ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỒNG NAI LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO CHỦ CHỐT CẤP
TỈNH TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2008
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Đội ngũ cán bộ của Đảng nói chung là cầu nối liền giữa Đảng và các cơ
quan lãnh đạo của Đảng với quần chúng. Cán bộ vừa là người tuyên truyền,
giáo dục các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của
Nhà nước cho dân chúng hiểu và thi hành; vừa là người nắm tình hình của
dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đề ra chủ trương đường
lối đúng. Cán bộ là người tổ chức phong trào cách mạng của quần chúng tiến
hành các nhiệm vụ. Trong một chừng mực nhất định, cán bộ có vai trò quyết
định thành công hay thất bại của phong trào, đặc biệt cán bộ lãnh đạo chủ
chốt người đứng đầu các cơ quan đơn vị Đảng và Nhà nước giữ vị trí, vai trò
rất quan trọng là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với
vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác
xây dựng Đảng. Cán bộ không chỉ là người tham gia đề ra đường lối và tổ
chức thắng lợi đường lối, mà còn góp phần phát triển và hoàn chỉnh đường lối
ngày một đúng đắn hơn, phù hợp với tình hình, đặc điểm và nhiệm vụ cách
mạng qua các giai đoạn lịch sử.
Cán bộ chủ chốt của Đảng nói chung, và cán bộ chủ chốt địa phương
cấp tỉnh nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ đất nước hiện nay. Khẳng định vai trò đội ngũ cán bộ của Đảng. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ: “ Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”,
“ Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Trong các
cơ quan, đơn vị Đảng và Nhà nước có vững mạnh và hoàn thành tốt nhiệm
vụ hay không phụ thuộc quyết định vào chất lượng của đội ngũ cán bộ. Nhận
thức rõ vai trò to lớn của đội ngũ cán bộ đối với cách mạng, từ khi ra đời và
2
3
việc nghiên cứu, tổng kết, đánh giá thành tựu, hạn chế chỉ rõ nguyên nhân và rút
ra những kinh nghiệm bước đầu về quá trình lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ
cán bộ chủ chốt của tỉnh (1997 - 2008), làm cơ sở để Đảng bộ tỉnh tiếp tục lãnh
đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của Tỉnh trong những năm tiếp
theo, đạt được nhiều thành tựu vững chắc hơn, đây là vấn đề cần thiết và mang
tính cấp bách hiện nay.
Do đó, để góp phần vào việc nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề trên, tác
giả chọn vấn đề: “ Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp tỉnh từ năm 1997 đến năm 2008” làm luận văn tốt nghiệp cao học của
mình thuộc ngành lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng nói chung, xây dựng Đảng và
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng nói riêng vấn đề cán bộ và xây dựng đội
ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt bao giờ cũng giữ vị trí, vai trò đặc biệt quan
trọng và là nội dung trọng yếu trong công tác xây dựng Đảng. Đồng thời đây
là vấn đề quan tâm nhiều nhất của các nhà khoa học với các công trình nghiên
cứu khoa học ở những góc độ, khía cạnh khác nhau. Có thể phân chia các
công trình nghiên cứu này thành các nhóm sau:
- Nhóm các công trình khoa học về các bài viết, bài nói của Chủ tịch
Hồ Chí Minh và của một số nhà lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước
Việt Nam.
Các vấn đề này được tuyển chọn và xuất bản trong các cuốn sách như:
“ Hồ Chí Minh (1947), “ Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 5,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; Hồ Chí Minh (1949), “Bài nói chuyện
trong buổi bế mạc hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ sáu”, Hồ Chí Minh toàn
tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; Hồ Chí Minh (1958), “
5
CNH, HĐH đất nước, Nxb Giáo dục, Hà Nội; Phạm Hữu Dật ( chủ biên )
(1994), Phương sách dùng người của ông cha ta trong lịch sử, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội; Tô Tử Hạ (1998), Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ
cán bộ công chức hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Lê Du Phong,
Hoàng Văn Hoa ( chủ biên) ( 1998), Đào tạo cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô ở
Việt Nam - Thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Trần
Xuân Sầm ( chủ biên ) ( 1998) Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh
đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia , Hà
Nội; Đức Vượng (1995), Hồ Chí Minh với vấn đề đào tạo cán bộ, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
Những công trình này có một đặc điểm chung là bàn về quá trình xây
dựng và phát triển đội ngũ cán bộ cách mạng của Đảng qua các thời kỳ cách
mạng; xác định rõ vị trí, vai trò tầm quan trọng và yều khách quan của việc
xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng trong cách mạng. Đặc biệt, xác định rõ cơ
cấu số lượng, chất lượng, tiêu chuẩn, nội dung, yêu cầu và giải pháp cụ thể
xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ của Đảng nhất là cán bộ lãnh đạo chủ
chốt trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay.
- Nhóm các bài báo khoa học đăng tải trên các báo, tạp chí chuyên
ngành
Các bài báo này đã đề cập ở các phạm vị, góc độ khác nhau về vấn đề
xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung cán bộ lãnh đạo chủ chốt nói riêng như:
Huỳnh Xuân cơ (1995), “ Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ chính trị của thời kỳ mới”, Tạp chí xây dựng Đảng (số 3);
Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban tổ chức Trung ương (1999), Một số quyết
định, quy định, quy chế, hướng dẫn về công tác cán bộ, Tạp chí Xây dựng
Đảng, Hà Nội; Cao Duy Hạ (1999), “ Nghĩ về giải pháp nâng cao phẩm chất,
năng lực đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Tạp chí thông tin lý
7
Văn ( 1995), “ Đánh giá đúng cán bộ trong cơ chế thị trường”, Tạp chí Xây
dựng Đảng, ( số 7 ); Lê Hữu Xanh (1993), “ Từ vai trò xã hội mới của các
đoàn thể nghĩ về tiêu chuẩn cán bộ các đoàn thể nhân dân” , Tạp chí Nghiên
cứu lý luận ( số 4); Lê Hữu Xanh (1994), “ Đưa tâm lý học chính trị vào
chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo chính trị”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận
( số 4) ; Nguyễn Văn Dụ ( 1997), “ Một số vấn đề nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ chính trị phân đội trong Quân đội ta hiện nay”, Tạp chí Quốc
phòng toàn dân; Nguyễn Minh Khôi (2009), “ Nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ quản lý giáo dục - đào tạo các học viện, trường sĩ quan quân đội, Tạp
chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự ( số 4); Phạm Đình Bộ ( 2009), “ Rèn
luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên theo Di chúc của Chủ Tịch
Hồ Chí Minh, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự ( số 5); Đồng Xuân
Trường ( 2009) , “Góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ
sở, xã, phường, thị trấn ở Tây nguyên hiên nay”, Tạp chí Giáo dục lý luận
chính trị quân sự ( số 5); Tiến Hải (1997), “ Thông qua hoạt động thực tiễn để
đánh giá , bố trí, sử dụng cán bộ”, Báo Nhân dân, (số ngày 05/10); Tiến Hải
(2000), “ Yếu tố quan trọng hàng đầu trong công tác cán bộ” , Tạp chí Thông
tin lý luận, (số 267).
Các công trình trên đề cập đến các khía cạnh khác nhau về phẩm chất,
năng lực đội ngũ cán bộ của Đảng hiện nay, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo
chủ chốt của Đảng. Mỗi công trình của các tác giả đề cập, lý giải nhiều vấn đề
về vị trí, vai trò, yêu cầu, cơ cấu, nội dung xây dựng đội ngũ cán bộ ở những
phạm vi, góc độ và đối tượng khác nhau. Đặc biệt, đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt
của Đảng trong công cuộc đổi mới hiện nay.
- Nhóm các đề tài, luận văn, luận án, kỷ hiếu khoa học nghiên cứu theo
các lĩnh vực chuyên ngành khác nhau:
9
Nguyễn Hồng Châu: “Nâng cao chất lượng đội ngũ chủ nhiệm hậu cần trung
đoàn binh chủng hợp thành Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” (2003);
Luận án tiến sĩ lịch sử của tác giả Nguyễn Tiến Quốc: “Nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ chủ trì Ban chỉ huy Quân sự các huyện miền núi phía Bắc
trong giai đoạn hiện nay” (2003); Luận văn Thạc sĩ Xây dựng Đảng của tác
giả Đoàn Đình Phú: “ Xây dựng đội ngũ của Trường sĩ quan Pháo binh hiện
nay” (2001); Luận văn Thạc sĩ Xây dựng Đảng của tác giả Đào Công Khanh:
“ Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý học viên ở Học viện Hải quân
hiện nay” (2003); Luận văn thạc sĩ xây dựng Đảng của tác giả Phạm Ngọc
Thuỵ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì cơ quan ở Học viện quốc phòng
trong giai đoạn hiện nay” ( 2004).
Các công trình nghiên cứu trên đi sâu vào nghiên cứu ở các cấp độ khác
nhau theo từng chuyên ngành riêng nhưng đều có mục tiêu chung là nhằm xây
dựng và phát triển đội ngũ cán bộ của Đảng trong các cơ quan, đơn vị, tổ
chức trong toàn Đảng . Những kết quả của các công trình trên đã có nhiều
đóng góp cả về mặt lý luận và thực tiễn cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ các cấp của Đảng, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong sự nghiệp đổi
mới đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước hiện nay.
- Nhóm các tài liệu nước ngoài viết về xây dựng đội ngũ cán bộ
Đảng Cộng sản Trung Quốc, Điều lệ tạm thời về việc lựa chọn bổ nhiệm cán
bộ lãnh đạo Đảng và chính quyền; Đảng Cộng sản Trung Quốc, Quy hoạch
đào tạo cán bộ từ (1996 - 2000).
- Có thể khẳng định các công trình khoa học của các cơ quan nghiên cứu,
các nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề cán bộ và xây dựng đội
ngũ cán bộ của Đảng, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp dưới những góc
độ, khía cạnh khác nhau tuỳ theo chuyên ngành cụ thể. Các tác phẩm và các công
trình trình nghiên cứu nêu trên đã đi sâu sắc làm rõ về quan điểm, đường lối của
11
Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về xây dựng đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp Tỉnh.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Nghiên cứu chủ trưong và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh
Đồng Nai về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu các vấn đề trên từ (1997 -2008).
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt
Nam; Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ
lãnh đạo chủ chốt nói riêng.
* Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu của luận văn dựa trên phương pháp luận sử
học mác-xít, trong đó chủ yếu dựa vào phương pháp lịch sử, phương pháp
lôgic và sự kết hợp hai phương pháp đó. Ngoài ra tác giả còn sử dụng một số
phương pháp khác như: phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh và
phương pháp chuyên gia...
5. Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo, chỉ
đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt từ (1997 -2008). Trên cơ sở đó hệ
thống hoá chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng thành những tư liệu, tài liệu
nghiên cứu về lịch sử lãnh đạo của Đảng bộ địa phương tỉnh Đồng Nai.
- Luận văn rút ra một số kinh nghiệm bước đầu góp phần cho quá trình
lãnh đạo, chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt củaTỉnh
hiện nay.
13
toàn tỉnh có171 xã, phường, thị trấn trong đó có 31 phường, 7 thị trấn và 133
xã.
- Đặc điểm về dân cư: dân số toàn Tỉnh hiện nay là trên 2 triệu người,
có hơn 40 dân tộc với dân đến từ tất cả Tỉnh , Thành trên cả nước. Trong đó
dân số sống ở khu vực nông thôn chiếm tỷ lệ hơn 70%. Tỷ lệ tăng dân số tự
nhiên đang giảm dần nhờ hiệu quả của công tác Dân số và kế hoạch hoá gia
đình. Dân số tỉnh Đồng Nai tăng cơ học trong những năm qua là do các đợt di
dân từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung và miền Tây nam bộ. Tỷ lệ tăng cơ học
ước tính mỗi năm từ 3 đến 4%.
- Đặc điểm về kinh tế : nhờ vị trí địa lý, khí hậu thuận lợi cho việc phát
triển sản xuất và những thuận lợi nhất định về giao thông và nhân công lao
động, trên địa bàn tỉnh đã hình thành nhiều khu sản xuất, khu công nghiệp
quan trọng tạo nên một trọng điểm phát triển kinh tế trong khu vực. Toàn tỉnh
có 19 khu công nghiệp với tổng diện tích hàng ngàn ha và cụm công nghiệp
tập trung đã đi vào hoạt động đang thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài
nước đến làm ăn. Tăng trưởng kinh tế hàng năm của tỉnh cao hơn nhiều so với
các tỉnh khác trên toàn quốc. Tuy nhiên hiện nay vẫn còn có 16 xã đặc biệt
khó khăn, 56 xã miền núi và 32 xã cách mạng vùng sâu khó khăn. Đồng Nai
có khoảng 14. 000 hộ nghèo thường tập trung ở đồng bào dân tộc thiểu số,
vùng sâu vùng xa.
1.1.2.Tình hình đội ngũ cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt của Tỉnh trước năm 1997
* Một số vấn đề chung về đội ngũ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh
- Quan niệm về cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh
+ Quan niệm về cán bộ của Đảng nói chung: cán bộ cách mạng chính
là cầu nối liền giữa Đảng với nhân dân. Cán bộ là những người đem chính
sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành.
Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho chính phủ
hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng.
15
+ Các chức danh cán bộ chủ chốt cấp tỉnh bao gồm: các uỷ viên ban
thường vụ tỉnh( trừ chức danh chủ chốt cấp huyện); chủ tịch Uỷ ban mặt trận
tổ quốc; chủ tịch, bí thư các đoàn thể CT- XH ( có hoặc không nằm trong ban
thường vụ tỉnh) ; giám đốc các sở, ngành thuộc Uỷ ban tỉnh, thành phố (có
hoặc không nằm trong ban thường vụ tỉnh, thành uỷ); phó chủ tịch HĐND,
UBND tỉnh, thành phố, tuy không phải là chức danh độc lập, nhưng với tư
cách là người cộng sự của chủ tịch, được phân công điều hành một lĩnh vực
KT- XH cụ thể, nên cần được coi là cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh. Số
lượng cán bộ chủ chốt cấp tỉnh hiện nay khoảng 35 đến 40 người.
- Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh
+ T ừ lý luận và thực tiễn khẳng định đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ
cán bộ chủ chốt giữ vai trò quan trọng hàng đầu, là một trong những nhân tố
quyết định sự thành công hay thất bại của cách mạng.
+ Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh là người trực tiếp lĩnh hội mọi Nghị
quyết, chủ trương chính sách, pháp luật của cấp Trung ương để triển khai và
quán triệt tổ chức chỉ đạo thực hiện đến cấp huyện và cấp cơ sở; có vai trò
quyết định trong xây dựng chủ trương, định hướng chương trình kế hoạch
phát triển toàn diện hoặc trong pham vị từng ngành, từng lĩnh vực ở cấp tỉnh;
chịu trách nhiệm kiểm tra kiểm soát mọi lĩnh vực hoạt động diễn ra trên địa
bàn theo đúng pháp luật của Nhà nước, đúng định hướng phát triển của Đảng.
+ Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh là người lãnh đạo, đồng thời cũng là
người quản lý mọi hoạt động, đảm bảo cho bộ máy vânh hành đồng bộ, đúng
chức năng, nhiệm vụ, làm cho mọi Nghị quyết, chủ trương chính sách của cấp
Trung ương được thực hiện một cách cụ thể thông suốt và có hiệu quả đến tận
cấp cơ sở.
+ Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh giữ vai trò trong việc thường xuyên
phối hợp các quá trình quản lý, điều chỉnh kịp thời những mâu thuẫn phát sinh
người do bất mãn cá nhân đi đến phản bội Đảng và lợi ích của nhân dân.
+ Một bộ phận cán bộ thoái hoá biến chất về đạo đức, lối sống, lợi dụng
chức quyền để tham nhũng, buôn lậu, làm giàu bất chính, lãng phí của công;
quan liêu; ức hiếp dân, gia trưởng độc đoán; có tham vọng cá nhân, cụ bộ kèn
17
cựa địa vị, cơ hội, kém ý thức về tổ chức kỷ luật, phát ngôn và làm việc tuỳ
tiện, gây mất doàn kết nội bộ nghiêm trọng.
+ Đáng chú ý là những biểu hiện tiêu cực này đang có chiều hướng
phát triển, làm xói mòn bản chất cách mạng của đội ngũ cán bộ, làm suy yếu
uy tín của Đảng, suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ.
+ Nhiều cán bộ lãnh đạo không nghiêm túc tự phê bình và tiếp thu phê
bình, tính chiến đấu kém. Có tình trạng nể nang, né tránh, không nói thẳng,
nói thật với nhau, bằng mặt mà không bằng lòng.
+ Đội ngũ cán bộ tuy đông nhưng không đồng bộ, vẫn còn tình trạng”
vừa thừa vừa thiếu”. Trình độ kiến thức, năng lực lãnh đạo và quản lý chưa
đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới, nhất là quản lý kinh tế thị trường, quản
lý xã hội, pháp luật… Nhiều cán bộ lười học, lười nghiên cứu, một số học
lướt chỉ cốt để lấy được bằng cấp…
- Thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ, cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp
tỉnh trước năm 1997
+ Tỉnh uỷ đã ra được Nghị quyết chuyên đề về công tác quy hoạch cán
bộ, về đào tạo cán bộ; xác định nhu cầu đào tạo, định hướng việc bố trí, đề
bạt, điều chuyển cán bộ theo quy hoạch, phân cấp quản lý cán bộ; củng cố
kiện toàn các cấp uỷ, các cơ quan Đảng từ tỉnh đến cơ sở giữa nhiệm kỳ; lựa
chọn giới thiệu cán bộ Đảng tham gia vào HĐND, UBND và đoàn thể các cấp
trong các kỳ bầu cử Đại hội.
+ Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ rất được quan tâm và có nhiều
chuyển biến tích cực. Mở rộng đối tượng đào tạo, số lượng đào tạo và nội
tỉnh và lãnh đạo huyện, thị, thành phố”; trong đó nữ có có 26 đồng chí, chiếm
14,60%, trên 50 tuổi chiếm 45, 5 %. Số lượng lãnh đạo ở cấp tỉnh có trình độ
đại học chuyên môn 63,3%, có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp đến cao
cấp chiếm 79%; cán bộ lãnh đạo cấp huyện có trình độ đại học 41, 3% và
trình độ lý luận chính trị từ trung cấp đến đại học chiếm 78,3%.
+ Đánh giá chung về đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của tỉnh: Về
mặt ưu điểm, được rèn luyện thử thách và kế thừa truyền thống cách mạng
trong cuộc kháng chiến lâu dài gian khổ và được trưởng thành trong thực tiễn
19
xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; năng động sáng tạo, chấp hành và
thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà
nước.
+ Trong điều kiện đời sống còn nhiều khó khăn và trước mắt những
tiêu cực xã hội, tuyệt đại bộ phận cán bộ vẫn giữ được lối sống lành mạnh,
gắn bó với nhân dân, quan tâm chăm lo đến sự nghiệp chung, nhất trí với
quan điểm, nguyên tắc đổi mới của Đảng, giữ được sự đoàn kết nhất trí, thống
nhất quan điểm lãnh đạo, thực hiện có kết quả nhiệm vụ chính trị kinh tế- xã
hội cảu ngành, địa phương, được nhân dân tín nhiệm.
+ Trình độ kiến thức và năng lực quản lý kinh tế, quản lý xã hội bước
đầu được nâng lên, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối chính sách của
Đảng và Nhà nước, tạo được những chuyển biến quan trọng về KT- XH, Gĩư
được ổn định chính trị, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới ở địa phương phát triển.
+ Tuy nhiên, bên cạnh những mặt mạnh, đội ngũ cán bộ của tỉnh còn
bộc lộ những mặt yếu như sau: một bộ phận cán bộ sa sút về phẩm chất chính
trị, nhận thức mơ hồ về chủ nghĩa Mác- Lênin; mất niềm tin vào chủ nghĩa xã
hội và sự lãnh đạo của Đảng. Một số người đã thoái hoá biến chất về đạo đức,
lối sống, lợi dụng chức vụ quyền hạn để tham nhũng, làm giàu bất chính, lãng
phí của công, quan liêu ức hiếp dân, xa rời dân, làm cho dân thiếu tín nhiệm.
đại hoá là tạo ra những điều kiện cần thiết về vật chất- kỹ thuật, về con người
và khoa học - công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhằm huy
động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cả trong nước và ngoài nước,
không ngừng tăng năng xuất lao động xã hội, làm cho kinh tế tăng trưởng
nhanh và bền vững, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, thực
hiện công bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường, sinh thái. Để
đạt được mục đích đó là phải phát huy hiệu quả nguồn lực con người nhất là
đội ngũ cán bộ nhất là cán bộ chủ chốt để thúc đẩy quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Xét về mặt phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá được hiểu
là quá trình biến đổi từ một nền kinh tế trong đó nông nghiệp và khai thác tài
nguyên chiếm tỷ trọng lớn sang một nền kinh tế có tỷ trọng công nghiệp và
21
dịch vụ cao thể hiện trong cơ cấu sản xuất, kinh doanh dịch vụ, xuất khẩu và
lực lượng lao động. Trong nền kinh tế mở, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là
quá trình xây dựng hệ thống công nghiệp, nền sản xuất hàng hoá có sức cạnh
tranh trên thị trường thế giới. Còn xét về góc độ phát triển công nghệ, bản
chất công nghiệp hoá là quá trình thay thế công nghệ thủ công và lạc hậu bằng
công nghệ dựa trên máy móc và ngày càng hiện đại; nhằm nâng cao năng xuất
lao động xã hội, biến đổi một xã hội nông nghiệp thành một xã hội công
nghiệp. So sánh những yêu cầu trên, chỉ xét riêng khía cạnh chất lượng của
nguồn nhân lực nhất là chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt đầu ngành chúng
ta còn có hạn chế nhất định chưa đảm bảo yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá như: về trình độ và kỹ năng lao động bao gồm, trình độ văn hoá
chung, trình độ nghề nghiệp, kỹ năng và khả năng tiếp cận công nghệ, kỹ
thuật hiện đại, tính tổ chức, kỷ luật tự giác cao trên cơ sở khả năng tự chủ
công việc. Vấn đề quan trọng hơn là phải chú trọng khai thác mọi tiềm năng
của nguồn lực trong nước trọng tâm là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt.
học hỏi, năng động, sáng tạo, có kiến thức quản lý kinh tế, xã hội, có tính tổ
chức và kỷ luật cao. Đó là những cán bộ có đạo đức cách mạng, và phong
cách lãnh đạo tốt, trước hết là có ý thức tập thể, dân chủ đi đôi với tính quyết
đoán, có ý thức trách nhiệm, có tác phong sâu sát thực tế, gần gũi quần chúng,
quan tâm đến con người, gương mẫu trong lối sống, đoàn kết và động viện
được nhiệt tình lao động của cán bộ và nhân dân.
1.2. Đảng bộ tỉnh Đồng Nai vận dụng quan điểm, đường lối của
Đảng vào xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của tỉnh từ năm 1997 đến năm
2008
1.2.1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng đội ngũ
cán bộ của Đảng
- Giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2001
+ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/ 1986) đã tạo ra
bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước. Từ đây tư
duy của Đảng về công tác cán bộ được thể hiện rõ trong chủ trương là: “Đổi
23
mới cán bộ lãnh đạo các cấp là mắt xích quan trọng nhất mà Đảng ta phải nắm
chắc để thúc đẩy những cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng”[ 20 .tr.132]
Đại hội VI khẳng định: “Đổi mới đội ngũ cán bộ có nghĩa là đánh giá,
lựa chọn, bố trí lại, đi đôi với đào tạo, bồi dưỡng để có đội ngũ cán bộ có đủ
những tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực lãnh đạo, quản lý ngang tầm nhiệm
vụ. Muốn đổi mới đội ngũ cán bộ, trước hết phải đổi mới công tác cán bộ và
đội ngũ những người làm công tác tổ chức, cán bộ. Việc đổi mới cán bộ cần
được thực hiện khẩn trương, kiến quyết nhưng phải tránh thay đổi vội vàng.
Tránh nối đổi mới một cách hình thức, chỉ căn cứ vào độ tuổi, bằng cấp, hoặc
hiểu đổi mới chỉ đơn thuần là thay đổi người, chỉ cọi trọng cán bộ mới, coi nhẹ
cán bộ lâu năm có năng lực và phẩm chất. Để đổi mới đội ngũ cán bộ một cách
đúng đắn cần đổi mới quan điểm đánh giá cán bộ. Phải lấy hiệu quả thực hiện
đối với việc quản lý cán bộ chủ chốt ở các cấp, các ngành, coi đây là chức năng
quan trọng không thể thiếu của các cơ quan lãnh đạo Đảng” [ 20, tr.134]
Nhằm đưa nghị quyết vào cuộc sống, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp
hành Trung ương khoá VI (6/1988) ra Nghị quyết một số vấn đề cấp bách về
xây dựng Đảng trong đó xác định rõ: xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất
và năng lực thực hiện sự nghiệp đổi mới, trước hết là những hạt nhân lãnh đạo,
những cán bộ chủ chốt ở các cấp, các ngành, nhất là ở Trung ương và cơ sở;
những cán bộ lãnh đạo và cán bộ tham mưu giỏi về từng lĩnh vực. Từng bước
trẻ hoá đội ngũ cán bộ, bảo đảm tính liên tục, xúc tiến xây dựng quy hoạch cán
bộ, lựa chọn cán bộ dự bị, cán bộ kế cận.
+ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/ 1991), dựa trên
những phương hướng cơ bản của việc đổi mới, chỉnh đốn Đảng trong thời kỳ
mới chủ trương: “ Tiếp tục đổi mới cán bộ và công tác cán bộ, xây dựng cho
được đội ngũ cán bộ vững mạnh và đồng bộ, bao gồm cán bộ lãnh đạo chính
trị, cán bộ quản lý nhà nước, cán bộ kinh doanh, chuyên gia trên các lĩnh vực
25
đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới thực hiện được sự chuyển tiếp
vững vàng các thế hệ cán bộ” [ 21, tr.98]
Đại hội Đại VII xác định tiêu chuẩn cơ bản của cán bộ lãnh đạo trong
giai đoạn hiện nay là: có phẩm chất cách mạng và bản lĩnh chính trị vững vàng,
có kiến thức và năng lực thực hiện đổi mới, biết tổ chức và điều hành công
việc, trung thực, thẳng thắn, có lối sống lành mạnh, có khả năng đoàn kết, có
phong cách dân chủ tập thể, có ý thức tổ chức kỷ luật, nói đi đôi với làm, được
quần chúng tín nhiệm. Khẩn trương xây dựng tiêu chuẩn cụ thể cho từng loại,
từng chức danh cán bộ ở các cấp, các ngành và căn cứ vào đó để đào tạo bố trí,
sử dụng cán bộ, chấm dứt tình trạng bố trí cán bộ theo kiểu thân quen, cảm tính
chủ quan. Trong công tác cán bộ cần coi trọng ba mặt: bồi dưỡng, bố trí đúng
để phát huy lực lượng cán bộ hiện có; kịp thời thay những cán bộ kém năng