BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
___________________
PHẠM HỒNG HẠNH
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ
Ở HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Nghệ An, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
___________________
PHẠM HỒNG HẠNH
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ
Ở HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học:
4
MỤC LỤC
Trang
C. KẾT LUẬN.....................................................................................................85
5
BẢNG QUY ĐỊNH CHỮ VIẾT TẮT
TT
Chữ viết tắt
Nội dung
1
CB
Cán bộ
2
CBCX
Cán bộ cấp xã
3
UBND
Ủy ban nhân dân
9
VLXD
Vật liệu xây dựng
10
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
C. KẾT LUẬN.....................................................................................................85
7
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Muốn việc thành công hay
thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Cán
bộ là những người đem chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
việc, thiếu gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ nên chưa đáp ứng được yêu cầu
của công cuộc đổi mới. Để góp phần khắc phục những hạn chế nêu trên nhằm
xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng giai đoạn 2015 - 2020, tôi đã chọn đề tài:
“Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh
Hóa giai đoạn hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ chuyên ngành Chính
trị học.
Trong phạm vi bước đầu xây dựng đề tài, tôi đã cố gắng sưu tầm và
nghiên cứu một số sách, bài báo, tài liệu, công trình khoa học, luận văn thạc
sỹ… có liên quan. Có thể nêu một số công trình tiêu biểu như sau:
Đề tài: Khoa học cấp nhà nước “Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ
lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị đổi mới”, thuộc chương trình KX- O5
do PGS,TS Trần Xuân Sầm làm chủ nhiệm, (1999).
Đề tài: Khoa học cấp bộ “Về những yêu cầu của đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp huyện ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” (1999), do Tiến sĩ
Nguyễn Văn Sáu làm chủ nhiệm.
Mẫu hình và con đường hình thành người lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở
(1992) của Học Viện Nguyễn Ái Quốc, Hà Nội.
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu
cầu của tình hình mới (nguồn xaydungdang.org.vn)
Xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới (nguồn
xaydungdang.org.vn)
9
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất
nước (1988), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Nguyễn Phú Trọng (1999), Sự lãnh đạo và hoạt động của Đảng trong điều
kiện cơ chế thị trường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Học viện Nguyễn Ái Quốc (1992), Mẫu hình và con đường hình thành
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và đường lối của Đảng, luận văn tập trung đưa ra mục tiêu, phương
hướng, quan điểm và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng và quy
hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng giai đoạn 2015 - 2020.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc xây dựng và quy hoạch đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp xã hiện nay.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã của huyện
Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa và thực trạng công tác xây dựng, quy hoạch đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã trong giai đoạn vừa qua, chỉ ra những ưu khuyết
điểm, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong xây dựng, quy hoạch đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp xã.
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp, để xây dựng và quy hoạch
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở huyện Nông Cống đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
giai đoạn 2015 - 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Với phạm vi đề tài luận văn chỉ nghiên cứu công tác xây dựng và quy
hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn không đi vào nghiên cứu đội ngũ cán bộ nói chung mà chủ yếu
tập trung vào công tác quy hoạch và xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
11
trên địa bàn huyện Nông Cống. Cụ thể luận văn nghiên cứu những vấn đề thuộc
về quan điểm, mục tiêu, nội dung, giải pháp xây dựng, quy hoạch đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp xã ở huyện Nông Cống đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2015
khảo phục vụ cho việc giảng dạy và học tập bộ môn Xây dựng Đảng cho cán bộ
ở Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện và phục vụ đề tài sáng kiến kinh nghiệm
trong công tác cán bộ của huyện.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được kết cấu thành 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về xây dựng và quy hoạch đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp xã.
Chương 2: Thực trạng xây dựng và quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp xã ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh hóa hiện nay.
Chương 3: Mục tiêu, phương hướng, quan điểm và giải pháp xây dựng,
quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa
giai đoạn 2015 - 2020.
13
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG
VÀ QUY HOẠCH ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ
1.1. Khái quát về cán bộ cấp xã
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản được sử dụng trong đề tài
1.1.1.1. Khái niệm cán bộ
Cán bộ là một khái niệm mang tính lịch sử, nội dung của nó phụ thuộc
vào đặc điểm của mỗi quốc gia, là bộ phận nhân lực chủ yếu trong hoạt động
quản lý nhà nước. CB được hiểu chung nhất là những người thực thi nhiệm vụ
của nhà nước quy định, hoạt động của CB mang tính quyền lực nhà nước hoặc
phục vụ cho việc ban hành các quyết định quản lý nhà nước, của xã hội để làm
mục tiêu, căn cứ, tiêu chuẩn cho hành vi của mình. Với những giai đoạn lịch sử
nhất định, thuật ngữ CB cũng mang những nội dung khác nhau. Theo quan điểm
d) Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn
có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt
Nam);
h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Từ những quy định trên đây cho thấy đội ngũ cán bộ cấp xã có những đặc
điểm sau:
Về tiêu chuẩn, CB cấp xã có tiêu chuẩn chung được quy định tại Quyết
định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/1/2004. Hầu hết CB cấp xã đều đảm nhận vị
trí chủ chốt tại xã kể cả công tác Đảng, chính quyền và đoàn thể. Những tiêu
chuẩn về chính trị là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất. Tiêu chuẩn
15
chính trị đảm bảo cho CB cấp xã đủ phẩm chất để lãnh đạo các mặt công tác
quan trọng.
Nguồn hình thành CB cấp xã rất đa dạng. Do CB được bầu cử từ các tổ
chức chính trị - xã hội như: Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể... Cũng xuất
phát từ lý do trên nên cán bộ cấp xã thường xuyên biến động, thay đổi vị trí
công tác do yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương.
Trong thực tế, trình độ chuyên môn của CB không đồng đều. Nguyên
nhân là do CB hình thành từ cơ chế bầu cử nên tiêu chuẩn chuyên môn chưa
được chú ý đúng mức. Cán bộ Mặt trận và đoàn thể chưa có chuyên môn phù
hợp. Tuy nhiên, do được sự tín nhiệm nên được giữ những trọng trách quan
trọng mặc dù có thể chưa đủ tiêu chuẩn theo quy định. Từ thực tế đó đòi hỏi các
cơ quan có thẩm quyền phải có kế hoạch chuẩn hóa lực lượng CB này.
1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
xã trong hệ thống chính trị hiện nay
của Nhà nước vào đời sống xã hội tại cơ sở. Là những người giữ vai trò “trung
tâm”, “trụ cột” tại cơ sở, họ không những nắm vững chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn phải có khả năng nắm bắt, am
hiểu đặc điểm tình hình của cơ sở để đề ra những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể hóa
đường lối, chủ trương, chính sách đó đi vào cuộc sống, phù hợp với điều kiện,
đặc điểm từng cơ sở.
- Đội ngũ CB chủ chốt cấp xã là người thường xuyên, trực tiếp triển khai,
hướng dẫn và vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trong quá trình đó, họ đã tạo ra “cầu nối”
giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và ý Đảng hợp lòng dân, tạo thành một khối
thống nhất, làm cho Đảng và Nhà nước ăn sâu bám rễ trong quần chúng, tạo nên
mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, trực tiếp củng cố niềm tin của
nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Mặc khác, qua phong trào cách
mạng của quần chúng, giúp cho CB cơ sở rút kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn,
17
góp phần vào xây dựng và hoàn thiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước
- Đội ngũ CB chủ chốt cấp xã có vị trí quan trọng trong việc xây dựng,
củng cố tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị ở cơ sở. Họ là trụ cột, là trung
tâm đoàn kết nội bộ, là lực lượng quy tụ lực lượng tổ chức, sắp xếp, kiện toàn
các tổ chức trong hệ thống chính trị tại cơ sở.
1.1.2.2. Vai trò của cán bộ chủ chốt cấp xã
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ. Người đã khẳng định: “Cán
bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hay thất bại đều do cán
bộ tốt hay kém” [24, tr.269-273]. Theo Người, “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ
máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù có tốt, dù chạy toàn
bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của
yếu tố chi phối mạnh mẽ đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của
cộng đồng dân cư trên địa bàn. Sở dĩ như vậy vì họ là những cán bộ trực tiếp
tuyên truyền, phổ biến, vận động và tổ chức nhân dân thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn dân cư, giải
quyết mọi nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, bảo đảm sự phát
triển kinh tế của địa phương, duy trì trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn cấp xã.
Do tính chất công việc của cấp xã, họ vừa giải quyết những công việc hàng
ngày, vừa phải quán triệt các Nghị quyết, Chỉ thị của cấp trên và phải nắm tình
hình thực tiễn ở địa phương để từ đó đề ra kế hoạch, chủ trương, biện pháp đúng
đắn, thiết thực, phù hợp. Thực tế đã chứng minh, đội ngũ CB cấp xã có vai trò
quan trọng trong việc phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị, tạo dựng các
phong trào cách mạng của quần chúng, góp phần thực hiện thắng lợi các mục
tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Sức mạnh của hệ thống
chính trị, sự ổn định của xã hội, sự phát triển sâu rộng và hiệu quả của phong
19
trào cách mạng của quần chúng luôn gắn liền với năng lực, phẩm chất đạo đức
của đội ngũ này.
Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của CB cấp xã, trong công cuộc đổi
mới toàn diện đất nước hiện nay, vận dụng đúng đắn lý luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tiêu chuẩn cán bộ và công tác cán bộ, Đảng ta
luôn quan tâm đến đội ngũ cán bộ của Đảng, trong đó có lực lượng CB cấp xã.
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng ta tiếp tục khẳng định
“Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ toàn diện cả về lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức,
trình độ chuyên môn, năng lực thực tiễn. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
lãnh đạo, cán bộ quản lý, các nhà doanh nghiệp và các chuyên gia, trước hết là
đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị, phải dành kinh phí thỏa đáng
cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở và chú ý kiện toàn, tăng cường
đội ngũ cán bộ cốt cán”. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X đã nhấn mạnh “xây
Theo Hồ Chí Minh, làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới,
đây là nhiệm vụ rất vẻ vang nhưng cũng rất nặng nề, là một cuộc đấu tranh lâu
dài, gian khổ, phức tạp. Để hoàn thành nhiệm vụ đó đòi hỏi Đảng phải xây dựng
được một đội ngũ CB có đủ đức, đủ tài, trong đó đức là quan trọng hàng đầu.
Người chỉ rõ, đạo đức là “gốc”, nền tảng của người cách mạng. Người nhấn
mạnh: “Cũng như sông thì phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông
cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo
đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”
[23, tr.252-253].
Sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa đòi hỏi phải có nguồn nhân lực trình độ cao mới đáp ứng yêu cầu đẩy
nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, gắn với nâng cao toàn diện chất lượng
và hiệu quả CNH, HĐH đất nước. Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ
21
rõ: phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn... được
coi là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là
điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội,
tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.
Mục tiêu tổng quát của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020
là: “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên
trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao
hơn trong giai đoạn sau”. Mục tiêu đó đòi hỏi các tổ chức đảng và toàn Đảng
một năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu mới, trong đó vấn đề then chốt là xây
CB đang và sẽ thật sự là công việc mấu chốt trong nhiệm vụ then chốt xây dựng
Đảng, có ý nghĩa sâu sắc về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại, an ninh
quốc phòng, liên quan trực tiếp đến thành bại của cách mạng và sự an nguy của
Đảng, của chế độ ta.
Sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng
đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, nhất là từ
Đại hội VIII đến nay, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đặc
biệt coi trọng nhiệm vụ này và đề ra Nghị quyết về chiến lược cán bộ thời kỳ
đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Các cấp ủy đảng đã cụ thể hóa và tổ chức thực
hiện Nghị quyết đó và thu được những kết quả bước đầu. Nhờ đó, mặc dù mỗi
cán bộ, đảng viên sống và hoạt động trong hoàn cảnh có nhiều đặc điểm mới so
với những năm trước đó, trước thời cơ và thách thức quyết liệt, đội ngũ cán bộ,
đảng viên vẫn từng bước trưởng thành. Tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên vững
vàng trước những biến động trong nước và thế giới, kiên định mục tiêu và con
đường đi lên CNXH do Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, hăng hái đi
23
đầu trong công cuộc đổi mới, hoàn thành các nhiệm vụ được giao; giữ vững
phẩm chất, đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trong sạch, lành mạnh.
Nhiều cán bộ, đảng viên hoạt động trong các môi trường phức tạp, điều kiện khó
khăn đã năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước
dân, trước Đảng, mạnh dạn tìm tòi, thử nghiệm nhiều cách làm mới, đạt hiệu quả
cao, được quần chúng tin yêu, ca ngợi, góp phần nâng cao uy tín, vai trò lãnh
đạo của Đảng trong điều kiện mới. Đại bộ phận cán bộ, đảng viên có ý thức tổ
chức kỷ luật cao, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, Điều lệ Đảng, pháp luật
của Nhà nước, những quy định của địa phương.
1.2.1.2. Quan điểm của Đảng, Nhà nước trong công tác quy hoạch cán bộ
chủ chốt cấp xã
Quy hoạch CB là một nội dung trọng yếu của công tác CB, bảo đảm cho
sử dụng CB. Đánh giá đúng CB là khâu quan trọng nhất, là tiền đề cho việc bố
trí và cho quy hoạch CB; đồng thời quy hoạch CB là cơ sở để thực hiện luân
chuyển, đào tạo CB cho nhu cầu trước mắt và lâu dài.
+ Thực hiện quy hoạch “động” và “mở”: một chức danh có thể quy hoạch
nhiều người và một người có thể quy hoạch nhiều chức danh; quy hoạch phải
luôn được xem xét, đánh giá để bổ sung, điều chỉnh hàng năm, đưa ra khỏi quy
hoạch những người không còn đủ tiêu chuẩn và điều kiện, bổ sung vào quy
hoạch những nhân tố mới có triển vọng.
+ Quy hoạch CB phải đồng bộ từ trên xuống dưới; cấp trên chỉ đạo,
hướng dẫn cấp dưới quy hoạch cán bộ, lấy quy hoạch CB cấp dưới làm cơ sở
cho quy hoạch CB cấp trên; quy hoạch cấp trên thúc đẩy quy hoạch cấp dưới.
+ Quy hoạch CB phải mang tính khoa học và thực tiễn, vừa tạo nguồn cho
việc đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, vừa tạo động lực thúc đẩy, phát
huy nhân tố chủ quan, phấn đấu vươn lên của cán bộ, bảo đảm sự đoàn kết trong
sự phát triển của toàn đội ngũ cán bộ, đề phòng tư tưởng cơ hội, chạy theo quy
hoạch; không cứng nhắc, máy móc trong xây dựng và thực hiện quy hoạch.