Header Page 1 of 166.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
……………………………………..
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
XÂY DỰNG HỆ THỐNG TRUY XUẤT THÔNG TIN
NGÀNH: CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
MÃ SỐ:
TRẦN THỊ HOÀNG THẢO
Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ THANH HƯƠNG
HÀ NỘI 2006
Footer Page 1 of 166.
Header Page 2 of 166.
MỤC LỤC
MỤC LỤC......................................................................................................... 2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .................................................................. 4
DANH MỤC BẢNG......................................................................................... 5
DANH MỤC HÌNH .......................................................................................... 6
MỞ ĐẦU........................................................................................................... 8
U
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TRUY XUẤT THÔNG TIN ..................... 10
CHƯƠNG 3. CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA LUCENE................................. 62
3.1. Giới thiệu Lucene ................................................................................. 62
3.2. Lập chỉ mục .......................................................................................... 63
3.2.1. Khung nhìn lôgíc của chỉ mục ....................................................... 64
3.2.2. Cấu trúc chỉ mục ............................................................................ 65
3.2.3. Inverted index................................................................................. 73
3.2.4. Chiến lược lập chỉ mục .................................................................. 77
3.3. Tìm kiếm............................................................................................... 78
3.3.1. Mô hình không gian véctơ ............................................................. 78
3.3.2. Xếp hạng ........................................................................................ 81
3.4. Kết chương............................................................................................ 84
CHƯƠNG 4. CHƯƠNG TRÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM ............. 85
4.1. Kiến trúc hoạt động của chương trình .................................................. 85
4.2. Kết quả thực nghiệm............................................................................. 87
4.3. Kết chương............................................................................................ 94
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA LUẬN VĂN 95
5.1. Kết luận................................................................................................. 95
5.2. Hướng phát triển của luận văn.............................................................. 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÉO................................................................. 100
Footer Page
ofHoàng
166. Thảo
Trần3Thị
Luận văn thạc sĩ
Header Page 4 of 166.
tf
Term Frequency: tần số thuật ngữ
tf – idf
Phương pháp tần số kết hợp của tf và idf
TREC
Text REtrieval Conference : hội nghị truy xuất văn bản
VSM
Vector Space Model: mô hình không gian véctơ
Footer Page
ofHoàng
166. Thảo
Trần4Thị
Luận văn thạc sĩ
Header Page 5 of 166.
5
Truy xuất thông tin
Hình 1-5 Văn bản A sau khi loại các từ trong danh sách stopword của Smart
......................................................................................................................... 17
Hình 1-6 Văn bản A sau khi lấy gốc từ........................................................... 18
Hình 1-7 Ví dụ đồ thị độ chính xác-độ bao phủ trung bình............................ 24
Hình 1-8 Các tài liệu được thu thập so với các tài liệu có liên quan (nguồn:
[5]) ................................................................................................................... 27
Hình 1-9 Biểu đồ so sánh tính chính xác của một số hệ thống IR.................. 30
Hình 1-10 Biểu đồ so sánh tính hiệu quả của một số hệ thống IR ................. 30
Hình 1-11 Biểu đồ so sánh một số hệ thống IR .............................................. 31
Hình 2-1 Tần số tập hợp (cf) và tần số tài liệu (df) thể hiện khác nhau ......... 37
Hình 2-2 Ví dụ các giá trị idf .......................................................................... 38
Hình 2-3 Một ví dụ tạo nhãn với mỗi khối logic có D = 2 từ, kích thước nhãn
F = 12 bit, m = 4 bit ........................................................................................ 39
Hình 2-4 Cấu trúc File dạng SSF .................................................................... 40
Hình 2-5 Minh hoạ một Inverted File ............................................................. 42
Hình 3-1 Quy trình lập chỉ mục với Lucene ................................................... 63
Hình 3-2 Khung nhìn lôgíc của một chỉ mục Lucene..................................... 65
Hình 3-3 Chỉ mục không được tối ưu hoá gồm 3 phân đoạn, chứa 24 tài liệu
......................................................................................................................... 68
Hình 3-4 Ví dụ minh hoạ định dạng chỉ mục của Lucene (nguồn: [4]).......... 74
Footer Page
ofHoàng
166. Thảo
Trần6Thị
Luận văn thạc sĩ
Header Page 7 of 166.
lượng dữ liệu được lưu trên máy tính gia tăng nhanh chóng. Trong những tập
dữ liệu khổng lồ đó ẩn chứa hàm lượng thông tin vô cùng lớn. Vấn đề đặt ra
là làm thế nào khai thác được khối thông tin đó để nó trở nên có ích đối với
người dùng.
Những tiến bộ đạt được về lý thuyết và công nghệ trong lĩnh vực xử lý
thông tin đã giải quyết được phần nào nhu cầu nêu trên, chẳng hạn, các bài
toán trong xử lý văn bản như tìm kiếm, phân loại, phân cụm văn bản.
Information Retrieval (tạm dịch là truy xuất thông tin) là một trong số các
vấn đề rất được quan tâm hiện nay. Đây là vấn đề khó, ngay cả với những hệ
thống tìm kiếm phổ biến trên mạng Internet như Google, Altavista, Yahoo thì
vẫn còn nhiều hạn chế. Có thể liệt kê các hạn chế thường gặp như sau: thứ
nhất là với mỗi truy vấn, hệ thống thường trả về tập kết quả gồm hàng nghìn
tài liệu, thậm chí còn lớn hơn nhiều, khiến người dùng phải mất nhiều thời
gian để đọc nội dung của từng tài liệu nhằm tìm thông tin mà họ quan tâm;
thứ hai là vấn đề tìm kiếm theo trọng số của từ khoá, ví dụ nếu người dùng
đưa ra truy vấn “software engineering” với mong muốn rằng từ “software” có
ưu tiên cao hơn từ “engineering” thì nhiều khi không nhận được kết quả như
ý; thứ ba là vấn đề sắp xếp các tài liệu trả về theo độ liên quan với truy vấn.
Ngày càng nhiều tổ chức và cá nhân có nhu cầu tìm kiếm thông tin
trong tập dữ liệu đặt trên một máy tính hoặc một mạng máy tính. Yêu cầu đặt
ra là cần có những hệ thống truy xuất thông tin chạy trên Desktop với hiệu
quả và độ chính xác cao. Trong luận văn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu
cơ sở lý thuyết truy xuất thông tin và xây dựng thử nghiệm một hệ thống
truy xuất thông tin cho phép tìm kiếm các tài liệu mang nội dung tiếng
Footer Page
ofHoàng
166. Thảo
Trần8Thị
Header Page 10 of 166.
10
Truy xuất thông tin
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TRUY XUẤT THÔNG TIN
Mục đích của chương này là giới thiệu tóm tắt về vấn đề truy xuất
thông tin:
9 Truy xuất thông tin là gì?
9 Các bước thực hiện trong quá trình truy xuất thông tin
9 Các phương pháp đánh giá hiệu quả truy xuất
9 So sánh một số hệ thống truy xuất thông tin
1.1. Khái niệm truy xuất thông tin
Thuật ngữ truy xuất thông tin (Information Retrieval – IR), phát biểu
bởi Rijsbergen [12] , thường được định nghĩa một cách rộng và không chặt
chẽ. Do vậy, thường có sự nhập nhằng giữa các lĩnh vực truy xuất dữ liệu
(data retrieval), truy xuất tài liệu (document retrieval), truy xuất thông tin và
truy xuất văn bản (text retrieval). Một định nghĩa đây đủ, dễ hiểu, tránh được
sự nhầm lẫn đó được đưa ra bởi Lancaster [19] : Một hệ thống truy xuất thông
tin không cho người dùng biết (ví dụ như thay đổi tri thức của người dùng) về
chủ đề mà họ yêu cầu. Nó chỉ đơn thuần cho biết sự tồn tại (hoặc không tồn
tại) và vị trí của các tài liệu có liên quan tới yêu cầu của người dùng. Trong
thực tế nghiên cứu, có thể định nghĩa truy xuất thông tin như sau [7] :
Truy xuất thông tin là việc tìm kiếm tài liệu ở trạng thái phi cấu trúc
(thường là văn bản) thoả mãn một nhu cầu thông tin nào đó từ các
tập hợp lớn (thường là trên các máy chủ cục bộ hoặc trên mạng).
khoá của một câu truy vấn.
IR có lịch sử lâu dài giống như lịch sử của việc lưu trữ thông tin, vào
khoảng 4000 năm. Cùng với sự phát triển của lượng thông tin được lưu trữ,
con người phải phát triển ngày càng nhiều phương thức để tổ chức lượng
thông tin đó để phục vụ cho việc truy xuất về sau. Quá trình phát triển đó
được tóm lược như dưới đây [14] .
Phương pháp đầu tiên là hệ thống bảng chữ cái. Các tài liệu cần được
sắp xếp theo cách này, khi mà số lượng tác phẩm văn học Hy Lạp tăng lên
buộc các thủ thư của thư viện Alexandria phải nghĩ ra một cách tổ chức các
tác phẩm, vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Mục lục là một ví dụ khác về
các công cụ ban đầu của IR, nó trở nên thiết yếu khi mà các tác phẩm văn học
gia tăng theo số lượng trang. Một ví dụ khác về IR thủa ban đầu là chỉ mục
(index). Danh mục đầu tiên là những mảnh giấy da dê nhỏ, chứa đầu đề (title)
và đôi khi tác giả của tác phẩm.
Trong khoảng 20 năm cuối thế kỷ 20, lĩnh vực IR phát triển tốt dựa trên
những mục đích cơ bản của nó là lập chỉ mục văn bản và tìm kiếm các tài liệu
có ích trong một tập hợp. Ngày nay, nghiên cứu trong IR bao gồm việc mô
hình hóa, phân loại văn bản, kiến trúc hệ thống, giao diện người dùng, trực
quan hóa dữ liệu, lọc, ngôn ngữ…
Một trong những dạng IR ban đầu là Memex được mô tả bởi Vanevar
Bush. Ngoài ra còn có kết quả của Warren Weaver. Warren Weaver tập trung
vào việc xử lý ngôn ngữ, coi đó là nền tảng của IR. Hơn nữa, sự phát triển của
IR hiện đại được củng cố cùng sự phát triển của Trí tuệ nhân tạo. Trong khi
chờ đợi, Trí tuệ nhân tạo chỉ được sử dụng trong một số phần của IR. Thuật
Footer Page
166.Thảo
Trần11
Thị of
Hoàng
sau đây. Thứ nhất, người dùng có thể nhập (các) câu, (các) cụm từ, (các) từ
vào hệ thống mà không cần phải nhập các toán tử. Điều này thường được hiểu
là một hệ thống IR toàn văn bản (full text), hệ thống này tự động lập chỉ mục
tất cả các từ trong một tài liệu. Thứ hai, hệ thống có thể xếp hạng các tài liệu
thu thập được bằng cách đánh giá mức độ hoặc khả năng có ích đối với người
dùng. Thứ ba, hệ thống có thể hỗ trợ việc tự động biến đổi câu lệnh tìm kiếm
theo phản hồi của người dùng. Yêu cầu thứ ba có thể không quan trọng như
hai yêu cầu kia.
Một hệ thống IR là một chương trình phần mềm lưu trữ và quản lý
thông tin về các tài liệu. Hệ thống trợ giúp người dùng tìm kiếm thông tin họ
cần. Nó cho biết về sự tồn tại và vị trí của các tài liệu có thể chứa thông tin
Footer Page
166.Thảo
Trần12
Thị of
Hoàng
Luận văn thạc sĩ
Header Page 13 of 166.
13
Truy xuất thông tin
cần thiết. Có thể một số tài liệu được đề xuất sẽ thoả mãn nhu cầu thông tin
của người dùng. Những tài liệu đó được gọi là các tài liệu có liên quan. Một
hệ thống IR hoàn hảo sẽ chỉ thu thập những tài liệu có liên quan và bỏ qua
Searching
Indexing
Index
Database
Manager
Inverted
file
Text
Database
Ranked
Docs
Ranking
Retrieved
Docs
Hình 1-1 Quy trình truy xuất thông tin nói chung (nguồn: [1] )
Footer Page
166.Thảo
Trần13
Thị of
Hoàng
được, người dùng có thể đánh dấu một tập con các tài liệu thực sự đáng quan
tâm và khi đó sẽ khởi đầu một chu trình phản hồi của người dùng (relevance
feedback). Trong chu trình như vậy, hệ thống sử dụng các tài liệu được chọn
bởi người dùng để cải thiện đổi công thức truy vấn. Truy vấn đã được biến
đổi này sẽ biểu diễn tốt hơn nhu cầu thực sự của người dùng.
Tóm lại, trong quá trình truy vấn, hệ thống IR chắt lọc các phần thông
tin có thể sẽ đáp ứng được nhu cầu thông tin được phát biểu bởi người dùng.
Footer Page
166.Thảo
Trần14
Thị of
Hoàng
Luận văn thạc sĩ
Header Page 15 of 166.
15
Truy xuất thông tin
Quá trình này thường được chia thành hai giai đoạn, tiền xử lý (preprocessing) và thu thập (retrieval). Giai đoạn truy xuất có thể lặp đi lặp lại
nếu như người dùng muốn tinh chỉnh các kết quả truy xuất.
1.2.1. Giai đoạn tiền xử lý
1.2.1.1. Tiền xử lý tài liệu
Trong giai đoạn tiền xử lý, hệ thống IR tạo ra biểu diễn bên trong của
thông tin trong từng tài liệu thông qua quy trình đánh chỉ mục. Trước hết, tập
sau việc lấy gốc từ là không có sự khác biệt đáng kể về ý nghĩa giữa các từ có
chung một gốc. Một cụm từ chứa ít nhất hai từ liên tiếp có nghĩa rõ ràng, ví
dụ ‘office application’ hoặc ‘Hanoi University of Technology’. Nếu có thể,
những từ khóa (keyword) được chỉ định một cách thủ công, mô tả nội dung
của tài liệu cũng có thể được dùng cho việc lập chỉ mục (ví dụ Google).
Phân tích từ vựng
Là quá trình biến đổi các ký tự trong tài liệu thành một tập các từ được
đề cử để chọn làm từ chỉ mục bằng cách xử lý các chữ số, dấu nối, các ký
hiệu chấm câu và chữ viết hoa viết thường.
CHAPTER 1
PREAMBLE
1.1 Humanity stands at a defining moment history. We are confronted with a
perpetuation of disparities between and within nations, a worsening of poverty,
hunger, ill health and illiteracy, and the continuing deterioration of the ecosystem
on which we depend for out well-being.
Hình 1-3 Văn bản A ban đầu
chapter 1 preamble 1 1 humanity stands at a defining moment history we
are confronted with a perpetuation of disparities between and within
nations a worsening of poverty hunger ill health and illiteracy and the
Hình 1-4 Văn bản A sau khi phân tích
Bước đầu tiên là lọc ra các ký tự không mong muốn và ký hiệu (các thẻ
HTML, dấu chấm câu, các con số…). Tiếp theo, văn bản cần được chia thành
Footer Page
166.Thảo
Trần16
Thị of
Hoàng
Từ cần loại bỏ nằm trong danh sách từ dừng, quá trình này sẽ được
thực hiện trong phần nhận dạng từ, có nghĩa là từ này sẽ không thể đi
qua bộ nhận dạng từ và vì thế chúng không được lập chỉ mục.
•
Từ cần loại bỏ không nằm trong danh sách từ dừng nhưng nó xảy ra
quá thường xuyên trong tập tài liệu của ta (từ quá thường xuyên ở đây
có nghĩa là nó xuất hiện vượt quá một ngưỡng qui định của ta, ví dụ
như có mặt trên 80% số lượng File, hoặc trên 200 file), quá trình này
Footer Page
166.Thảo
Trần17
Thị of
Hoàng
Luận văn thạc sĩ
Header Page 18 of 166.
18
Truy xuất thông tin
được thực hiện sau khi ta đã lập chỉ mục song toàn bộ tài liệu và bảng
chỉ mục đang được lưu trong bộ đệm bộ nhớ chính. Khi đó ta thực
hiện việc duyệt trên bảng băm để tìm các từ dừng, thêm chúng vào
Hoàng
Luận văn thạc sĩ
Header Page 19 of 166.
19
Truy xuất thông tin
từ đó nó đã được chắt lọc hoặc độ dài của tài liệu có thể được dùng để tính
toán trọng số của khái niệm liên quan trong tài liệu.
1.2.1.2. Lập chỉ mục
Bước lập chỉ mục sử dụng các term mô tả khung nhìn lôgíc của các tài
liệu để xây dựng chỉ mục. Như trên đã nêu, cấu trúc chỉ mục phổ biến nhất là
Inverted Files, trong đó tập tài liệu được biến đổi thành một tập các term kèm
theo một danh sách tương ứng các tài liệu mà chúng xuất hiện. Trong một
Inverted File, mỗi term trỏ tới một danh sách tất cả các tài liệu mà nó xuất
hiện. Cấu trúc chỉ mục như vậy đóng vai trò rất quan trọng vì nó "cho phép
tìm kiếm nhanh trên tập dữ liệu lớn" [1] .
Quy trình này có thể được thực hiện thủ công (đòi hỏi sức người nên
rất tốn kém) hoặc tự động bằng cách tách các term từ văn bản của phần tử
thông tin, sử dụng một thủ tục dựa trên thông kê hoặc ngôn ngữ.
Một số term có thể biểu diễn tốt hơn chủ đề của tài liệu. Do đó, mỗi
term có thể được gán một trọng số thể hiện tầm quan trọng của nó trong tài
liệu. Như vậy, cấu trúc chỉ mục bao gồm một tập các term đã được xử lý, kèm
theo một danh sách các tài liệu chứa chúng và trọng số của chúng. Trọng số
của một term trong một tài liệu có thể chỉ đơn giản là số lần xuất hiện của
chúng trong tài liệu. Tần số càng lớn thì tầm quan trọng của nó càng lớn. Điều
nó đối với yêu cầu.
Ở bước đầu trong giai đoạn truy xuất, hệ thống IR thực hiện các thao
tác xử lý đối với truy vấn của người dùng tương tự như đối với các tài liệu
ban đầu trong quá trình tiền xử lý. Các thao tác xử lý văn bản là những
phương thức chính được dùng để biểu diễn những nhu cầu của người dùng, và
đây là điểm khác biệt chủ yếu của truy xuất thông tin với truy xuất dữ liệu
(trong truy xuất dữ liệu không có thao tác xử lý lôgíc đối với truy vấn ban đầu
trước khi thực hiện tìm kiếm). Kết quả nhận được là một danh sách các từ, đó
chính là biểu diễn bên trong của nhu cầu thông tin của người dùng.
1.2.2.2. Tìm kiếm
Trong giai đoạn tìm kiếm, mỗi term thu được từ thao tác xử lý văn bản
được dùng để xác định, thông qua tập chỉ mục, một danh sách các tài liệu mà
trong đó nó xuất hiện. Nếu có nhiều từ xuất hiện trong truy vấn thì bước tìm
kiếm sẽ trả về hợp của các tài liệu thu thập được theo tất cả các từ hoặc một
số từ, tùy theo kiểu truy vấn. Tóm lại, tìm kiếm là quá trình đối sánh
(matching) các term trong các tài liệu với các term trong truy vấn.
Cụ thể, hệ thống IR thực hiện đối sánh giữa truy vấn với từng biểu diễn
của tài liệu để đánh giá độ liên quan của nó với nhu cầu thông tin. Kết quả đối
sánh có thể là phù hợp tuyệt đối hoặc một phần, nhưng do tính không rõ ràng
vốn có của quá trình truy xuất nên phù hợp một phần ngày càng được ưa
Footer Page
166.Thảo
Trần20
Thị of
Hoàng
Luận văn thạc sĩ
luận văn, chúng tôi không xem xét quá trình này.
Footer Page
166.Thảo
Trần21
Thị of
Hoàng
Luận văn thạc sĩ
Header Page 22 of 166.
22
Truy xuất thông tin
1.3. Các hướng tiếp cận giải quyết bài toán truy xuất
thông tin
Nhìn chung, có hai loại nghiên cứu và kỹ thuật chính trong IR là : dựa
trên ngữ nghĩa (semantic) và dựa trên thống kê (statistical) [3] . Các hướng
tiếp cận dựa trên ngữ nghĩa thực hiện việc phân tích ngữ nghĩa và cú pháp ở
một mức độ nào đó; nói cách khác là mô phỏng khả năng hiểu văn bản ngôn
ngữ tự nhiên mà một người dùng có thể đưa ra ở một mức nào đó (có thể là
rất khiêm tốn). Trong các hướng tiếp cận dựa trên thống kê, các tài liệu được
thu thập hay được xếp hạng cao là những tài liệu phù hợp nhất với truy vấn
theo một số độ đo thống kê. Trong luận văn, chúng tôi tập trung vào các
hướng giải quyết bài toán IR dựa trên thống kê.
Các hướng tiếp cận dựa trên thống kê được chia thành ba loại là: mô
hình truy xuất Boolean (Boolean Retrieval Model), mô hình không gian véctơ
phần mềm nói chung thì hiệu suất truy xuất là vấn đề then chốt của một hệ
thống IR.
Việc đánh giá IR được thực hiện bằng cách truy vấn một tập hợp tham
khảo đã chuẩn hóa. Những tập tham khảo này gồm một tập các tài liệu, một
tập các yêu cầu thông tin ví dụ và các tập hợp tài liệu có liên quan tương ứng.
Những tài liệu có liên quan ứng với các yêu cầu thông tin mẫu được xác định
bởi chuyên gia.
Đối với một chiến lược thu thập đã biết, các tài liệu được thu thập sẽ
được so sánh với tập các tài liệu có liên quan, đã được xác định bởi chuyên
gia. Độ tương tự giữa hai tập được định lượng bằng tiêu chuẩn đánh giá của
tập kiểm tra và được xem là chất lượng của chiến lược IR đang xét.
1.4.1. Độ chính xác và độ bao phủ
Hiệu quả của một hệ thống IR thể hiện khả năng đáp ứng của kết quả
truy xuất đối với một yêu cầu thông tin. Các độ đo hiệu quả truy xuất phổ
biến là độ chính xác (precision) và độ bao phủ (recall) [23] [25] . Cả hai độ
đo đều dựa trên các đánh giá của người dùng theo quá trình truy xuất. Độ
chính xác (P) là tỷ lệ tài liệu được thu thập có liên quan, nó cho biết khả năng
thu thập những tài liệu được xếp hạng trên cùng mà phần lớn là có liên quan.
Độ bao phủ (R) là tỷ lệ tài liệu có liên quan được thu thập, nó cho biết khả
năng tìm kiếm tất cả các tài liệu có liên quan trong tập hợp. P và R lần lượt
được tính theo công thức (1-1 và (1-2 :
A
B
A
R=
C
(1-1)
xác P(r) ứng với các giá trị khác nhau của độ bao phủ, r.
Để vẽ đồ thị đó, độ chính xác được tính dựa trên 11 mức chuẩn của độ
bao phủ là 0%, 10%, 20%,... 100%. Ví dụ, độ chính xác của các tài liệu được
thu thập được tính tới khi hệ thống IR trả về 10% số lượng các tài liệu có liên
quan. Nếu đạt tới độ bao phủ 10% với tài liệu thứ hai của tập tài liệu được thu
thập thì độ chính xác ứng với mức này sẽ là 50%. Đối với mức bao phủ 0%,
độ chính xác đạt được thông qua một thủ tục nội suy. Mức bao phủ của một
yêu cầu ví dụ có thể khác với 11 mức bao phủ chuẩn, khi đó cũng cần phải sử
dụng thủ tục nội suy nhưng cách này ít được dùng để đánh giá hệ thống IR.
Hình 1-7 Ví dụ đồ thị độ chính xác-độ bao phủ trung bình
Footer Page
166.Thảo
Trần24
Thị of
Hoàng
Luận văn thạc sĩ
Header Page 25 of 166.
25
Truy xuất thông tin
Các giá trị độ chính xác và độ bao phủ, kết quả của việc tính trung bình
nhiều truy vấn, thường được dùng để so sánh hiệu suất của các hệ thống IR.
Những đồ thị độ chính xác-độ bao phủ trung bình như vậy mang lại cái nhìn
Luận văn thạc sĩ