HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
Lí TH THU
ĐảNG Bộ TỉNH TUYÊN QUANG
LãNH ĐạO XÂY DựNG Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số
từ năm 1991 đến năm 2010
TểM TT LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: LCH S NG CNG SN VIT NAM
Mó s: 62 22 03 15
H NI - 2015
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS Nguyễn Ngọc Hà
2. PGS.TS Nguyễn Danh Tiên
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi
Quang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số từ năm
1991 đến năm 2010. Bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm qua thực tiễn
Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số
những năm (1991- 2010).
2.2. Nhiệm vụ
Làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên
Quang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số từ năm
1991 đến năm 2010.
Làm rõ những chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang
lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong 20 năm, từ
năm 1991 đến năm 2010.
2
Đánh giá những ưu điểm, hạn chế, những kết quả đạt được; Đúc kết
một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo
xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2010.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu về hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên
Quang trong xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án nghiên cứu toàn bộ đội ngũ cán bộ dân tộc
thiểu số trong hệ thống chính trị từ cấp tỉnh đến cấp huyện và cơ sở,
trong đó chú trọng nghiên cứu đội ngũ lãnh đạo quản lý các cấp là người
dân tộc thiểu số.
Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ gồm nhiều nội dung. Bám sát các
khâu công việc của công tác cán bộ nói chung, luận án tập trung nghiên cứu
công tác quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng, chế
độ, chính sách cán bộ.
đánh giá các nguồn tài liệu liên quan, bao gồm các văn kiện của Đảng và
Nhà nước ở Trung ương và địa phương; các công trình khoa học trong và
ngoài nước nghiên cứu về vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, xây
dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nói riêng.
+ Phương pháp so sánh: So sánh một số kết quả đạt được trong công
tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang với
các tỉnh miền núi phía Bắc.
+ Phương pháp thống kê, được dùng trong xử lý các kết quả điều tra,
khảo sát.
5. Đóng góp của luận án
5.1. Về tư liệu
Cung cấp thêm nguồn tư liệu, nhất là tư liệu của địa phương về công
tác lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Đảng bộ Tuyên
Quang, về thực trạng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang;
4
5.2. Về nội dung
Góp phần làm sáng tỏ tính đúng đắn, sáng tạo trong đường lối, chủ
trương của Đảng về công tác dân tộc nói chung, công tác xây dựng đội ngũ
cán bộ dân tộc thiểu số nói riêng;
Góp phần tổng kết, đánh giá về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ
người dân tộc thiểu số của Đảng bộ Tuyên Quang, cung cấp thêm cơ sở
thực tiễn giúp Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang hoàn thiện hơn nữa công tác lãnh
đạo của mình trong công tác quan trọng này;
Những kết quả nghiên cứu của luận án, nhất là những kinh nghiệm từ
công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số của Tuyên Quang,
có thể tham khảo vận dụng ở các địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số khác, nhất là ở khu vực miền núi phía Bắc.
6. Kết cấu của luận án
1.1.1.2. Những công trình nghiên cứu về công tác xây dựng đội ngũ
cán bộ dân tộc thiểu số nói chung
Một số công trình, bài viết cơ bản như: Chính sách dân tộc của các triều
đại phong kiến Việt Nam (từ thế kỷ XI - XIX); Xây dựng đội ngũ cán bộ dân
tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa - luận cứ và giải pháp; Phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc
6
thiểu số Việt Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước; Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh
miền núi phía Bắc nước ta hiện nay; Công tác quy hoạch cán bộ thuộc
diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn
hiện nay; Phát huy dân chủ, xây dựng, củng cố chính quyền và đào tạo
cán bộ vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn cách mạng mới; Sự phát
triển giáo dục và đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số; Phát huy vai trò của đội ngũ
tri thức các dân tộc thiểu số nước ta trong sự nghiệp cách mạng nước ta hiện
nay; Nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số - Những phân tích xã hội học;
Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Đảng bộ Bộ đội
biên phòng từ năm 1996 đến năm 2006; Tạo nguồn cán bộ, công chức
xã người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn hiện nay;
Đảng lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng ngũ công chức từ năm 2001
đến năm 2010; Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đội ngũ
cán bộ cấp huyện người dân tộc thiểu số trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở một số tỉnh miền núi phía Bắc; Việc thực hiện
chính sách dân tộc trên lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ dân
tộc thiểu số ở nước ta hiện nay; Một cách mới trong đào tạo bồi dưỡng
cán bộ cơ sở ở Hà Giang; Sóc Trăng quy hoạch đào tạo, sử dụng cán bộ
người dân tộc thiểu số Khmer; Tạo nguồn cán bộ hệ thống chính trị cơ sở
ở các tỉnh Tây Bắc nước ta hiện nay; Về công tác phát triển đảng viên tạo
quân cả nước, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Nhiều bộ phận
dân cư còn sống ở mức nghèo khổ, điển hình là các tộc người thiểu số sinh
sống tại các địa bàn xa xôi, hẻo lánh. Bản thân cuộc sống của dân tộc còn
khó khăn và thiếu thốn sẽ hạn chế đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ
dân tộc thiểu số ngay chính trong tộc người đó.
Đặc điểm này gây những khó khăn, trở ngại trong xây dựng đội ngũ
cán bộ nói chung, cán bộ dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang nói riêng; đồng
thời, đòi hỏi Đảng bộ phải luôn chú trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, quản
lý của đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý kinh tế là
người dân tộc thiểu số của tỉnh.
2.1.1.3. Yếu tố về văn hóa
Với 22 dân tộc sinh sống đan xen, tạo ra sự đa dạng trong nền văn hóa
cũng đặt ra những thách thức cho Tuyên Quang trong quá trình xây dựng
đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số.
2.1.1.4. Yếu tố về xã hội và dân cư
Tuyên Quang là địa bàn quần cư của nhiều dân tộc anh em sinh sống từ
bao đời nay: Kinh, Tày, Nùng, H'Mông, Cao Lan, Sán Dìu, Cờ Lao, Pà
9
Thẻn, La Chí, Pu Péo, Lô Lô, Bố Y, Dao, Hoa, Giấy, Mường… Những dân
tộc có dân số đông là Kinh, Tày sống tập trung ở thành phố Tuyên Quang
và thị xã và huyện Yên Sơn, Hàm Yên. Các dân tộc thiểu số khác sống tập
trung ở các huyện khác còn lại của tỉnh như Na Hang, Chiêm Hóa, Sơn
Dương. Các dân tộc sống xen kẽ với nhau rất đoàn kết và hòa thuận.
Nhưng với đặc điểm sống cách xa nhau về mặt địa lý, là những bất
lợi cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số. Để tuyên truyền,
nâng cao nhận thức cho dân tộc thiểu số tham gia vào hệ thống chính trị
của tỉnh là một điều hết sức khó khăn.
2.1.1.5. Yếu tố quốc tế
Nhìn chung, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đặc biệt là cán bộ lãnh đạo
và chỉ đạo ở cấp tỉnh còn rất ít, nhất là những cán bộ chủ chốt. Phần lớn các
chức vụ phụ trách các ngành ở tỉnh và các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của
Đảng ở cấp tỉnh, huyện vẫn do cán bộ miền xuôi hoặc ở nơi khác đến đảm
nhiệm. Trong đội ngũ chuyên môn, khoa học, kỹ thuật từ các ngành y tế,
giáo dục tương đối nhiều cán bộ dân tộc hơn, còn lại các ngành khác, cán
bộ dân tộc thiểu số tham gia vẫn ít. Trong cán bộ dân tộc, số cán bộ thuộc
các dân tộc ít người như Dao, Nùng, Cao Lan, Sán Dìu... chiếm số quá ít,
chưa tương xứng với số dân của họ. Phần lớn cán bộ dân tộc thiểu số chủ
yếu là người dân tộc Tày.
Nhận thức rõ vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu
số cũng như những hạn chế trong công tác cán bộ dân tộc thiểu số giai đoạn
này, Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã đề ra những chủ trương đúng đắn để
xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, và sử dụng có hiệu quả hơn trong
hệ thống chính trị của tỉnh.
2.1.3. Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về đội ngũ cán
bộ dân tộc thiểu số và vai trò của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số
2.1.3.1. Khái niệm "cán bộ", "dân tộc thiểu số" và "cán bộ dân tộc
thiểu số"
* Khái niệm "cán bộ"
Những người công tác trong một tổ chức xác định của hệ thống chính trị;
có những trách nhiệm và quyền hạn nhất định được tổ chức và nhân dân giao
11
phó; có năng lực và trình độ công tác đáp ứng các yêu cầu của nhiệm vụ được
giao; có phẩm chất đạo đức cách mạng; tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ
quốc và nhân dân, hết lòng tận tụy phục vụ nhân dân; sẵn sàng chiến đấu và hy
sinh vì lợi ích tối cao của Đảng, của dân tộc
* Khái niệm dân tộc thiểu số
chính sách của Đảng và Nhà nước đến với đồng bào các dân tộc, thúc đẩy
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2.1.3.3. Vai trò của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong việc thực
hiện chính sách của Đảng, Nhà nước
Thứ nhất, tiếp thu và vận dụng chính sách dân tộc của Đảng và Nhà
nước trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Thứ hai, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số là nhân tố tổ chức vận động
quần chúng thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước.
Cán bộ dân tộc thiểu số có vai trò rất quan trọng trong chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội nói chung, ở vùng dân tộc, miền núi nói riêng.
Vì vậy, cần quan tâm hơn nữa tới việc xây dựng và phát triển đội ngũ
này, làm cho công tác tổ chức và vận động quần chúng thực hiện chính
sách của Đảng và Nhà nước ở các tỉnh miền núi nước ta ngày càng thu
được kết quả tốt hơn, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
2.2. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG VỀ
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ
2.2.1. Chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc
thiểu số
Được thể hiện trong Nghị quyết số 22/NQ/TW ngày 27/11/1989;
trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng họp từ
ngày 24-27/6/1991; Trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội năm 1991; Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa VII và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VIII (1996).
13
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII thông qua năm 1991, Đảng xác
14
cấp ủy, các sở, ban, ngành hoàn thành một số nhiệm vụ trọng tâm về
công tác tổ chức cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương ba
(khóa VII): Củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy Đảng, chính
quyền từ tỉnh đến cơ sở, củng cố tổ chức thôn bản, tổ dân phố, hợp tác
xã nông - lâm nghiệp gắn với củng cố chi bộ đảng và các tổ chức đoàn
thể nhân dân theo địa bàn dân cư. Thực hiện đổi mới, chỉnh đốn Đảng
ở các cơ quan cấp tỉnh; thành lập Ban cán sự Đảng, Đảng đoàn ở các
cơ quan nhà nước và đoàn thể nhân dân... chỉ đạo chặt chẽ việc xây
dựng và thực hiện quy chế làm việc và quy định trách nhiệm cụ thể của
các cấp ủy, ủy viên cấp ủy.
Trong những năm (1996 - 2000), công tác xây dựng đội ngũ cán bộ
dân tộc thiểu số được Đảng bộ tỉnh quan tâm chỉ đạo xây dựng một cách
có hệ thống hơn trên tất cả các khâu của công tác cán bộ và bước đầu đạt
được một số kết quả trong công tác đào tạo, bồi dưỡng; công tác luân
chuyển, đề bạt, bổ nhiệm bố trí và sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số và
trong chế độ chính sách đối với cán bộ dân tộc thiểu số.
Tiểu kết chương 2
Tuyên Quang một tỉnh miền núi phía Bắc, là nơi quần tụ của nhiều dân
tộc cùng sinh sống, đã tạo nên một vùng với đa sắc thái văn hóa và tập tục.
Bên cạnh đó, Tuyên Quang vẫn là một tỉnh nghèo, còn nhiều khó khăn,
kinh tế chậm phát triển. Đặc điểm này đã gây khó khăn, trở ngại trong xây
dựng đội ngũ cán bộ nói chung, trong xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc
thiểu số nói riêng.
Mặc dù vậy, kết quả công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số
của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang những năm 1991 - 2000 đã tạo tiền đề để
Đảng bộ tỉnh chỉ đạo thực hiện xây dựng đội ngũ cán bộ thiểu số trong giai
đoạn tiếp theo.
16
3.2. CHỦ TRƯƠNG ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN
QUANG TRONG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN
TỘC THIỂU SỐ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
Chủ trương đổi mới của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong lãnh đạo xây
dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội
đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XIII từ ngày 14-17/12/2001 và
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2005 - 2010.
Về quan điểm chỉ đạo:
Một là: Kết hợp chặt chẽ giữa quản lý, đào tạo, bồi dưỡng sử dụng số
cán bộ hiện có với thực hiện đồng bộ, toàn diện các giải pháp để đào tạo,
bồi dưỡng, xây dựng mới đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số về số lượng và
nâng cao chất lượng, cơ cấu thành phần của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số.
Hai là: Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đủ về số lượng, đảm
bảo về chất lượng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác ở địa phương trong
tình hình mới.
Ba là: Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số có cơ cấu hợp lý, tăng
tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều
dân tộc cùng sinh sống nhằm khắc phục tình trạng mất cân đối về cơ cấu
trong đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số.
3.3. ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG CHỈ ĐẠO ĐỔI MỚI
CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
3.3.1. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bộ về công tác cán bộ
Các cấp ủy, tổ chức đảng đã quán triệt sâu sắc nguyên tắc tập
trung dân chủ nhằm nâng cao nhận thức và tạo sự thống nhất cao trong
thực hiện các khâu của công tác cán bộ. Đi đôi với thực hiện nguyên tắc
tập trung dân chủ Đảng bộ tỉnh đã phát huy được vai trò đứng đầu các tổ
chức trong hệ thống chính trị trong việc tiến cử cán bộ lãnh đạo, quản lý
các ủy ban các cấp, giữa chỉ đạo và thực hiện vì vậy là thực hiện tốt các
18
chương trình kế hoạch đề ra, chỉ tiêu đưa ra về cơ bản hoàn thành, đáp ứng
được yêu cầu nhiệm vụ.
Mặc dù còn nhiều thiếu sót trong quá trình thực hiện, nhưng về cơ bản, quá
trình đổi mới xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số giai đoạn 2001 - 2010 của
tỉnh Tuyên Quang đạt được kết quả tốt đẹp. Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ngày
càng phát triển mạnh về số lượng và chất lượng. Hiệu quả công việc được nâng
lên, góp phần đáp ứng nhu cầu nguồn lực trong công cuộc đổi mới đất nước, đặc
biệt là ở miền núi, vùng có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống.
CHƯƠNG 4
NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
4.1. NHẬN XÉT
4.1.1. Một số ưu điểm
4.1.1.1. Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã xác định rõ trách nhiệm của các
cấp ủy Đảng trong xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số
4.1.1.2. Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã lãnh đạo thực hiện tốt đồng
bộ các khâu của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ dân
tộc thiểu số nói riêng
4.1.1.3. Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã lãnh đạo xây dựng được đội
ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đông đảo, cơ cấu ngày càng hợp lý, chất
lượng được nâng lên một bước đáng kể, cơ bản đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ chính trị của tỉnh
4.1.2. Một số hạn chế
Một là: Một số cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị
chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác quy hoạch,
20
Tiểu kết chương 4
Sau 20 năm lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số
(1991 - 2010), Đảng bộ Tuyên Quang đã đạt được một số thành tựu đáng
kể. Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ngày càng đông đảo, cơ cấu ngày
càng hợp lý và từng bước được trẻ hóa. Trình độ chuyên môn, lý luận
chính trị được nâng lên, cán bộ dân tộc thiểu số ngày càng trưởng thành
và phát huy khá tốt năng lực chuyên môn cũng như năng lực lãnh đạo,
quản lý. Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số giai đoạn 1991 - 2000 chưa
được quy hoạch đào tạo một cách có hệ thống, đến năm 2001 trở đi
Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang quyết tâm đổi mới lãnh đạo xây dựng đội
ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong toàn hệ thống chính trị của tỉnh thì
chất lượng, hiệu quả được thể hiện rõ nét.
Việc đổi mới phương thức lãnh đạo trong xây dựng đội ngũ cán bộ dân
tộc thiểu số của Đảng bộ Tỉnh đã nhận được sự đồng thuận và ý thức trách
nhiệm của các cấp ủy đảng, ban, ngành, các tổ chức đoàn thể, đồng bào dân
tộc trong tỉnh, cùng với việc thực hiện đồng bộ, hiệu quả các khâu của công
tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nên đến năm 2010, Tuyên
Quang cơ bản đã xây dựng được đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, đáp ứng
được yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ cách mạng mới.
Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc
thiểu số từ năm 1991 đến năm 2010, Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang cũng còn
bộc lộ một số hạn chế, như: Một số nơi trong tỉnh chưa gắn kết công tác
quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; chưa có
chính sách rõ ràng trong việc thu hút cán bộ dân tộc thiểu số, có trình độ về
địa phương công tác. Vì vậy, nhiều cán bộ dân tộc thiểu số khi về địa
phương công tác không phát huy được năng lực, sẵn sàng rời bỏ quê hương
và địa phương để đến nơi khác làm việc thích hợp hơn. Bên cạnh đó tỷ lệ
cán bộ dân tộc thiểu số chưa cân xứng với tỷ lệ dân tộc.
đến đào tạo, bồi dưỡng, quản lý và bố trí, sử dụng cán bộ cũng như thực
hiện tốt chính sách đối với cán bộ dân tộc thiểu số. Vấn đề xây dựng đội
ngũ cán bộ dân tộc thiểu số luôn là một yêu cầu khách quan vừa mang tính
cơ bản, lâu dài, vừa mang tính cấp bách đối với sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc hiện nay. Tổng kết lý luận với thực tiễn 30 năm đổi mới cho
thấy, một trong những nguyên nhân yếu kém trong việc thực hiện chính
sách dân tộc là do đội ngũ cán bộ vừa thiếu, lại vừa yếu về năng lực quản
lý, lãnh đạo. Nguyên nhân của tình trạng đó là do chưa chú ý đúng mức đến
xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số.
Miền núi phía Bắc nước ta là một vùng lãnh thổ rộng lớn, gồm 15
tỉnh, có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, là vùng đa sắc thái văn hóa tộc
người vào loại bậc nhất của nước ta; đồng thời, cũng là một vùng mà kinh
tế - xã hội còn gặp những khó khăn so với cả nước. Đội ngũ cán bộ dân
tộc thiểu số ở đây phát triển không đều, nhiều địa phương thiếu cán bộ
đến mức trầm trọng. Nghiên cứu về quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ
dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện khu vực, đáp ứng yêu cầu khách
quan của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
quốc tế là vấn đề cấp bách hiện nay. Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng
23
của vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi
phía Bắc nước ta, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương chính sách
đối với cán bộ dân tộc thiểu số và xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu
số. Những quan điểm đó "thể hiện sự vận dụng sáng tạo và phát triển lý
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cách mạng Việt Nam; qua
đó khẳng định vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong quá
trình phát triển cách mạng [116, tr. 230].
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Bắc có đông đồng bào dân tộc
thiểu số sinh sống, trình độ dân trí chưa cao, nhiều tập tục lạc hậu chưa