LUẬN văn tốt NGHIỆP ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM LÃNH đạo xây DỰNG đội NGŨ cán bộ CHỦ CHỐT xã, PHƯỜNG, THỊ TRẤN GIAI đoạn 2001 2007 - Pdf 38

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xã, phường, thị trấn là hạt nhân chính trị, là nơi trực tiếp thực hiện
đường lối chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Nhằm xây dựng
nông thôn giàu đẹp văn minh, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã
giành sự quan tâm đặc biệt đối với các đơn vị xã, phường, thị trấn như : đầu
tư mạnh mẽ vào các chương trình xoá đói giảm nghèo; y tế, giáo dục; xây
dựng cơ sở hạ tầng; đào tạo bồi dưỡng cán bộ… giúp các địa phương phát
triển mạnh về kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.Tuy nhiên, nếu đi
vào thực tế ở nhiều xã, phường, thị trấn vẫn còn rất nhiều khó khăn, một số xã
miền núi tình hình chính trị-xã hội chưa thực sự ổn định do một số phần tử
phản động cấu kết với các thế lực thù địch gây ra. Chúng lợi dụng sự kém
hiểu biết của đồng bào các dân tộc xúi giục, kích động, lôi kéo họ bỏ làng, xã
theo chúng, gây mất ổn định chính trị. Song chúng ta đã xử lý kịp thời không
để tình trạng trên kéo dài, cuộc sống nhân dân nhanh chóng đi vào ổn định.
Nhìn chung trong thời gian qua, diện mạo cơ sở xã, phường, thị trấn có
sự thay đổi lớn, tình hình kinh tế-xã hội và an ninh trật tự trên các địa bàn có
những chuyển biến tích cực. Đạt được thành công đó không thể không kể đến
vai trò vô cùng quan trọng của đội ngũ cán bộ địa phương, họ đã có nhiều
đóng góp to lớn. Họ chính là những người đưa đường lối, chủ trương của
Đảng vào cuộc sống, trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của
Đảng, góp phần quan trọng trong xây dựng nông thôn giàu đẹp, văn minh.
Hiện nay, phần lớn họ vẫn giữ được bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ học
vấn ngày càng được nâng lên, năng động, sáng tạo trong cải cách hành chính
và phát huy dân chủ ở cơ sở… Song bên cạnh đó một số cán bộ chủ chốt xã,
phường, thị trấn sa sút về ý chí chiến đấu, chỉ lo vun vén cho lợi ích cá nhân;
một số lợi dụng chức quyền để tham ô tài sản, sách nhiễu nhân dân; một số


2



công trình nghiên cứu, bài viết về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, trực tiếp
là đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn đó là:
Các Nghị quyết của Đảng như :
Đảng CSVN, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba, BCHTƯ Đảng khoá
VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước;
Đảng CSVN, Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy BCHTƯ Đảng khoá
VIII về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện
nay.
Các Nghị định, Thông tư của Chính phủ như :
Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10 - 10 - 2003 của Chính phủ về
cán bộ công chức xã, phường, thị trấn.
Thông tư số 03/2004/TT-BNV ngày 16-01-2004 của Bộ nội vụ hướng
dẫn thực hiện Nghị đinh số 114/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của
Chính phủ về cán bộ công chức xã, phường, thị trấn
Các bài viết, đề tài khoa học như :
Lê Thanh Phong, “ Tăng cường quản lý cán bộ” Báo Nhân dân,
số17740 năm 2004.
Trần Đình Hoan, “ Về quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước”, Tạp chí Cộng sản số 33 - tháng 11 năm 2003
Lê văn Bền, " Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng đội ngũ
cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước từ 1996 - 2001”, Đề tài luận
văn tốt nghiệp sỹ quan chính trị, năm 2002.
Các Nghị quyết của Đảng, Nghị định, Thông tư của Chính phủ, các
đề tài khoa học, các bài viết ở nhiều góc độ khác nhau đã đề cập đến công
tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng. Song chưa có công trình
nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống dưới góc độ lịch sử Đảng
về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn trong những năm
đổi mới từ 1996 đến 2005. Tuy nhiên, các công trình nói trên đều có giá trị
và là cơ sở cho tác giả tham khảo trong quá trình hoàn thành đề tài “ Đảng

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Cơ sở lý luận


5

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tuởng Hồ
Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề cán
bộ và công tác cán bộ
*Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logíc, đồng thời sử dụng
một số phương pháp chuyên ngành như: Phương pháp so sánh, phương pháp
thống kê, phương pháp tổng hợp…
*Nguồn tư liệu
Một số tác phẩm của các nhà kinh điển Mác-Lênin và Chủ tịch Hồ Chí
Minh; các văn kiện, Nghị quyết của Đảng; các Nghị định, Thông tư của Chính
phủ; các công trình nghiên cứu, các bài viết của các nhà khoa học về xây dựng
đội ngũ cán bộ nói chung, đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn nói riêng.
6. Ý nghĩa của đề tài
Luận văn đươc bảo vệ sẽ góp phần vào việc tổng kết công tác xây dựng
đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn của Đảng đồng thời có thể dùng làm tài
liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu thực hiện việc xây dựng đội
ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn ở các địa phương trong thời kỳ mới.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục.


6



7

bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên, về mặt lý luận, họ hơn bộ
phận còn lại ở chỗ họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của
phong trào vô sản. C.Mác còn khẳng định: “Muốn thực hiện tư tưởng thì cần
có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn”.[7, 181] Điều đó cho thấy
hai ông rất coi trọng đội ngũ cán bộ cách mạng trong phong trào đấu tranh của
giai cấp vô sản.
V.I.Lênin, người kế thừa và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác đã nhấn
mạnh: trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị
nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính
trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào.
Ông cũng cho rằng: “Chính trị là một khoa học và một nghệ thuật không phải
từ trên trời rơi xuống, mà đòi hỏi một sự cố gắng rằng giai cấp vô sản muốn
thắng giai cấp tư sản phải đào tạo lấy “những nhà chính trị giai cấp” thực sự
của mình, những nhà chính trị vô sản và không thua kém các nhà chính trị của
giai cấp tư sản” [ 16, 80 81]. Như vậy Lênin đã nhấn mạnh đến việc cần thiết
phải có được một đội ngũ những nhà cách mạng chuyên nghiệp và đó là
những cán bộ giỏi, hết sức nhạy bén, thích ứng và sáng tạo trong mọi điều
kiện, kịp thời đưa ra những quyết sách có lợi cho cách mạng. Đó là những
người có lòng trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng, biết áp dụng lý
luận vào thực tiễn, trở thành những người tổ chức thực tiễn tài năng, có tinh
thần khắc phục khó khăn, kiên cường bất khuất, phấn đấu vươn lên sẵn sàng
từ bỏ mọi vinh hoa, phú quý để toàn tâm, toàn ý phục vụ cách mạng. Đó là
những con người biết rèn luyện mình trở thành lãnh tụ quý mến của công
nhân, có kiến thức sâu rộng gắn bó chặt chẽ với quần chúng nhân dân. Giai cấp
vô sản chỉ thắng được giai cấp tư sản, chỉ xây dựng được CNXH, chủ nghĩa
cộng sản khi đào tạo được những cán bộ cách mạng chuyên nghiệp như vậy.
Tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan

xác của đường lối, chính sách và sự thành công của đường lối chính sách ấy
đều tuỳ thuộc cuối cùng ở chất lượng của công tác cán bộ”[2, 110]. Khi người
ta nói, công tác cán bộ quyết định hết thảy cũng ở trên ý nghĩa đó, trong bất
kỳ tổ chức nào, nếu làm tốt công tác cán bộ thì tổ chức đó mới mạnh và hoàn
thành được nhiệm vụ chính trị của mình.


9

Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò của công tác cán bộ. Theo
Người, trong công tác cán bộ có các vấn đề lớn sau đây:
“Hiểu biết cán bộ
khéo dùng cán bộ
cất nhắc cán bộ
phê bình cán bộ”[11, 277]
Để có cán bộ tốt đáp ứng được nhiệm vụ cách mạng, công tác cán
bộ có vị trí quyết định. Hồ Chí Minh coi công tác cán bộ cũng như việc
đào tạo nhân tài là trọng yếu và rất cần thiết, Người nói: “vì lợi ích mười
năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” [12,
22]. Người khẳng định cán bộ là cái gốc của mọi việc và công việc
thành công hay thất bại đều do cán bộ quyết định, thế nhưng trong đội
ngũ cán bộ không có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay, mỗi người đều
có mặt mạnh, mặt yếu, sở trường, sở đoản. Vì vậy để công việc thành
công phải khéo dùng người, phải biết tuỳ tài mà dùng người. Ngay trong
năm 1947 Người đã chỉ ra: Thường chúng ta không biết tuỳ tài mà dùng
người, ví như thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao,
người viết giỏi nhưng nói kém lại dùng vào việc cần phải nói, người nói
khéo nhưng viết xoàng lại dùng vào công việc viết lách, thành thử cả hai
đều lúng túng và công việc đều không thành công, Bác chỉ rõ: nếu biết
tuỳ tài mà dùng người thì hai người đều thành công, đều có thành

Có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực, gương mẫu về đạo đức, lối sống;
được quần chúng tín nhiệm, tin yêu; giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng,
gắn bó, gần gũi với nhân dân; giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng: cần,
kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có tinh thần chủ động trong công việc, độc
lập trong suy nghĩ, hành động
Trình độ kiến thức và năng lực quản lý kinh tế-xã hội được nâng lên.
Tháng 12 năm 1997 cuộc khảo sát điều tra 45 tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương cho thấy rằng, trong số 55350 cán bộ CCXPTT(gồm: chủ tịch Hội đồng
Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân; phó chủ tịch Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân
dân; bốn chức danh chuyên môn: cán bộ địa chính, tư pháp, tài chính-kế toán,
văn phòng uỷ ban nhân dân xã) về trình độ văn hoá: có 28445 (51,41%) ở


11

trình độ cấp III, 22961 (42,45%) có trình độ cấp II, 3934 (7,11%) ở trình độ
cấp I; Về lý luận chính trị: 12631 người (22,79) có trình độ sơ cấp, 15175
người (27,41%) có trình độ trung cấp, 939 người (1,69%) có trình độ cao cấp.
Cũng theo cuộc khảo sát đó, trong số 10000 bí thư xã, phường, thị trấn cho
thấy: về trình độ văn hoá cấp I chỉ chiếm 8%, trong khi cấp II là 41,8%; về
trình độ chuyên môn: trình độ trung cấp là 11,8%, trình độ cao đẳng và đại
học trở lên là 6,0%; về trình độ lý luận chính trị: cao cấp là 8,0%, trung cấp là
58,3%; đã học quản lý nhà nước 20,2%, quản lý kinh tế 6,9%. Có thể khẳng
định rằng trình độ kiến thức quản lý kinh tế-xã hội của đội ngũ cán bộ
CCXPTT bước đầu đã được nâng cao. Vì vậy mà tình trạng cửa quyền, vi
phạm dân chủ, làm trái pháp luật cũng giảm đi.
Nguyên nhân của những mặt mạnh trên là:
Đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng ta và những thành tựu trong
công cuộc đổi mới tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ CCXPTT cống hiến
và trưởng thành

một bộ phận thoái hoá về phẩm chất đạo đức, đạo đức, lối sống.
Đại đa số cán bộ trưởng thành qua phong trào cách mạng do nhiệt tình,
hăng hái, chưa được đào tạo cơ bản
Chính sách chế độ đãi ngộ đối với cán bộ CCXPTT chưa được giải
quyết đồng bộ, kịp thời.
Đời sống cán bộ khó khăn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, ảnh hưởng tới
quá trình học tập, công tác của họ.
Việc đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ CCXPTT thiếu sự nhất
quán, đồng bộ, thiếu chương trình kế hoạch, chưa cơ bản, thống nhất.
1.1.3.Thời kỳ mới với vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt xã,
phường, thị trấn.
*Đặc điểm của thời kỳ mới
Đặc điểm tình hình thế giới
Thế giới đang diễn biến nhanh chóng và phức tạp chứa đựng cả những
yếu tố bất trắc khó lường, thể hiện ở ba đặc điểm sau:
Thứ nhất: Cuộc cách mạng KH và CN phát triển ngày càng cao, làm
tăng nhanh lực lượng sản xuất đồng thời thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá kinh
tế và làm xuất hiện nền kinh tế tri thức


13

Đặc trưng nỗi bật nhất của cuộc cách mạng KH và CN hiện đại so với
các cuộc cách mạng trước đây là đưa các yếu tố thông tin, tri thức trở thành
nhân tố quan trọng nhất đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã
hội của các quốc gia. Bất kỳ một nước đang phát triển nào, nếu biết coi trọng
yếu tố “thông tin” và “tri thức”, kết hợp tuần tự với nhảy vọt, tập trung phát
triển công nghệ cao thì đều có thể rút ngắn được thời gian của quá trình CNH,
HĐH. Đồng thời cuộc cách mạng KH và CN hiện đại đã và đang mở ra sự
phát triển của kinh tế thông tin, kinh tế tri thức với đặc điểm nổi bật của nó là

lịch sử của giai cấp công nhân và sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, thay vào đó
là quan niệm về tính nhân loại chung chung, về một động lực phát triển mới là
“Làn sóng trí tuệ” hoặc cho rằng học thuyết của Mác về động lực phát triển xã
hội là đấu tranh giai cấp chỉ phù hợp với thời kỳ của Mác, còn hiện nay đã lỗi
thời, lạc hậu
Tình hình trên đòi hỏi phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ có bản
lĩnh chính trị vững vàng.
Thứ ba: Quốc tế hoá và toàn cầu hoá kinh tế là một đặc điểm, xu thế
vận động của thế giới.
Toàn cầu hoá kinh tế đang tác động mạnh mẽ đến mọi quốc gia, mọi
lĩnh vực trong đời sống xã hội, nó vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực.
Trước sự tác động đó thế giới biến động đầy phức tạp, vừa hợp tác vừa đấu
tranh, vừa liên kết vừa cạnh tranh, vừa phải có sức mạnh kinh tế, chính trị vừa
có đối sách mềm dẻo để thêm bạn bớt thù…đó là những công việc khó khăn,
vì vậy để phát triển ổn định ,vững chắc đòi hỏi hệ thống chính trị mỗi nước
phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ vững vàng về lập trường, quan điểm
chính trị và năng lực cao đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng đất nước
Đặc điểm tình hình trong nước
Đại hội lần thứ VIII của Đảng đề ra nhiệm vụ chính trị trung tâm hiện
nay là: Tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc CNXH, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Mục tiêu của CNH, HĐH Là xây dựng nước ta thành một nước công
nghiệp có cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản
xuất tiến bộ phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và


15

tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị đó,


văn minh. Bước vào thiên niên kỷ mới, tình hình thế giới biến động phức tạp,
Việt Nam đứng trước những thời cơ, thách thức lớn, đồng thời việc đẩy mạnh
CNH, HĐH để đến năm 2020 đưa nước ta về cơ bản trở thành một nước công
nghiệp, đòi hỏi sự nỗ lực to lớn của toàn Đảng, toàn dân, trong đó trước hết
là đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp mà trực tiếp là đội ngũ cán bộ lãnh đạo
CCXPTT. Vì vậy, yêu cầu hàng đầu hiện nay là phải nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ này một cách toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, cụ thể là:
Yêu cầu về trí tuệ hoá, văn hoá hoá
Đội ngũ cán bộ CCXPTT thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH trong điều
kiện hiện nay cần phải được đào tạo lại, đồng thời phải đặt trong một chế độ
quản lý luôn tạo ra sự kích thích vươn lên để có đủ phẩm chất và năng lực đáp
ứng nhiệm vụ. Mặc dầu trong thực tế vẫn còn một số cán bộ CCXPTT có
trình độ học vấn thấp, song đó chỉ là tạm thời. Xu thế trí tuệ hoá đôị ngũ cán
bộ là tất yếu, người cán bộ dù là cán bộ chính trị, hành chính, kế toán hay
khoa học-kỹ thuật đều phải có trình độ kiến thức và năng lực trí tuệ tốt, có tư
duy sáng tạo, nhạy bén, độc lập. Hiện nay yêu cầu trí tuệ hoá ngày càng cao,
nhưng do quản lý chưa tốt nên nảy sinh một số xu hướng chạy theo bằng cấp
bằng mọi giá, nên bằng cấp nhiều khi không phản ánh đúng trình độ và chất
lượng của người có bằng. Để thực sự có trí tuệ chỉ có thể bằng nỗ lực cá nhân,
đồng thời tạo ra khả năng và thói quen học tập của từng cán bộ, gắn với một
trình độ quản lý mới về cán bộ theo tiêu chuẩn từng loại cán bộ
Văn hoá là phương thức ứng xử văn minh, khoa học, nhân ái và dân
chủ của đội ngũ cán bộ trong mọi mối quan hệ. Văn hoá có vai trò quan trọng
trong CNH, HĐH trong kinh tế thị trường, văn hoá được coi như một giá trị
nội sinh làm cho giá trị kinh tế sản phẩm tăng lên. Người ta coi trọng chất
lượng và hình thức cung cấp. Ai thực hiện được tối đa những yêu cầu trên,
người đó sẽ giành thắng lợi trong thị trường. Yêu cầu văn hoá hoá đòi hỏi
người cán bộ phải có kiến thức liên ngành, kiến thức văn hoá học, nhân loại
học, lịch sử về truyền thống dân tộc để giữ gìn và phát triển

Yêu cầu đồng bộ hoá và tiêu chuẩn hoá từng loại cán bộ
Chất lượng đội ngũ cán bộ trong tình hình hiện nay phụ thuộc vào vấn
đề đồng bộ hoá và tiêu chuẩn hoá từng loại cán bộ.


18

Đồng bộ hoá đội ngũ cán bộ CCXPTT trước hết là xây dựng một cơ
cấu hợp lý, tinh giản đến mức tối ưu hệ thống bộ máy và số lượng cán bộ, xu
hướng điều chỉnh cơ cấu, tổ chức bộ máy tránh sự trùng lặp, chồng chéo về
nhiệm vụ, chức năng nhằm dạt hiệu quả tối ưu là xu thế tất yếu của thời đại.
Chỉ trên cơ sở cấu trúc tối ưu thì mới thực hiện được sự tinh giản tối ưu số
lượng cán bộ. Bàn đến khái niệm tinh giản, chúng ta thường chỉ nhấn mạnh
yếu tố “giản”, hiểu tinh giản bộ máy là làm gọn, làm bớt đi số lượng bộ máy
và số lượng nhân sự mà lãng quên yếu tố “tinh” thì không bao giờ đạt hiệu
quả tinh giản. Yếu tố tinh phải được quan niệm một cách nghiêm túc, cụ thể
thành tiêu chuẩn hoá từng loại cán bộ và đưa ra các chính sách để những
người ưu tú có điều kiện học tập.
Ngoài ra để thực hiện đồng bộ hoá và tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ
phải cải cách hệ thống chính sách theo hướng khuyến khích cán bộ làm việc
có hiệu quả, khuyến khích người tài năng cống hiến.
1.2. Chủ trương xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn
1.2.1.Quan điểm xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị
trấn
Bước vào thời kỳ mới, phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây
dựng Đảng là then chốt. Trong xây dựng Đảng thì “công tác cán bộ là quan
trọng nhất, là khâu then chốt của vấn đề then chốt ”[3, 22]. Trong hệ thống
chính trị nước ta, đội ngũ cán bộ CCXPTT là người trực tiếp lãnh đạo và tổ
chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng ở cơ sở. Vì vậy việc xây
dựng đội ngũ cán bộ CCXPTT vững mạnh góp phần xây dựng nông thôn giàu

đó còn là năng lực biết tập hợp, lôi cuốn mọi người, biết thấu cảm tâm tư,
nguyện vọng của quần chúng, biết phát huy sức dân tạo thành sức mạnh tổng
hợp trong thực hiện nhiệm vụ. Tóm lại, năng lực của người cán bộ CCXPTT
là toàn diện, tổng hợp, được thể hiện bằng hiệu quả thực tế.
Công tâm, tận tụy với dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân là nội
dung quan trọng hàng đầu trong xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và đội
ngũ cán bộ CCXPTT nói riêng. Đây chính là những phẩm chất chính trị của
người cán bộ CCXPTT, đó phải là người có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên
định với mục tiêu và con đường đi lên CNXH, có lòng trung thành tuyệt đối


20

với Tổ quốc và nhân dân, phấn đấu hết mình vì sự nghiệp cách mạng của
Đảng. Nó được thể hiện ở tinh thần trách nhiệm, hiệu quả hoạt động, nói phải
đi đôi với làm, mang lại lợi ích thiết thực cho dân, cho nước, là “công bộc”, là
“đầy tớ” của dân, trung thực, dám đấu tranh cho lẽ phải, công bằng. Người
cán bộ đó còn phải có lối sống chuẩn mực, tận tụy với dân, không tham
nhũng, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, là người cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư.
Trước sự tác động mặt trái của mặt trái kinh tế thị trường, sự chống phá
quyết liệt của kẻ thù, sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của một số bộ phận
cán bộ CCXPTT, cùng với yêu cầu xây dựng nông thôn giàu đẹp, văn minh
thì vấn đề đạo đức của người cán bộ CCXPTT là đòi hỏi bức xúc hiện nay.
*Quan điểm thứ hai: Xây dựng đội ngũ cán bộ theo chức danh, bảo
đảm tính thiết thực gắn với trẻ hoá đội ngũ.
Quan điểm này khẳng định quan phương châm đào tạo, bồi dưỡng
trong xây dựng đội ngũ cán bộ CCXPTT là phải theo chức danh, bảo đảm tính
thiết thực và gắn với trẻ hoá, như Lênin đã nói: “Cán bộ lãnh đạo, quản lý ở
lĩnh vực nào phải có tri thức, có kinh nghiệm trong lĩnh vực ấy” [ 18, 16 17].

quản lý, trong giao tiếp ứng xử, văn hoá trong điều hành công việc, trong sinh
hoạt của bản thân. Đồng thời việc lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và đổi mới
nội dung, chương trình đào tạo phải căn cứ vào thực tế công tác của đội ngũ
cán bộ CCXPTT theo từng chức danh, bảo đảm hiệu quả cao.
Quán triệt quan điểm xây dựng đội ngũ cán bộ CCXPTT còn thể hiện ở
việc thực hiện tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, tức là trên cơ sở nắm vững tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về tiêu chuẩn đội ngũ cán bộ, xuất
phát từ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, chức năng, nhiệm
vụ của từng chức danh trong tổ chức, xuất phát từ thực tế và nhiệm vụ xây
dựng đội ngũ cán bộ CCXPTT để thực hiện tiêu chuẩn hoá các chức danh của
đội ngũ cán bộ CCXPTT. Làm tốt việc đó sẽ tạo cơ sở cho việc xây dựng đội
ngũ cán bộ sát thực tế, đáp ứng nhu cầu thực tiễn.
Đồng thời với xây dựng đội ngũ cán bộ theo chức danh phải gắn với trẻ
hoá, vì đây là yếu tố đảm bảo cho sự phát triển kế tiếp, bền vững của đội ngũ
cán bộ. Đánh giá về vai trò của tuổi trẻ, trong bài diễn văn đọc tại đại hội III


22

Đoàn thanh niên Cộng sản Nga, Lênin đã nói: “nhiệm vụ thật sự xây dựng xã
hội cộng sản chủ nghĩa chính là của thanh niên. Bởi vì rõ ràng là thế hệ những
người lao động được đào tạo trong xã hôi tư bản chủ nghĩa thì giỏi lắm chỉ có
thể giải quyết được nhiệm vụ xây dựng một cơ chế xã hội có khả năng giúp
cho giai cấp vô sản và các giai cấp cần lao giữ lấy chính quyền trong tay và
đặt được một nền móng vững chắc” [16, 354]. Và “thế hệ thanh niên là những
người đã bắt đầu trở thành những người giác ngộ, trong một hoàn cảnh đấu
tranh có kỷ luật và quyết liệt chống lại giai cấp tư sản. Trong cuộc đấu tranh
này, thế hệ đó sẽ đào tạo ra những người cộng sản chân chính”[16, 371]. Hồ
Chí Minh cũng khẳng định: tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.
Quán triệt quan điểm trẻ hoá phải bắt đầu từ khâu quy hoạch, phải “đặc

nay, việc đổi mới cơ chế, chính sách đối với cán bộ là khâu có tính đột phá.
Kinh tế thị trường là nền kinh tế mở và động, đặc trưng của cơ chế thị
trường là tính cạnh tranh, do vậy hệ thống cơ chế, chính sách mới phải tạo
điều kiện cho cán bộ có thể phát huy hết năng lực sáng tạo của mình. Mỗi cán
bộ có quyền thể hiện, khẳng định phẩm chất, năng lực của mình. Đại hội IX
của Đảng chỉ rõ: có cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, trọng dụng người có tài.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BCHTW khoá IX về đổi mới và nâng
cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn nhấn mạnh:
“giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở”[4, 85] Theo
tinh thần đó, chính sách đối với cán bộ CCXPTT phải hướng vào một số vấn
đề sau:
Một là: phát huy dân chủ, tính tích cực năng động, sáng tạo, kích thích
tính tích cực cá nhân, gắn trách nhiệm với quyền lợi, góp phần quan trọng vào
cuộc đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng trong đội ngũ cán bộ hiện nay.
Hai là: phải hết sức linh hoạt, đảm bảo cho việc kích thích tài năng phát
triển, tạo điều kiện cho cán bộ cơ sở có cơ hội thể hiện phẩm chất và năng lực
của mình, cống hiến và phục vụ nhiều hơn cho tổ quốc và nhân dân.


24

Ba là: phải đảm bảo sự công bằng, bình đẳng, tạo điều kiện cho cán bộ
cơ sở có cơ hội thể hiện phẩm chất, năng lực, cống hiến và phục vụ tổ quốc,
nhân dân.
Bốn là: phải kết hợp chặt chẽ giữa vật chất và tinh thần tạo động lực
phấn đấu cho mỗi cán bộ.
Việc đổi mới chính sách cán bộ đối với đội ngũ cán bộ CCXPTT phải
được tiến hành đồng bộ trong tất cả các khâu từ tiền lương, khen thưởng đến
lựa chọn, đào tạo, bố trí, sử dụng và quản lý cán bộ

cán bộ. Lênin chỉ ra: Trong những công nhân và nông dân bình thường có
rất nhiều người “trung thành với quyền lợi của quần chúng lao động và có
khả năng làm công tác cán bộ”[15, 257]. Hồ Chí Minh ngay từ khi cách
mạng mới thành công, Người đã có niềm tin vững chắc vào đồng bào để
lựa chọn cán bộ, Người cho rằng: “Trong số 20 triệu đồng bào chắc không
thiếu người có tài, có đức..các địa phương phải lập điều tra nơi nào có
người tài, đức, có thể làm được những việc ích nước, lợi dân thì báo cáo
ngay cho chính phủ biết”[10, 451]. Đội ngũ đảng viên là tinh hoa của nhân
dân, điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Đảng viên Đảng Cộng
sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiền phong của giai cấp công
nhân Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi
ích của Tổ quốc, của giai câp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi
ích cá nhân, có đạo đức và lối sống lành mạnh
Như vậy, đội ngũ đảng viên và những người có tài, có đức trong dân,
đó là nguồn cán bộ dồi dào, cơ bản của Đảng, của đất nước và từng địa
phương, phải có lòng tin vào họ. Quán triệt quan điểm này chúng ta phải đứng
trên quan điểm quần chúng, thông qua phong trào của quần chúng, đồng thời
quản lý, giám sát chặt chẽ, toàn diện đội ngũ Đảng viên, chỉ có vậy chúng ta
mới có điều kiện phát hiện, lựa chọn, đào tạo được những cán bộ tài năng, đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.
* Quan điểm thứ năm: Dựa vào dân và thông qua hoạt động thực tiễn
ở cơ sở để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, kiểm tra cán bộ.
Quan điểm này thể hiện rõ phương châm gần dân, sát dân, thân
dân trong xây dựng đội ngũ cán bộ CCXPTT của Đảng ta. Gần dân, sát



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status