ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ
ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA XÂY
DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT
CẤP XÃ, PHƯỜNG TRONG NHỮNG
NĂM 1986-2001
CHUYÊN NGÀNH
: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
MÃ SỐ
: 5 03 16
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
: PGS. TS. NGÔ ĐĂNG TRI
NGƯỜI THỰC HIỆN
: VŨ THỊ HOÀNG OANH
HÀ NỘI - 2005
HÀ NỘI, 2006
Mục lục
A3.1. Nhận xét chung.
3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu.
KẾT LUẬN.
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
PHỤ LỤC.
6
6
20
41
41
65
79
79
88
95
98
102
1
MỞ ĐẦU
1- Lý do chọn đề tài:
thống chính trị; đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp cơ sở. Song chưa có tác giả nào nghiên cứu đến quá trình xây dựng
đội ngũ cán bộ cấp xã phường ở Thanh Hoá từ năm 1986 đến năm 2001 dưới
góc độ lịch sử Đảng. Trong quá trình thực hiện luận văn này, tác giả kế thừa
một cách có chọn lọc những nội dung cơ bản đã nêu trên, đồng thời tập hợp
các tư liệu ở Thanh Hóa để nêu lên kết luận, nhận xét, rút ra các kinh nghiệm
từ kết quả nghiên cứu cụ thể các vấn đề ấy trên địa bàn Thanh Hoá.
3 - Mục đích và nhiệm vụ của luận văn.
Mục đích của luận văn là nghiên cứu một lĩnh vực hoạt động quan
trọng của Đảng bộ tỉnh Thanh hoá: hoạt động lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp cơ sở trong những năm 1986 - 2001, để góp phần vào việc
nghiên cứu lịch sử Đảng bộ Thanh Hóa thời kỳ này; đồng thời qua đó rút ra một
số kinh nghiệm phục vụ yêu cầu thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt xã
phường ở Thanh Hóa hiện nay.
Nhiệm vụ của luận văn là trình bày một cách có hệ thống quá trình
Đảng bộ Thanh Hoá lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ
1986 đến 2001; nêu lên vai trò của cán bộ chủ chốt xã phường trong hoạt
động thực tiễn và các thành tựu, hạn chế của Đảng bộ Thanh Hóa lãnh đạo
xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã phường trong những năm 19862001. Từ đó rút ra một số kinh nghiệm về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
4
chốt cấp xã phường ở Thanh Hoá để góp phần phục vụ nhiệm vụ này ở Thanh
Hóa hiện tại.
4 - Đối tượng và giới hạn nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quan điểm, chủ trương
lãnh đạo xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã phường của Đảng bộ tỉnh Thanh
Hóa (gồm một số chức danh chủ yếu như: bí thư đảng uỷ, phó bí thư trực
đảng, chủ tịch uỷ ban nhân dân, chủ tịch mặt trận tổ quốc, bí thư Đoàn thanh
ngũ cán bộ cấp xã phường ở Thanh Hóa hiện nay.
7- Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo.
luận văn chia thành 3 chương 6 tiết.
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã, phường trong 5 năm đầu của thời kỳ đổi mới (1986 - 1990).
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã, phường trong những năm đẩy mạnh công cuộc đổi mới thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1991 - 2001).
Chương 3: Nhận xét chung và những kinh nghiệm chủ yếu.
6
Chương 1
ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HOÁ LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ, PHƯỜNG TRONG 5 NĂM ĐẦU CỦA THỜI
KỲ ĐỔI MỚI (1986 -1990)
1. 1. Nhận thức chung về vai trò cán bộ chủ chốt cấp cơ sở và thực
trạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, phường của
Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa trước đổi mới (1975-1986).
1.1.1. Quan điểm, nhận thức chung của Đảng ta về vai trò cán bộ
chủ chốt và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở.
Đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ luôn có một vị trí và tầm quan trọng
đặc biệt trong sự nghiệp cách mạng của quần chúng nhân dân. Nhìn vào lịch
sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, ở bất cứ thời kì nào chúng ta
cũng thấy các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê Nin đều đề cao vai trò
cán bộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
C.Mác, và Ph.Ăngghen là những người đặt nền móng cho vấn đề cán
bộ của giai cấp vô sản. Hai ông không chỉ là những người sáng lập ra chủ
Ph.Ăngghen trở thành hiện thực.
Cuộc đời hoạt động sôi nổi không mệt mỏi của V.I.Lênin là minh
chứng hùng hồn cho vai trò của cán bộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
V.I.Lênin đã chỉ ra một cách sâu sắc và khoa học tầm quan trọng của vấn đề
cán bộ trong việc thực hiện các mục tiêu có tính cương lĩnh của Đảng. Trong
mọi thời kỳ cách mạng, vai trò này bắt nguồn từ sứ mệnh lịch sử khách quan
của đảng cộng sản - lãnh tụ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
trong cuộc đấu tranh xoá bỏ chế độ xã hội cũ, xây dựng chế độ xã hội mới, xã
hội chủ nghĩa.
8
Ngay từ khi thành lập Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân V.I.Lênin
đã đặc biệt chú ý đến vấn đề cán bộ. Người khẳng định: “Trong lịch sử chưa
hề có giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu nó không đào tạo ra được
trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong
có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào" [19.473];
Lênin còn nhấn mạnh rằng trong đội ngũ cán bộ nói chung thì đội ngũ
cán bộ chủ chốt giữ vị trí hết sức quan trọng, vì họ là hạt nhân, là những
người lãnh đạo chủ yếu, những người được giao trách nhiệm quan trọng nhất
trong mỗi tổ chức của Đảng và Nhà nước. Và từ việc phân tích sâu sắc những
bài học lịch sử, Lênin chỉ ra rằng: vấn đề cán bộ, lựa chọn người bố trí vào
cương vị lãnh đạo là nhiệm vụ quan trọng nhất của Đảng. Lênin gọi đó là “cái
chốt” của tình hình.
Như vậy, qua tư tưởng của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin
chúng ta có thể thấy rõ tầm quan trọng và yêu cầu khách quan của nhiệm vụ
đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ. Nhiệm vụ đó được bắt nguồn từ sứ
mệnh lịch sử khách quan của giai cấp vô sản, và nó phải luôn luôn không
ngừng được đổi mới nhằm xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ phù hợp
viên phải chịu khó học tập chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật để nâng cao
năng lực kinh tế phát triển, chiến đấu thắng lợi, đời sống nhân dân ngày càng
ấm no, vui tươi. Người khẳng định vấn đề có ý nghĩa quyết định là cán bộ,
cho nên phải “đào tạo thật nhiều cán bộ. Chỉ có như thế chúng ta mới xây
dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội”[26.313].
Và trong bản Di chúc lịch sử, Người còn căn dặn chúng ta trước lúc đi
xa: “Đảng là Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên, cán bộ phải thật sự thấm
nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư;
phải giữ gìn Đảng thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là
người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.
10
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về cán bộ có ý nghĩa cách mạng sâu sắc,
Người cho rằng: người cán bộ, đảng viên phải vừa “hồng” vừa “chuyên”; phải
không ngừng học tập trau dồi lý tưởng cách mạng, chuyên môn, nghiệp vụ, tri
thức mới, phong cách làm việc khoa học. Để luôn xứng đáng với vai trò lãnh
đạo của Đảng. Đồng thời chỉ ra yêu cầu hàng đầu là phẩm chất của “người
lãnh đạo chính trị” vừa nói lên phẩm chất chỉ có ở người lãnh đạo của giai
cấp vô sản là tính quần chúng. Chính điều đó làm cho người cán bộ không
đứng trên quần chúng mà phục vụ quần chúng, là “đầy tớ của nhân dân” chứ
không phải là “quan cách mạng”.
Thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chí Minh, Đảng ta từ Trung ương đến cơ
sở đã luôn chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực để hoàn
thành nhiệm vụ. Trong quá trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng
đã đặc bịêt quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ và ngày càng nhận
thức rõ rằng: năng lực lãnh đạo và chiến đấu của Đảng phụ thuộc một cách quyết
định vào chất lượng của đội ngũ cán bộ. Phải coi công tác cán bộ là vấn đề có tầm
quan trọng chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của mình. Về cơ bản
chất lượng hiệu quả còn thấp, có những mặt còn yếu kém như kinh tế rừng,
kinh tế biển, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xuất khẩu. Công tác quốc
phòng an ninh chưa được xây dựng thực sự vững mạnh từ cơ sở”. Nguyên
nhân là do: “cán bộ chủ chốt và các cơ quan lãnh đạo, quản lý kinh tế còn nặng
chủ quan, giản đơn và bảo thủ. Việc tổ chức chỉ đạo thực hiện còn quan liêu, hành
chính bao cấp nặng, chưa bám sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết.
Tổ chức bộ máy và cán bộ còn nhiều chỗ chưa phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ”
[14].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986) đánh dấu
một bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, cũng
chỉ ra nguyên nhân của những sai lầm, khuyết điểm trong thời gian qua:
12
“Những sai lầm và khuyết điểm trong lãnh đạo kinh tế, xã hội bắt nguồn từ
những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của
Đảng”, do “sự lạc hậu về nhận thức lý luận và sự vận dụng các quy luật đang
hoạt động trong thời kì quá độ” [9.27].
Cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh nhấn mạnh: “Chúng ta nhận thức
sâu sắc rằng nếu không kiên quyết đổi mới về tổ chức bộ máy và cán bộ thì
không một chủ trương, chính sách nào thực hiện được tốt. Nhiệm vụ đổi mới
tổ chức bộ máy và cán bộ vẫn tiếp tục là một trong những nhiệm vụ hàng đầu
của chúng ta hiện nay và sắp tới” [18.132], và Đại hội VI xác định: “Đổi mới
đội ngũ cán bộ có nghĩa là đánh giá, lựa chọn, bố trí lại đi đôi với đào tạo,
bồi dưỡng để có được một đội ngũ cán bộ có đủ tiêu chuẩn về phẩm
chất và năng lực lãnh đạo, quản lý ngang tầm nhiệm vụ” [9.132].
Từ nội dung được trình bầy ở trên, chúng ta có thể thấy rõ từ trước đến
nay cả về lý luận và thực tiễn, đổi mới công tác cán bộ luôn là một đòi hỏi
khách quan. Điều đó xuất phát từ vị trí và vai trò của cán bộ cũng như công
đến đâu, đồng bào Thanh Hoá cũng có một phần vinh dự đến đó” [ 25.400].
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước(1954 - 1975), Thanh
Hoá còn là hậu phương lớn cung cấp sức người, sức của cho chiến trường
Miền Nam. Đặc biệt là qua hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ,
mặc dù bị tàn phá rất nặng nề nhưng nhân dân Thanh Hoá đã có những đóng
góp to lớn rất đáng tự hào cho cuộc kháng chiến anh dũng của cả dân tộc.
Những con người ưu tú của Quê hương Thanh Hoá đã lần lượt lên đường đi
chiến đấu và nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường. Tính từ tháng
8 năm 1945 đến tháng 10 năm 1995, Thanh Hoá có 391.657 người đi bộ đội,
41.863 người đi thanh niên xung phong. Toàn tỉnh có 6.559 liệt sĩ, 32.146
thương binh, 25 đơn vị và 71 cá nhân được tuyên dương anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân, có 1.125 bà mẹ Việt Nam anh hùng, 2 đơn vị và 16 cá
14
nhân được tuyên dương Anh hùng lao động. Đó là những con số biết nói, nói
lên truyền thống đánh giặc, bảo vệ và xây dựng của quê hương Thanh Hoá.
Bên cạnh đó thời kỳ trước đổi mới Thanh Hoá còn một số vấn đề phải
quan tâm hơn như: Tỷ lệ dân số ở mới là quá cao (2,3%). Số người đến tuổi
lao động mỗi năm tăng thêm 31.000 người nhưng chưa đủ việc làm. Phân bố
lao động lên trung du, miền núi chậm. Trên dưới 15% số hộ nông dân còn
thiếu ăn. Đời sống của những người ăn lương, hưởng trợ cấp xã hội, lực lượng
vũ trang, một số gia đình liệt sỹ, thương binh còn nhiều khó khăn do giá cả
tăng vọt, tiền lương thực tế giảm sút nhanh. Một bộ phận cán bộ công nhân
viên, thanh niên bị cuốn hút vào chủ nghĩa thực dụng tầm thường, sa sút về
phẩm chất và nếp sống.
Công tác tổ chức, chăm lo đời sống nhân dân về vật chất và tinh thần
chưa được giải quyết tốt từ cơ sở.
Sự nghiệp giáo dục, văn hoá thông tin, phát thanh, y tế tiến bộ chậm,
máy và cán bộ còn nhiều chỗ chưa phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ
[14.28,29].
Có thể nói những nguyên nhân của tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội ở
Thanh Hoá vào đầu những năm 80 như Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh
Hoá lần thứ XII đã nêu lên đều là những nguyên nhân chủ quan. Nó phản ánh
trình độ và năng lực đội ngũ cán bộ, trong đó đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ
sở, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới - thời kỳ cả nước đi
lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; chưa phát huy được truyền thống, chưa khơi
dậy được tiềm năng, và ngay cả những “khả năng hiện thực” - như trong Văn
kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lần thứ XII đã viết - cũng còn chưa phát
huy được. Để làm rõ hơn điều này chúng ta hãy xem xét một số đặc điểm
chung nhất về thực trạng của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã phường ở Thanh
Hoá trước đổi mới.
16
Những ưu điểm chính: Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở xã, phường ở
Thanh Hoá có số đông được rèn luyện, thử thách trong chiến đấu và phục vụ
chiến đấu, trong sản xuất và công tác trong những năm chiến tranh khó khăn
nên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với lý tưởng của Đảng, sẵn
sàng hi sinh bảo vệ Đảng, bảo vệ lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc, bảo vệ chế
độ xã hội chủ nghĩa.
Đây là đặc điểm chung nhất và là thế mạnh lớn nhất của đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp xã, phường ở Thanh Hoá trước đổi mới. Đặc điểm này vẫn được
duy trì đến tận ngày nay. Theo kết quả điều tra năm 1995 ở 172 xã, phường
thuộc 17 huyện và thành phố Thanh Hoá thì hiện đang còn 60% cán bộ chủ
chốt xã, phường nguyên là bộ đội hoặc thanh niên xung phong trở về, chỉ có
20,4% trưởng thành từ cơ sở và 19,6% là từ những nguồn khác [ phụ lục 1].
Cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Thanh Hoá có tinh thần khắc phục khó
đây và trường chính trị tỉnh Thanh Hoá ngày nay không có năm nào vắng
bóng học viên. Năm nào số người đăng ký theo học cũng vượt quá chỉ tiêu
chiêu sinh. Riêng năm 1985 ngoài 3 lớp trung cấp lý luận học tập trung ở
trường Đảng Hoàng Văn Thụ với 260 học viên và 7 lớp tại chức mở tại các
huyện với hơn 700 học viên, còn có 1969 cán bộ chủ chốt xã, phường đương
chức được tổ chức cho học tập, bồi dưỡng về lý luận và nghiệp vụ [44]. Ngoài
ra, đội ngũ cấn bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Thanh Hoá nhìn chung còn có đức
tính cần cù, giản dị, gần gũi quần chúng, được quần chúng yêu mến.
Trên đây là những ưu điểm và thế mạnh rất cơ bản của đội ngũ cán bộ
chủ chốt xã, phường ở Thanh Hoá. Những ưu điểm và thế mạnh đó là một
trong những nhân tố quan trọng góp phần ổn định tình hình chính trị - xã hội
ở Thanh Hoá trong những năm khủng hoảng kinh tế - xã hội, đưa Thanh Hoá
vượt qua khó khăn, đạt được những thành tích trên nhiều lĩnh vực, nhất là trên
mặt trận sản xuất lương thực.
18
Bên cạnh những ưu điểm và thế mạnh nói trên, đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp cơ sở ở Thanh Hoá cũng có một số mặt yếu và hạn chế sau:
Đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường ở Thanh Hoá còn mang nặng tư
tưởng sản xuất nhỏ của người tiểu nông, nhiều đồng chí chưa có tầm suy nghĩ
chiến lược, làm ăn lớn. Có một số cán bộ chịu ảnh hưởng khá nặng tư tưởng
phong kiến, gia trưởng, cục bộ địa phương, tư tưởng dòng họ trong công tác
cán bộ, trong việc bàn bạc quyết định xây dựng các công trình phục vụ sản
xuất và đời sống ở cơ sở. Những tư tưởng lạc hậu nêu trên là lực cản đáng kể,
cản trở tính sáng tạo của cán bộ, đảng viên và quần chúng, ảnh hưởng không
tốt đến việc thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội ở địa phương.
Trình độ của đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường ở Thanh Hoá trước
đổi mới còn quá thấp so với yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế thời kỳ sau
Thanh Hoá có những mặt yếu và hạn chế nói trên, song có thể nêu lên mấy
nguyên nhân chủ yếu sau:
Do nước ta phải tiến hành hai cuộc kháng chiến liên tiếp và lâu dài, ác
liệt cho nên nhiều đồng chí cán bộ chủ chốt xã, phường trong thời niên thiếu
đã phải bỏ dở việc học hành, lên đường đi chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu.
Đến khi trở về phải bước vào xây dựng và tổ chức cuộc sống gia đình mà
không có điều kiện đến trường học tiếp hoặc học lên những bậc học cao hơn,
vì vậy trình độ mọi mặt thấp. Hơn nữa lại quen sống trong cơ chế bao cấp kéo
dài, tâm lý ỷ lại, trong chờ cấp trên đã được định hình nên chậm thích nghi, rất
lúng túng trong cơ chế thị trường, trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.
Do nước ta bước vào cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa
xã hội từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, trải qua chiến tranh kéo dài,
đời sống nhân dân quá khó khăn, chưa có môi trường kinh tế thị trường và
khoa học kỹ thuật phát triển để đào luyện người cán bộ trong thực tế. Ảnh
hưởng của tư tưởng phong kiến, của tâm lý tiểu nông còn rất lớn. Vì vậy đội
20
ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở còn thiếu những hiểu biết cần thiết về khoa học
kỹ thuật, về quản lý xã hội theo pháp luật.
Công tác tổ chức cán bộ chủ chốt xã, phường còn nhiều thiếu sót:
Chưa tiêu chuẩn hoá được cán bộ, chưa xây dựng quy hoạch cán bộ một cách
khoa học. Việc bố trí cán bộ ở nhiều xã, phường còn mang nặng tính chủ
quan, chắp vá, thiếu ổn định. Vì vậy nhiều đồng chí cán bộ chủ cốt ở cơ sở
thiếu yên tâm công tác, vừa làm việc vừa chuẩn bị tư thế nghỉ, hạn chế đến
tinh thần vươn lên trong học tập và nhiệt tình công tác.
Trong một thời gian dài chúng ta thực hiện chế độ trả lương và phụ
cấp cho đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường còn mang nặng màu sắc duy
tâm, chưa tương xứng với công sức mà các đồng chí cán bộ đã bỏ ra trong quá
Hà Trọng Hòa làm bí thư, đồng chí Quách Lê Thanh làm phó bí thư trực
Đảng, đồng chí Hà Văn Ban làm phó bí thư phụ trách chính quyền.
Với thái độ và phương pháp đánh giá tình hình của Đảng ta là nhìn
thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh
Hoá lần thứ XII (10-1986) sau khi khẳng định những thành tựu đạt được trong
những năm 1981-1985, đã mạnh dạn nêu lên thực trạng yếu kém về kinh tế,
văn hoá, xã hội của tỉnh Thanh Hoá lúc bấy giờ; cũng như chỉ ra những
nguyên nhân của nó. Đặc biệt, Đại hội chỉ ra những sai lầm khuyết điểm của
công tác cán bộ là: “chưa có chủ trương kế hoạch cụ thể để tăng cường, đề
bạt cán bộ nữ và cán bộ xuất thân từ công nhân vào các cơ quan lãnh đạo và
quản lý. Quan điểm xem xét đánh giá cán bộ còn bảo thủ và thiếu nhất quán.
22
Công tác quy hoạch cán bộ gắn liền với kế hoạch huấn luyện đào tạo, bồi
dưỡng còn sơ sài, chưa ăn khớp, nhất là công tác quản lý cán bộ còn lỏng
lẻo, chất lượng thấp” [14.72].
Từ đó, Đại hội khẳng định: “Đổi mới công tác cán bộ là yêu cầu tất yếu
khách quan và có tính chất quyết định, đảm bảo thực hiện thắng lợi đường lối
cách mạng, nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh và công
tác xây dựng Đảng trong giai đoạn mới”[14.77]. Về nội dung đổi mới công tác
cán bộ trong thời kỳ mới, Đại hội chỉ rõ: Trước hết phải đổi mới về quan điểm
đánh giá, nhận xét, phát hiện, lựa chọn, đề bạt cán bộ sao cho phù hợp với cơ
cấu kinh tế - xã hội, phù hợp với yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý. Khắc phục tư
tưởng phong kiến, bảo thủ, cục bộ địa phương, cảm tình, định kiến cá nhân,
thiên lệch trong công tác cán bộ. Phải: "Từ lợi ích chung của cách mạng, từ
chính sách cán bộ thống nhất cuả Đảng mà xem xét, lựa chọn, đối sử với cán
bộ công minh, vô tư, lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị làm thước đo
phẩm chất và năng lực, lấy nhu cầu nhiệm vụ chính trị làm căn cứ để bố trí cán