MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đại hội X của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu phát
triển của nước ta là “Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, sớm đưa nước ta
ra khỏi tình trạng kém phát triển và cải thiện rõ rệt đời sống vật chất văn hóa
tinh thần của nhân dân. Tập trung đẩy mạnh CNH-HĐH và phát triển kinh tế
trí thức, tạo nền tảng đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại vào năm 2020”. Như vậy, để đi tắt đón đầu về phát triển KT-
XH thì vai trò của GD&ĐT được đề cao là “Quốc sách hàng đầu” và một
trong những giải pháp phát triển GD&ĐT hiện nay là tập trung nâng cao chất
lượng giáo dục nhằm xây dựng lực lượng lao động Việt Nam trong đó mỗi cá
nhân phải có bản lĩnh, năng động, sáng tạo, có học vấn, có kỹ năng nghề
nghiệp, có khả năng thích ứng, có ý thức làm chủ và tinh thần trách nhiệm với
cộng đồng với chính mình, giầu bản sắc dân tộc phù hợp với nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa.
Chất lượng GD&ĐT phụ thuộc phần nhiều vào chất lượng đội ngũ nhà
giáo và CBQL giáo dục. Nhưng hiện nay “Công tác quản lý giáo dục còn kém
hiệu quả”; “Năng lực của quản lý giáo dục các cấp chưa được chú trọng nâng
cao”.
Chỉ thị 40- CT/ TW ngày 15/6/2004 của Ban bí thư TW Đảng Cộng
Sản Việt Nam đã chỉ rõ “xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL giáo
dục” và thủ tướng chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có
quyết định số 09/TTg ngày 11/01/ 2005 phê duyệt đề án “Xây dựng, nâng cao
chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục giai đoạn 2005- 2010”. Bên
cạnh đó Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Phát triển
giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt
Nam theo hướng chuẩn hoá, HĐH, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc
tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và
CBQL là khâu then chốt ”.
1
Trong những năm qua, ngành Giáo dục và Đào tạo Nông Cống đã nỗ
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ
CBQL trường THCS.
- Nghiên cứu thực trạng chất lượng đội ngũ CBQL và giải pháp đã sử
dụng để nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường THCS huyện Nông Cống,
tỉnh Thanh Hóa
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường
THCS huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng và phối hợp các phương pháp
sau:
6.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và hệ thống hóa các tài liệu lý luận có liên quan nhằm xây
dựng cơ sở lý luận đến vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL THCS.
6.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Các phương pháp được dùng chủ yếu để nghiên cứu thực trạng chất
lượng đội ngũ CBQL trường THCS huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa và các
giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL ở huyện nhà:
6.2.1. Phương pháp quan sát
nhằm tìm hiểu thực trạng chất lượng các mặt hoạt động quản lý theo
chức năng và nhiệm vụ của CBQL trường THCS
6.2.2. Phương pháp điều tra
làm rõ thực trạng chất lượng đội ngũ CBQL trường THCS và các giải
pháp đã sử dụng để nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường THCS huyện
Nông Cống.
6.2.3. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Nhằm tìm hiểu tính cần thiết và khả thi của các giải pháp nâng cao chất
lượng đội ngũ CBQL huyện Nông Cống.
6.2.4. Phương pháp phỏng vấn
3
Hỗ trợ cho các phương pháp nghiên cứu thực tiễn nói trên
nhân, mối quan hệ giữa người quản lý đối với người bị quản lý và đặc biệt là
nâng cao năng lực quản lý cho người quản lý [Theo các tác giả Nguyễn Thị
Doan- Đỗ Minh Cương- Phương Kỳ Sơn viết tại cuốn “Các học thuyết quản
lý” (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội- 1996)]Tại Pháp, tác giả Henri Fayol
(1841- 1925) đã đưa ra 5 chức năng cơ bản của quản lý, 16 quy tắc về chức
trách quản lý và 14 nguyên tắc quản lý hành chính, trong đó ông đã khẳng
định nếu người quản lý có đủ phẩm chất và năng lực để kết hợp nhuần nhuyễn
các chức năng, các quy tắc và nguyên tắc quản lý thì sẽ đạt được mục tiêu
quản lý của tổ chức.
- Vào thập kỷ 70-80 của thể kỷ XX các công trình của Harold Kntz,
Cyril Odonnel, Heinz Weihrich với tác phẩm nổi tiếng nhất là cuốn “Những
vấn đề cốt yếu của quản lý” (1994) đã đề cập nhiều hơn về các yêu cầu chất
lượng của người quản lý.
1.1.2. Những nghiên cứu ở trong nước
- Khi bàn về công tác cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890- 1969) đã
khẳng định: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Mọi thành công hoặc
thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “Có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong”.
- Hội nghị lần thứ 3 của BCH TW Đảng khóa VIII khẳng định "Cán bộ
là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của
Đảng, của đất nước và chế độ” (21; tr20).
5
- Có nhiều công trình khoa học về quản lý đã bàn về chất lượng của
người quản lý. Ví dụ: Mai Hữu Khuê với “Những vấn đề cơ bản của khoa học
quản lý (1982); Kiều Nam với “Tổ chức bộ máy lãnh đạo và quản lý” (1983);
Nguyễn Minh Đạo với “Cơ sở của khoa học quản lý” (1997); Đỗ Hoàng Toàn
với Lý thuyết quản lý (1998) và Nguyễn Văn Bình (tổng chủ biên) với “Khoa
học tổ chức và quản lý”; Phạm Đức Thành (chủ biên) cuốn “Giáo trình quản
trị nhân lực (1995)… đã đề cập tới nhiều khía cạnh chất lượng CBQL của một
tổ chức, trong đó có chất lượng của đội ngũ CBQL.
- Đứng ở góc độ quản lý giáo dục và quản lý nhà trường, một số nhà
điểm giống nhau: khi nói tới cán bộ là chỉ những người có chức vụ, có vai trò
và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động
của một tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý điều hành,
góp phần định hướng cho sự phát triển của tổ chức.
1.2.1.2. Cán bộ quản lý trường THCS
* Cán bộ quản lý
Theo cách hiểu thông thường và khá phổ biến ở nước ta hiện nay
thường cho rằng hai khái niệm “cán bộ quản lý” và “cán bộ lãnh đạo” gắn liền
với nhau. Sở dĩ như vậy, bởi nội hàm của hai khái niệm này có những điểm
giống nhau: cả cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý đều là chủ thể ra quyết định,
điều khiển hoạt động của một tổ chức. Người cán bộ lãnh đạo cũng phải thực
hiện chức năng quản lý và người cán bộ quản lý cũng phải thực hiện chức
năng lãnh đạo.
Do đó, theo tác giả có thể hiểu “cán bộ quản lý” là những người có
chức vụ, có trách nhiệm điều hành hoạt động của một tổ chức. Trong quá
trình hoạt động các cán bộ quản lý định hướng cho khách thể quản lý thông
qua hệ thống cơ chế, đường lối, chủ trương, chính sách đồng thời trực tiếp
điều khiển, vận hành tổ chức thông qua những thiết chế có tính pháp lệnh
được quy định trước.
* Cán bộ quản lý trường THCS
7
Là những người trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động của nhà trường
theo các quy định của pháp luật và của cấp trên giao cho theo đúng chức
năng, nhiệm vụ và quyền hạn của trường THCS. Đồng thời, phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật và cấp trên về những hoạt động quản lý của mình.
Cán bộ quản lý trường THCS là những người quản lý nhà trường từ cấp
tổ chuyên môn trở lên, bao gồm: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và cán bộ quản
lý tổ chuyên môn. Tập hợp các cán bộ QLGD tạo nên đội ngũ CBQLGD.
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi đề cập tới CBQL trường THCS là
những người đứng đầu nhà trường (Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng) cùng
những sự vật với nhau.
Theo tiêu chuẩn Việt Nam ISO 8402 giải thích chất lượng là: “tập hợp
các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó có khả năng
thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn”
Như vậy, khi nói đến “chất lượng” là nói đến một khái niệm phản ánh
thuộc tính đặc trưng, giá trị, bản chất của sự vật và tạo nên sự khác biệt giữa
sự vật này với sự vật khác. Theo quan điểm triết học, chất lượng hay sự biến
đổi về chất là kết quả của quá trình tích luỹ về lượng tạo nên bước nhảy vọt
về chất của sự vật, hiện tượng. Mặc dù chất lượng là “cái” tạo nên phẩm chất,
giá trị, song khi phán xét về chất lượng thì phải căn cứ vào phẩm chất, giá trị
do nó tạo ra. Đó chính là cơ sở cho việc đo chất lượng.
1.2.3.2. Chất lượng đội ngũ CBQL trường THCS
Theo định nghĩa nêu trên thì chất lượng CBQL trường THCS thể hiện
trên hai phương diện đức và tài, là sự kết hợp những đặc điểm nhân cách của
người lao động Việt Nam và những yêu cầu của người CBQL THCS trong
giai đọan hiện nay.
Như vậy, chất lượng CBQL trường THCS là tập hợp các yếu tố: bản
lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ
9
chuyên môn đảm bảo cho người CBQL đáp ứng tốt chức năng, nhiệm vụ giao
cho họ trong quản lý nhà trường.
Người CBQL trường THCS trong thời đại mới cần có những phẩm chất
và năng lực sau:
* Về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức.
- Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định
mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Có lập trường tư tưởng, chính trị vững vàng, đáp ứng được yêu cầu
của đất nước trong giai đoạn mới.
- Nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước,
quản lý trường THCS
1.2.4.1. Giải pháp
Theo Từ điển tiếng Việt: “Giải pháp được xem là phương pháp giải
quyết một công việc, một vấn đề cụ thể” [44; tr.387].
Còn theo Nguyễn Văn Đạm: “Giải pháp là toàn bộ những ý nghĩa có hệ
thống cùng với những quyết định và hành động theo sau, dẫn tới sự khắc phục
một khó khăn” [18; tr 325].
Để hiểu rõ hơn khái niệm giải pháp, chúng ta cần phân biệt với một số
khái niệm tương tự như: phương pháp, biện pháp. Điểm giống nhau của các
khái niệm này đều nói về cách làm, cách tiến hành, cách giải quyết một công
việc, một vấn đề. Còn điểm khác nhau ở chỗ, biện pháp chủ yếu nhấn mạnh
đến cách làm, cách hành động cụ thể, trong khi đó phương pháp nhấn mạnh
đến trình tự các bước có quan hệ với nhau để tiến hành một công việc có mục
đích. Theo Nguyễn Văn Đạm: “Phương pháp được hiểu là trình tự cần theo
11
trong các bước có quan hệ với nhau khi tiến hành một công việc có mục đích
nhất định” [18; tr 325].
Như vậy, khái niệm giải pháp nhấn mạnh đến phương pháp giải quyết
một vấn đề mang tầm vĩ mô, với sự khắc phục khó khăn cơ bản nào đó. Trong
một giải pháp có thể có nhiều biện pháp.
1.2.4.2. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường THCS
Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường THCS là hệ
thống các cách thức nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý.
Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý
trường THCS, thực chất là đưa ra các cách thức nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ quản lý trường THCS.
1.3. NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN ĐỐI VỚI NGƯỜI CBQL TRƯỜNG THCS
1.3.1. Vị trí, vai trò của cán bộ quản lý trường THCS
Luật Giáo dục (2005) đã quy định:
+ Giáo dục phổ thông bao gồm: Giáo dục tiểu học, THCS, THPT. Điều
nay việc phổ cập giáo dục THCS là nhu cầu tất yếu khách quan của nước ta
trong giai đoạn CNH, HĐH đất nước. Yêu cầu phải phát triển, nâng cao chất
lượng đội ngũ nhà giáo và đội ngũ cán bộ QLGD một cách toàn diện, đổi mới
mạnh mẽ các hoạt động để đáp ứng nhiệm vụ mới. Đội ngũ CBQL phải nhận
thức đầy đủ về điều đó, họ phải có đủ tri thức, năng lực chuyên môn, năng lực
lãnh đạo, tầm nhìn chiến lược, phẩm chất đạo đức để thể hiện vai trò của mình
1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của người CBQL trường THCS
- Chức năng và nhiệm vụ của cán bộ quản lý là Hiệu Trưởng
+ Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường
+ Thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhà trường được quy định tại
khoản 2 Điều 20 của Điều lệ này;
+ Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;
+ Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công
tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen
13
thưởng, kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước;
quản lý hồ sơ tuyển dụng giáo viên, nhân viên;
+ Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ
chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ, ký
xác nhận hoàn thành chương trình THCS, vào học bạ học sinh THCS (nếu có)
của trường phổ thông có nhiều cấp học và quyết định khen thưởng, kỷ luật
học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
+ Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường;
+ Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên,
nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của
nhà trường; thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục của nhà trường;
+ Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và
hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật;
+ Chịu trách nhiệm trước cấp trên về toàn bộ các nhiệm vụ được quy
định trong khoản 1 Điều này;
môn đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.
Có năng lực quản lý tài chính, tài sản, nắm vững các quy định về tài
chính, các quy định về thu, chi trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo như: các
chế độ, chính sách đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh; quản lý
cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học. Năng lực kiểm tra, đánh giá việc
thực hiện kế hoạch, hoạt động giảng dạy của giáo viên và học sinh. Tổng kết,
rút kinh nghiệm phát huy những mặt đạt được, khắc phục, sửa chữa những
hạn chế yếu kém.
Có khả năng cập nhật thông tin và sử lý thông tin; khả năng phân tích
tổng hợp, so sánh, lựa chọn, biến khối lượng thông tin đa dạng và phong phú
thành lượng thông tin cần thiết, có giá trị; Khả năng ứng dụng thông tin vào
trong quản lý giáo dục; khả năng cập nhật tri thức mới, thích ứng với đà phát
triển khoa học công nghệ như vũ bão trên thế giới; khả năng tự học tập, tự rèn
luyện, học tập, nghiên cứu, tự hoàn thiện nhân cách. Khả năng quy tụ, vận
15
động các tổ chức, các lực lượng xã hội tham gia vào xây dựng và phát triển
giáo dục. Khả năng quyết đoán, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có khả năng
chớp thời cơ, đưa ra những quyết sách đúng đắn, hợp lý, kịp thời để giải quyết
những vấn đề cấp thiết, quan trọng nhằm phục vụ lợi ích chung của tập thể
nhà trường.
Năng động, sáng tạo, có kiến thức, luôn nắm bắt những biến đổi về tình
hình chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội trong nước và quốc tế.
*Về phẩm chất
Có lập trường tư tưởng vững vàng kiên định, chấp hành tốt đường lối
của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Chấp hành tốt kỷ luật Đảng, kỷ
luật lao động, sống và làm việc theo pháp luật. Vận động, thuyết phục gia
đình, cán bộ, giáo viên và quần chúng chấp hành tốt chính sách của Đảng,
pháp luật của nhà nước; tích cực tiếp thu những cái mới, cái tiến bộ, kiên
quyết đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực, sai trái, bảo vệ lẽ phải.
Có trách nhiệm cao đối với tập thể, tận tuỵ trong công việc; say mê công
trường học là một bộ phận lao động tinh hoa của Nhà trường, lao động của họ trực
tiếp và gián tiếp thúc đẩy phát triển sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng của Nhà trường.
Khi nói về tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ quản lý trong bối cảnh
giáo dục bước sang thế kỷ XXI, Tiến sĩ Raja Roy Singh, nhà giáo dục nổi
tiếng Ấn Độ, chuyên gia giáo dục nhiều năm của tổ chức giáo dục UNESCO
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã phát biểu: Đội ngũ giáo viên và cán
bộ quản lý giữ vai trò quyết định trong quá trình giáo dục và đặc biệt trong
việc hướng lại giáo dục: Trong quá trình dạy học giáo viên không chỉ là người
truyền thụ những phần tri thức rời rạc, giáo viên cũng đồng thời là người
hướng dẫn, người cố vấn, người mẫu mực của người học. Giáo viên do đó
không phải là người chuyên về một ngành hẹp mà là người cán bộ tri thức,
người học suốt đời. Trong công cuộc hoàn thiện quá trình dạy học, người dạy,
17
người học là những người bạn cùng làm việc, cùng nhau tìm hiểu và khám
phá.
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm
đến đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Ban Bí thư Trung ương
Đảng đã ra Chỉ thị số 40, về xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý:
“Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn
hoá, nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc
biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống lương
tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày
càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước”. Trong các nhiệm vụ, cần lưu ý đến việc: “Tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng để tiếp tục xây dựng và nâng cao chất lượng đội
ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng
cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò trách nhiệm của nhà giáo và nhiệm
vụ xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục có chất lượng cao, giỏi
về chuyên môn, nghiệp vụ, trong sáng về đạo đức, tận tuỵ với nghề nghiệp,
làm trụ cột thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
đội ngũ cán bộ quản lý phải tạo ra sự gắn bó kết hợp mật thiết giữa công tác
quy hoạch, kế hoạch tuyển chọn, sử dụng, đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng
và tạo môi trường thuận lợi cho đội ngũ phát triển.
- Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý là bao gồm sự phát triển toàn diện của
người cán bộ quản lý - với tư cách là con người, là thành viên trong cộng đồng
nhà trường, là nhà chuyên môn, nhà khoa học trong hoạt động sư phạm về giáo
dục.
19
- Xây dựng phát triển đội ngũ là phải làm tốt công tác quy hoạch, xây
dựng được kế hoach tiếp nhận, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, đào tạo lại, bồi
dưỡng nâng cao trình độ thường xuyên liên tục.
- Kết quả của công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
không những chỉ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp cho các
nhà giáo mà còn cần phải quan tâm đến những nhu cầu thăng tiến, những
quyền lợi thiết thực để thực sự làm cho người cán bộ quản lý gắn bó trung
thành và tận tụy với sự nghiệp giáo dục của nhà trường.
1.4.3. Nội dung của công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
quản lý trường THCS
a) Quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý.
Công tác quy hoạch đội ngũ là một trong những hoạt động quản lý của
người quản lý. Nó có tác dụng làm cho cơ quan quản lý hoặc người quản lý
biết được về số lượng, chất lượng, cơ cấu tuổi, trình độ và cơ cấu chuyên
môn, cơ cấu giới, của từng CBQL và cả đội ngũ CBQL; đồng thời xây dựng
được kế hoạch phát triển đội ngũ; nhằm tìm ra các biện pháp nâng cao chất
lượng cho từng CBQL và cả đội ngũ để họ có được khả năng hoàn thành
nhiệm vụ. Hơn nữa, kết quả quy hoạch là cơ sở chủ yếu mang tính định
hướng cho việc vận dụng và thực hiện các chức năng cơ bản của quản lý vào
hoạt động quản lý bộ máy tổ chức và đội ngũ nhân sự giáo dục trong huyện
nói chung và trong các trường THCS nói riêng. Như vậy, nói đến quản lý đội
ngũ CBQL là nói đến công tác quy hoạch phát triển đội ngũ và nói đến quy
giải pháp quản lý khả thi.
d) Tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, sử dụng và luân chuyển đội
ngũ CBQL.
Tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, sử dụng và luân chuyển đội ngũ
cán bộ, công chức nói chung và CBQL nói riêng là công việc thuộc lĩnh vực
công tác tổ chức và cán bộ.
21
- Tuyển chọn, bổ nhiệm chính xác các CBQL có đủ phẩm chất và năng
lực cho một tổ chức là yếu tố quan trọng để phát triển tổ chức nói chung và
thực chất là tạo điều kiện tiên quyết cho tổ chức đó đạt đến mục tiêu của nó.
Mặt khác, những tiêu chuẩn cho việc tuyển chọn, bổ nhiệm CBQL lại là
những yêu cầu tất yếu cho việc thực hiện kế hoạch nâng cao chất lượng đội
ngũ CBQL.
- Miễn nhiệm CBQL thực chất là làm cho đội ngũ CBQL luôn đảm bảo
các yêu cầu về chuẩn, không để cho đội ngũ CBQL có những thành viên
không đủ yêu cầu. Đây là một hình thức nâng cao chất lượng đội ngũ.
- Luân chuyển CBQL có tác dụng làm cho chất lượng đội ngũ được
đồng đều trong các tổ chức; mặt khác tạo điều kiện thoả mãn các nhu cầu của
CBQL. Hai mặt trên gián tiếp làm cho chất lượng CBQL được nâng cao.
Qua phân tích trên cho thấy, các hoạt động tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn
nhiệm và luân chuyển cán bộ nói chung là các hoạt động trong lĩnh vực quản
lý cán bộ. Như vậy không thể thiếu được những giải pháp quản lý khả thi.
e) Chế độ, chính sách đối với đội ngũ CBQL.
Kết quả một hoạt động của con người nói chung và chất lượng một hoạt
động của con người nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố mang tính động lực
thúc đẩy hoạt động của con người. Chế độ, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ
CBQL còn chứa đựng trong đó những vấn đề mang tính đầu tư cho nhân lực theo
dạng tương tự như “tái sản xuất” trong quản lý kinh tế. Chính từ vấn đề có chính
sách đãi ngộ thoả đáng đối với đội ngũ mà chất lượng đội ngũ được nâng lên.
Nhìn chung, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ nói chung và đối với CBQL nói
Các phương pháp hành chính là các phương pháp tác động dựa vào
những mối quan hệ tổ chức, kỷ luật của tổ chức.
23
Mối quan hệ tổ chức trong hệ thống quản lý là một đặc trưng của tất cả
các hệ thống quản lý. Về phương diện quản lý, quan hệ tổ chức được biểu
hiện thành mối quan hệ giữa quyền uy và phục tùng. Vì thế các phương pháp
hành chính là cách thức tác động trực tiếp của chủ thể quản lý lên tập thể
những con người bằng các quyết định dứt khoát, mang tính bắt buộc, đòi hỏi
mọi người trong hệ thống phải chấp nhận nghiêm ngặt, nếu vi phạm sẽ bị xử
lý kịp thời, thích đáng.
Các phương pháp hành chính có vai trò quan trọng trong quản lý nhân
sự, xây dựng đội ngũ của tổ chức. Phương pháp này xác lập trật tự kỷ cương
làm việc và hoạt động trong tổ chức, kết nối các phương pháp quản lý khác
nhằm phát huy đồng bộ sức mạnh của chúng.
Các phương pháp hành chính cho hiệu lực tức thì ngay từ khi ban hành
quyết định. Hơn nữa, các phương pháp hành chính buộc đối tượng bị tác động
phải thực hiện một cách bắt buộc, không có sự lựa chọn. Điều này khiến cho
phương pháp có ưu thế trong việc giải quyết những tình huống nảy sinh trong
tổ chức một cách có hiệu quả. Tuy nhiên, sử dụng phương pháp này đòi hỏi
chủ thể quản lý phải có quyết định dứt khoát, rõ ràng, dễ hiểu, có địa chỉ thực
hiện và loại trừ khả năng có thể giải thích khác nhau đối với cùng một nhiệm
vụ.
c) Các phương pháp kinh tế
Các phương pháp kinh tế là các phương pháp tác động gián tiếp đến đối
tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế, để cho đối tượng quản lý tự lựa chọn
phương án hoạt động hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động của họ.
Bản chất của các phương pháp này là đặt mỗi cá nhân vào những điều
kiện kinh tế để họ có khả năng kết hợp đúng đắn lợi ích của bản thân với lợi
ích chung của tổ chức. Điều đó cho phép cá nhân lựa chọn con đường hiệu
quả để thực hiện nhiệm vụ của mình. Các phương pháp kinh tế tác động lên
phong tục tập quán, truyền thống văn hóa, trình độ dân trí đều ảnh hưởng trực
tiếp đến sự phát triển của giáo dục đào tạo, trong đó có giáo dục THCS.
25