền; Kiện toàn, sắp xếp bố trí lại cán
Các tác giả đã phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về đánh giá, quy
hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo quản lý thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước; đã tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng về công tác đánh giá,
quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo quản lý của những năm qua và chỉ rõ
những ưu, khuyết điểm và bài học kinh nghiệm của công tác này. Qua đó, các
tác giả đã đưa những vấn đề cần giải quyết, những đề xuất giải pháp có giá trị
đối với công tác đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo quản lý của
những năm tới.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đều đề cập đến vấn đề cán
bộ, công chức, hoặc là ở dạng chung nhất hoặc đặt nó nằm trong từng phạm vi
nghiên cứu cụ thể đã cung cấp nhiều tư liệu quý báu về cơ sở lý luận, về kiến
thức, kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức. Tuy nhiên, ngoài những
vấn đề chung đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức thì với các địa
13
phương khác nhau sẽ cần có yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức khác
nhau phù hợp thực tiễn ở các địa phương đó trong mỗi giai đoạn cách mạng, trong
khi đó chưa có công trình nào nghiên cứu việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã ở huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp hiện nay. Chính vì vậy, đây là
vấn đề nhất thiết cần được nghiên cứu một cách cụ thể, toàn diện trên cả phương
diện lý luận và thực tiễn nhằm góp phần phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã
hội của huyện nhà.
Trong những năm qua, Đảng bộ huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp đã có
sự quan tâm đúng mức đến công tác cán bộ, công chức nói chung, cán bộ, công
chức cấp xã nói riêng, nhất là coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao
trình độ chuyên môn, chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có
tính chuyên nghiệp, có bản lĩnh, tinh thông nghiệp vụ… từng bước đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Tuy nhiên, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ,
kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới.
Chính vì vậy, việc chúng tôi nghiên cứu đề tài để tìm ra những giải pháp
khả thi nhất trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện
Châu Thành tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay là cần thiết. Xuất phát từ
những lý do trên kết hợp với kiến thức đã được học, chúng tôi chọn đề tài: “Xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng
Tháp trong giai đoạn hiện nay” để nghiên cứu và viết luận văn Thạc sĩ Khoa
học Chính trị, chuyên ngành Chính trị học. Trong quá trình nghiên cứu đề tài
này, chúng tôi có sự tham khảo, kế thừa, chọn lọc những nội dung của các công
trình khoa học, những bài viết, những luận văn có liên quan đến nội dung xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã để cho việc nghiên cứu và hoàn thiện
luận văn này.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Châu Thành,
tỉnh Đồng Tháp, luận văn đề xuất các quan điểm và giải pháp xây dựng đội ngũ
15
cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn
hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã.
- Phân tích, đánh giá thực trạng và chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong
công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Châu Thành, tỉnh
Đồng Tháp trong thời gian qua.
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng
Tháp trong giai đoạn hiện nay.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3
chương 9 tiết.
- Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã.
- Chương 2: Thực trạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
- Chương 3: Phương hướng và các giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
17
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1. Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã
1.1.1. Khái niệm cán bộ cấp xã
Khái niệm “cán bộ, công chức” được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội
chủ nghĩa và bao hàm một diện rất rộng các loại nhân sự thuộc khu vực Nhà
nước và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Nó được dùng để chỉ tất
cả những người làm công hưởng lương từ nhà nước, kể từ những người đứng
đầu một cơ quan như thủ trưởng, giám đốc… cho tới các nhân viên phục vụ như
lái xe, bảo vệ hay lao công tạp vụ.
Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên: “ Cán bộ: 1.
Người làm việc trong cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước. 2. Người giữ chức vụ,
phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan, tổ chức
bộ, công chức cấp xã đã xác định được những đối tượng là cán bộ, công chức
cấp xã: “Cán bộ cấp xã bao gồm cán bộ chuyên trách và không chuyên trách.
- Cán bộ chuyên trách gồm:
1. Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ (sau đây
gọi chung là cán bộ chuyên trách cấp xã), gồm có các chức vụ sau đây:
19
a) Bí thư, Phó Bí thư đảng uỷ, Thường trực đảng uỷ (nơi không có Phó
Bí thư chuyên trách công tác đảng), Bí thư, Phó Bí thư chi bộ (nơi chưa thành
lập đảng uỷ cấp xã);
b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;
d) Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân và Chủ
tịch Hội Cựu chiến binh.
- Cán bộ không chuyên trách gồm:
a) Trưởng Ban Tổ chức đảng, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra đảng, Trưởng
Ban Tuyên giáo và 01 cán bộ Văn phòng Đảng uỷ;
b) Phó Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy);
c) Phó Chỉ huy trưởng quân sự;
d) Cán bộ kế hoạch - giao thông - thuỷ lợi - nông, lâm, ngư, diêm nghiệp;
đ) Cán bộ lao động - thương binh và xã hội;
e) Cán bộ dân số - gia đình và trẻ em;
g) Thủ quỹ - văn thư - lưu trữ;
h) Cán bộ phụ trách đài truyền thanh;
i) Cán bộ quản lý nhà văn hoá;
k) Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc; Phó các đoàn thể cấp xã: Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội
ràng, xác định rõ nội hàm, đó là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ
theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư,
Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội.
1.1.2. Khái niệm về công chức cấp xã
Công chức là thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế
giới để chỉ những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên
trong các cơ quan nhà nước và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành gắn liền với sự phát
triển của nền hành chính nhà nước. Tại Điều 1 Sắc lệnh số 76/SL do Chủ tịch
21
Hồ Chí Minh ký ngày 20 tháng 5 năm 1950 quy định “Những công dân Việt
Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong
các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy
chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định” [11], đây được coi
là văn bản có tính pháp lý đầu tiên quy định về công chức. Sau đó, do nhu cầu
bổ sung nhân lực trong bộ máy nhà nước ngày càng tăng, khi đó không có đủ
nguồn nhân lực phù hợp với những tiêu chuẩn quy định đối với công chức nên
suốt một thời gian dài sau đó, từ “công chức” dần được thay thế bằng từ “cán
bộ, công nhân, viên chức” bao gồm tất cả những người làm việc trong các cơ
quan nhà nước, cơ quan Đảng, tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế nhà nước. Tất cả
đều thuộc biên chế nhà nước, được gọi là “cán bộ, công nhân, viên chức nhà
nước” chung chung, không phân biệt ai là cán bộ, công nhân, viên chức theo cách
quan niệm có tính truyền thống đã hình thành trước đó..
Tại Khoản 2, Điều 2 của Nghị định 114/2003/NĐ- CP ngày 10 tháng 10
năm 2003 quy định công chức cấp xã như sau: “ 2. Những người được tuyển
dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân
cấp xã (gọi chung là công chức cấp xã), gồm có các chức danh sau đây:
Xã là một đơn vị cấp hành chính cuối cùng trong bốn cấp của hệ thống
quản lý hành chính, là cấp thấp nhất theo sự phân cấp quản lý nhưng thấp nhất
không đồng nghĩa với ít quan trọng nhất. Đặc biệt, cán bộ, công chức cấp xã có
một vị trí, vai trò rất quan trọng, là chủ thể thực thi pháp luật để quản lý mọi mặt
của đời sống xã hội nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước đề
ra; giữ gìn trật tự kỷ cương xã hội, đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa, xử lý các
hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm, bảo vệ lợi ích của các tầng lớp nhân dân
lao động; điều hành các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong quá
trình hoạt động của bộ máy nhà nước.
Do vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là nhiệm vụ rất quan
trọng vì cán bộ, công chức cấp xã có những vị trí, vai trò như sau:
- Một là, cán bộ, công chức cấp xã là người giữ vai trò quyết định trong
việc quán triệt, tổ chức thực hiện mọi quyết định của cấp uỷ cấp trên, cấp uỷ
23
cùng cấp và mọi chủ trương, kế hoạch, sự chỉ đạo của chính quyền cấp trên,
cũng như mọi chương trình, kế hoạch của chính quyền xã.
Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được nhân dân nắm
bắt, nhận thức mới chỉ là khởi đầu, điểm xuất phát để kiểm nghiệm được tính
đúng đắn của chủ trương, đường lối đó; điều kiện đủ là phải tổ chức thực hiện
trong thực tiễn; muốn làm được điều đó không có ai khác là cán bộ, công chức
cấp xã, bởi cán bộ, công chức cấp xã là người tiếp xúc nhiều nhất, hiểu rõ nhất,
giải quyết nhiều việc nhất của nhân dân.
Để thực hiện tốt vị trí, vai trò này đòi hỏi cán bộ, công chức cấp xã phải
có khả năng tổ chức, tập hợp và lôi cuốn mọi người vào hoạt động; phải có khả
năng xử lý các tình huống phát sinh, đó là các tình huống về tài chính, về thiên
tai, địch họa, do va chạm xóm giềng, dòng tộc, tình huống nảy sinh khi ra những
quyết định sai trái với cấp trên…; phải có khả năng kiểm tra, đánh giá hoạt động
Ba là, cán bộ, công chức cấp xã giữ vai trò quyết định trong việc xây
dựng và thúc đẩy phong trào cách mạng của quần chúng ở cơ sở và là cầu nối
quan trọng giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Thực tế cho thấy, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò rất quan
trọng trong việc thực hiện chức năng làm cầu nối giữa Đảng với nhân dân, giữa
công dân với Nhà nước. Bởi vì họ là những cán bộ trực tiếp tuyên truyền phổ
biến, vận động và tổ chức nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn dân cư, giải quyết mọi nhu cầu
của dân cư, bảo đảm sự phát triển kinh tế - xã hội của địa bàn, duy trì trật tự, an
ninh, an toàn xã hội trên địa bàn cấp xã. Do tính chất công việc của cấp xã, họ
vừa giải quyết những công việc hàng ngày, vừa phải quán triệt các Nghị quyết,
Chỉ thị của cấp trên, lại phải nắm tình hình thực tiễn ở địa bàn để từ đó đề ra kế
hoạch, chủ trương, biện pháp đúng đắn, thiết thực, phù hợp. Nhiệm vụ của họ rất
nặng nề, vai trò của họ có tính then chốt, xét cả trong quan hệ giữa Đảng với
dân, giữa công dân với Nhà nước. Thực tế đã chứng minh, đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức mạnh của hệ thống
chính trị, tạo dựng các phong trào cách mạng của quần chúng, góp phần thực
25
hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Sức mạnh của hệ thống chính trị, sự ổn định của xã hội, sự phát triển sâu, rộng
và hiệu quả phong trào cách mạng của quần chúng luôn gắn liền với năng lực,
phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ này. Họ giữ vai trò quyết định năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, năng lực lãnh đạo và quản lý
của chính quyền cơ sở. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước có thể trở thành hiện thực hay không, nhất thiết phải thông
qua phong trào cách mạng của quần chúng. Tuy nhiên, các phong trào của quần
chúng nếu không có sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước rất dễ hoặc