LÊ XUÂN ĐÀI
ĐẢNH CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO
XÂY DỰNG CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG Ở TÂY
NINH
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ,
CỨU NƯỚC
TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1968
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2008
2
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương
1
3
YÊU CẦU KHÁCH QUAN VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA
ĐẢNG KHÔI PHỤC, PHÁT TRIỂN CĂN CỨ ĐỊA CÁCH
MẠNG Ở TÂY NINH TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1968
11
1.1
36
Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ địa cách mạng ở Tây Ninh
(1954 - 1968)
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
56
84
86
89
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vừa qua đã để lại cho dân tộc ta
nhiều bài học kinh nghiệm quý giá. Một trong những bài học đó là bài học về xây
căn cứ địa cách mạng, hậu phương kháng chiến. Hậu phương là một trong những
nhân tố thường xuyên quyết định thành bại của chiến tranh. Như V.I. Lênin từng
nói: “Muốn tiến hành chiến tranh một cách thực sự phải có một hậu phương được
tổ chức vững chắc”. Tiếp thu học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế
thừa truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc trong quá trình lãnh đạo
kháng chiến, Đảng ta luôn đặt vấn đề xây dựng hậu phương lên hàng quan trọng
bậc nhất, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, nên đã nhân lên
gấp bội sức mạnh của một dân tộc nhỏ bé, kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu, nhưng đủ
sức đánh bại kẻ thù là một cường quốc, có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh nhất thế
giới tư bản. Một trong những chìa khoá tạo nên sức mạnh của chiến tranh nhân dân
Việt Nam chính là vấn đề xây dựng căn cứ địa. Bởi vì, theo quan điểm của Đảng ta;
cứu nước từ năm 1954 đến năm 1968” làm đề tài luận văn tốt nghiệp. Thành
công của đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Do tầm quan trọng của vấn đề hậu phương, căn cứ địa trong chiến tranh, nên
đề tài này đã được sự quan tâm nghiên cứu rộng rãi của các lãnh tụ, tướng lĩnh,
các cơ quan nghiên cứu khoa học và các nhà khoa học từ nhiều năm nay. Tiêu
biểu có các công trình khoa học sau:
Nhóm các công trình mang tính chất tổng kết như: Bộ Quốc phòng Viện Lịch
sử quân sự Việt Nam (1977), Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam 1945 1975, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân Việt Nam, Hà Nội; Ban Chỉ đạo tổng kết
chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước thắng lợi và bài học, bài học kinh nghiệm thứ năm, “Căn cứ địa cách
mạng, hậu phương kháng chiến vững chắc”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
5
Nội; Bộ Quốc phòng (1996), Chiến tranh nhân dân địa phương trong kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Phần bài học kinh nghiệm thứ năm: “Xây dựng
căn cứ, tạo thành thế trận chiến tranh nhân dân địa phương vững mạnh của chiến
tranh nhân dân Việt Nam”, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội; Ban Tổng
kết chiến tranh B2 (1979), Đề cương báo cáo Tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ, tập V
- Mục VIII. Những công trình trên đây đã tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước của dân tộc ta, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm, trong đó vấn đề hậu
phương, căn cứ địa cách mạng, được trình bày dưới dạng bài học kinh nghiệm chứ
chưa đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống, tổng quát.
Ngoài các tổng kết chung, một số căn cứ địa trên địa bàn miền Đông Nam Bộ
cũng được quan tâm nghiên cứu trong các công trình tổng kết như: Lương Văn Nho
(1983), Chiến khu rừng Sác, Nhà xuất bản Đồng Nai; Lê Trí Viễn (1985), Căn cứ
địa An Phú Đông, Đảng uỷ xã An Phú Đông. Các tác phẩm này, trình bày dưới dạng
ký sự, quá trình hình thành phát triển của căn cứ trong quá trình tiến hành cuộc kháng
Vương Hồng (2004) “Vai trò của căn cứ địa kháng chiến qua sự kiện thành lập
Trung ương Cục miền Nam tại Chiến khu Đ, thời kỳ 1961-1962”, Tạp chí Lịch sử
quân sự, số 9; Trần Thị Nhung (1996), Căn cứ Khu uỷ và Bộ chỉ huy Miền trong
chiến tranh chống Mỹ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội; Trần Thị Nhung (1994),
“Vấn đề tổ chức và xây dựng căn cứ đầu não của Trung ương Cục và Bộ chỉ huy
Miền”, Tham luận Hội thảo kỷ niệm 30 năm chiến thắng Bình Giã; Trần Thị Nhung
(1997), “Trận tập kích Tua Hai và vấn đề xây dựng căn cứ địa Bắc Tây Ninh”, Tham
luận Hội thảo kỷ niệm 30 năm đánh bại cuộc hành quân Gian-xơnxi-ti. Các công
trình nêu trên đã trình bày về căn cứ địa dưới góc độ lý luận, giải quyết một số vấn đề
khái niệm về căn cứ địa, các hình thức phát triển từ thấp đến cao của căn cứ địa, nội
dung xây dựng và vai trò của căn cứ địa trong chiến tranh giải phóng và việc vận
dụng nó vào sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng trong giai đoạn cách mạng hiện
nay.
7
Các đề tài khoa học, các luận văn, luận án tiến sỹ, tiêu biểu như: Hồ Sơn Đài,
Căn cứ địa kháng chiến chống thực dân Pháp ở miền Đông Nam Bộ (1945 - 1954),
Luận án phó tiến sỹ Khoa học lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, mã số:
50315, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia - Viện Khoa học Xã hội
Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh; Đề tài này đã nghiên cứu một cách khái quát và
có hệ thống về toàn bộ căn cứ địa miền Đông Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống
Pháp dưới góc độ lịch sử, chứ chưa đi sâu luận giải về chủ trương và sự chỉ đạo của
Đảng trong lãnh đạo xây dựng căn cứ địa cách mạng. Song đây cũng là một công
trình khoa học đem lại những kiến thức bổ ích và những bài học về phương pháp cho
tác giả kế thừa và nghiên cứu luận văn.
Nhóm các bài hội thảo khoa học liên quan trực tiếp đến đề tài. Năm 2002, Bộ
Tư lệnh Quân khu 7 và Tỉnh uỷ Tây Ninh tổ chức hội thảo, Căn cứ địa cách mạng ở
Tây Ninh trong chiến tranh giải phóng (1945 - 1975). Hội thảo đã thu hút được sự
tham gia của nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả viết bài tham luận gồm các bài viết
thương nghiệp vùng căn cứ địa cách mạng của Trung ương Cục miền Nam trong
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”; Lê Đình Sỹ “Một số vấn đề mang tính quy luật
về xây dựng căn cứ địa cách mạng trong chiến tranh giải phóng (1945-1975)”;
Nguyễn Văn Diệu “Mối quan hệ giữa yêu cầu xây dựng và bảo vệ căn cứ địa cách
mạng trong chiến tranh giải phóng (1945 - 1975)”; Phùng Đình Ấm “Mối quan hệ
giữa xây dựng căn cứ địa với xây dựng lực lượng vũ trang tại Tây Ninh trong chiến
tranh giải phóng”; Nguyễn Ngọc Dung “Các mô hình căn cứ địa ở Tây Ninh qua hai
cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ từ góc nhìn đối chiếu”; Hồ Sơn Đài “Vai
trò của căn cứ Dương Minh Châu trong kháng chiến chống Mỹ”; Nguyễn Trung
Thành “Về tác dụng của căn cứ địa Dương Minh Châu trong kháng chiến chống thực
dân Pháp”; Cao Bá Hiền “Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển căn cứ địa cách
mạng ở Tây Ninh”; Lê Thành Tâm “Tìm hiếu khả năng huy động chính trị - tinh thần
9
và vật chất của vùng căn cứ địa cách mạng Tây Ninh trong chiến tranh giải phóng
(1945-1975) và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc ngày nay”. Các bài viết
này tập trung đề cập đến vị trí vai trò của căn cứ địa Tây Ninh, những vấn đề mang
tính quy luật trong xây dựng căn cứ địa, mối quan hệ giữa xây dưng căn cứ với xây
dựng lực lượng vũ trang, vai trò của quần chúng nhân dân trong xây dựng và bảo vệ
căn cứ và việc dụng xây dựng căn cứ địa vào xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh hiện
nay. Đây là nguồn tài liệu chủ yếu để tác giả nghiên cứu làm luận văn.
Có thể nhận thấy rằng, các công trình kể trên đã đề xuất, lý giải khái niệm về
căn cứ địa, chức năng, nội dung hoạt động và vai trò của nó đối với sự nghiệp
kháng chiến của nhân dân ta, những nét lớn về lịch sử hình thành, phát triển và hoạt
động của căn cứ địa cách mạng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ xâm lược cùng một số căn cứ địa cụ thể. Song chưa có một công trình nào
nghiên cứu về Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ địa cách mạng ở Tây Ninh một cách
hệ thống, tổng quát dưới góc độ Lịch sử Đảng. Vì vậy, đề tài luận văn mà tác giả
lựa chọn không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố trước đây và hi
* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, phương
pháp lôgíc và sự kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc là chủ yếu, đồng
thời sử dụng một số phương pháp khác như: Phương pháp thống kê, so sánh, đồng
đại, lịch đại, phân tích tổng hợp để làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu trong đề tài.
6. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn góp phần vào việc làm sáng tỏ sự lãnh đạo đúng đắn sáng tạo của
Đảng trong lựa chọn, lãnh đạo xây dựng căn cứ địa ở Tây Ninh góp phần làm nên
thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Luận văn rút ra những kinh nghiệm về
sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng căn cứ địa làm cơ sở cho việc xây dựng các
khu vực phòng thủ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc hiện nay. Luận văn
có thể làm tài liệu tham khảo trong các nhà trường trong quân đội.
11
7. Kết cấu của luận văn
Mở đầu, 2 chương( 4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục
12
Chương 1
YÊU CẦU KHÁCH QUAN VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG KHÔI PHỤC,
PHÁT TRIỂN CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG Ở TÂY NINH
TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1968
1.1.Yêu cầu khách quan của cách mạng miền Nam khôi phục, phát
triển căn cứ địa cách mạng ở Tây Ninh sau năm 1954
1.1.1. Đặc điểm tự nhiên, xã hội và truyền thống xây dựng căn cứ địa
chống ngoại xâm của Tây Ninh trước năm 1954
Đặc điểm tự nhiên.
quan trọng cho việc thiết lập căn cứ địa của Miền. Nơi đây ta có thể chủ động
trong việc tiến công địch ra các hướng, xâm nhập sâu vào các đô thị ở miền Đông
Nam Bộ, tỏa xuống đồng bằng sông Cửu Long và cũng rất thuận lợi cho việc
ngăn chặn các cuộc tiến công của địch bảo vệ căn cứ.
Đặc điểm về xã hội
Thủ phủ Tây Ninh được thành lập vào thế kỷ XIX, ban đầu gồm 2 huyện: Tây
Ninh và Quy Hoá, sau thêm huyện Phú Khương. Tây Ninh thuộc loại “đất rộng
người thưa”, năm 1921 có 200.000 dân, năm 1972 có 392.840 dân, năm 1975 có
578.000 dân, có nhiều dân tộc cư trú như Kinh, Khơmer, Chăm, Hoa, Mường, Êđê,
Tà Mun…Trong đó người Kinh chiếm 98% dân số. Từ ngày khai khẩn, ruộng đất
Tây Ninh tuy không tập trung lớn như các nơi khác ở Nam Bộ, nhưng qua quá trình
lịch sử với ách áp bức bóc lột nặng nề của phong kiến, thực dân, dần dần những
ruộng đất tốt có vị trí thuận lợi đều thuộc về địa chủ, tư sản, quan chức, sự phân hóa
giàu nghèo ngày càng sâu sắc. Những người nông dân thất thế phải lui vào những
vùng sâu, vùng xa cách trở để làm ăn sinh sống. Nhân dân ở Tây Ninh chủ yếu là
những người nông dân nghèo và tầng lớp giai cấp công nhân ở các đồn điền cao su,
họ là những người bị ách áp bức, bóc lột nặng nề nhất của tư sản và địa chủ và
chính họ là những người hăng hái tham gia vào các phong trào đấu tranh cách
mạng.
14
Truyền thống xây dựng căn cứ địa chống ngoại xâm ở Tây Ninh trước năm
1954
Năm 1858 thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn không
những không phát động quần chúng nhân dân đấu tranh chống giặc ngoại xâm mà
còn bạc nhược cắt 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ dâng cho giặc Pháp (6/1862). Ngoài
ra triều đình còn ra lệnh giải tán các lực lượng kháng chiến của nhân dân ta. Bất
chấp lệnh của triều đình, ở Tây Ninh các lãnh binh không tuân theo lệnh Vua mà
cùng nhân dân lui về các vùng rừng núi lập căn cứ địa chống Pháp. Tiêu biểu lúc
thuận lợi cho các cơ quan của tỉnh chỉ đạo kháng chiến.
Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp Đảng bộ Tây Ninh hết sức coi trọng xây
dựng và phát triển hệ thống căn cứ địa, xác định mỗi huyện đều có căn cứ của mình,
năm 1948 hệ thống căn cứ địa được xây dựng hầu hết ở cấp huyện. Đến năm 1951, Xứ
uỷ và Bộ Tư lệnh Nam Bộ lấy rừng Trà Dơ, Đồng Rùm, Tây Ninh làm căn cứ. Cũng
trong năm 1951 Bộ Tư lệnh Phân liên khu miền Đông đóng ở Chiến khu Đ đã dời về
căn cứ Dương Minh Châu Tây Ninh để tiện việc liên lạc, tiếp tế và chỉ đạo toàn phân
liên khu. Với hệ thống căn cứ địa được xây dựng rộng khắp tạo thế liên hoàn vững
chắc, đã làm biến đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường. Dựa vào căn
cứ địa lực lượng vũ trang ở Tây Ninh không ngừng tiến công tiêu diệt địch, như trận
Bàu Gỗ và trận Thanh Điền 3/1946; trận Phước Thạnh 1947, trận Bến Củi 8/ 1947;
trận Bàu Sen 9/1953 và trận Ôcnel 3/1954; đã làm cho thực dân Pháp những thiệt hại
lớn, góp phần cùng nhân dân cả nước đánh thắng thực dân Pháp xâm lược 1954.
Có thể nói, truyền thống xây dựng căn cứ địa của Tây Ninh đã có từ lâu,
được các thế hệ đi sau kế thừa và phát triển lên cao độ trong vai trò là căn cứ địa
đầu não của cả miền Nam, xây đắp nên một Tây Ninh trung dũng kiên cường
trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Căn cứ địa Tây Ninh đã trở
thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, chỗ dựa và niềm tin cho
quân dân cả miền Nam kiên trì cuộc kháng chiến cho đến thắng lợi cuối cùng, giải
phóng quê hương, thống nhất đất nước.
16
1.1.2. Bối cảnh lịch sử dẫn đến chủ trương tái lập căn cứ địa cách
mạng ở Tây Ninh sau năm 1954
Hiệp định Giơnevơ được ký kết ngày 20/7/1954 đã công nhận độc lập, chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương. Theo quy định của
Hiệp định, tại Việt Nam hai bên sẽ đình chiến và tạm thời lấy vĩ tuyến 17 làm ranh
giới phân chia khu vực kiểm soát. Sau hai năm (tức đến 20/7/1956), Pháp rút khỏi
Việt Nam và hai miền Nam - Bắc sẽ thực hiện Tổng tuyển cử, thống nhất đất nước.
nhân dân: Chợ Được, Vĩnh Trinh, Hướng Điền, Đại Lộc,…“Từ tháng 7 năm 1955
đến tháng 2 năm 1956, Mỹ - Diệm đã giết hại, giam cầm 93.362 cán bộ, đảng viên
và những người yêu nước miền Nam” [39, tr. 22].
Từ tháng 7 năm 1956, Mỹ - Diệm phát động “tố cộng, diệt cộng” giai đoạn 2
nhằm trọng điểm ở Nam Bộ. Rút kinh nghiệm giai đoạn một, lần này hoạt động
“tố cộng, diệt cộng” được thực hiện thâm độc hơn, tinh vi hơn. Cảnh sát và quân
đội ngụy vừa triển khai nhiều chiến dịch đánh phá trên diện rộng để thăm dò, phát
hiện cán bộ cách mạng, vừa tập trung chà xát nhiều lần trên các khu vực được coi
là trọng điểm để “triệt tận gốc, trốc tận rễ” cộng sản, khủng bố bằng vũ lực, vừa
bằng thủ đoạn tâm lý, tinh thần. Cảnh sát, ngụy quân, mật vụ, dân vệ, chỉ điểm...
nhan nhản khắp đường làng, ngõ hẻm để phát hiện những người tình nghi. Nhân
dân bị phân loại để theo dõi, bị kiểm soát chặt chẽ, bị dồn vào các tổ chức “bảo vệ
hương thôn”, “thanh niên cộng hoà”, “phụ nữ liên đới”… Nhằm “dĩ cộng, trị
cộng”. Các gia đình có người thân tập kết hoặc từng đi theo kháng chiến thường
xuyên bị tập trung học tập “tố cộng”, “tẩy não”, bị bắt xé cờ Đảng, xé ảnh Bác
Hồ, phụ nữ bị buộc phải li khai chồng, con, bị ép lấy sỹ quan ác ôn ngụy v.v…
Tất cả các thủ đoạn đều nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân phải sợ hãi,
khủng khiếp mà khuất phục. Một số tỉnh uỷ bị động trước tình hình đã cố gắng
bảo tồn lực lượng bằng cách “phân loại đảng viên” hoặc thực hiện chủ trương
18
“điều lắng” của Xứ uỷ, nhưng chỉ làm lực lượng của Đảng càng bị ít đi hoặc tổn
thất. Đến cuối năm 1957 số đảng viên của miền Đông Nam Bộ chỉ còn 1.950
người so với năm 1954 là (15.355 người) [22, tr. 65].
Trước sự đàn áp giã man của Mỹ – Diệm lực lượng cách mạng miền Nam bị
tổn thất nghiêm trọng, phong trào đấu tranh của quần chúng bị lắng xuống. Từ
thực tiễn tổn thất to lớn của Đảng bộ và nhân dân miền Nam, một yêu cầu khách
quan đặt ra cho cách mạng miền Nam là phải nhanh chóng tái lập căn cứ địa cách
mạng, phát triển lực lượng vũ trang cách mạng, hỗ trợ đấu tranh chính trị chống
vét, cướp bóc của cải, bắn giết nhân dân các vùng căn cứ Dương Minh Châu, Bời
Lời (Tây Ninh), Quân Cao Đài còn lùa dân vùng căn cứ ra núi Bà Đen về các
vùng chúng kiểm soát. Quân ngụy thực hiện việc phá hoại căn cứ cách mạng một
cách cơ bản và chiến lược hơn. Ngay khi vừa đặt chân lên đất cách mạng, quân
ngụy cho xây dựng nhiều đồn bốt sâu trong vùng căn cứ, bố trí các đơn vị bảo an
trấn giữ, lập bộ máy chính quyền ở các thôn, xã (Hội đồng tề), lập các đơn vị dân
vệ địa phương, đưa hàng trăm ngàn dân công giáo di cư từ miền Bắc và một số
dân miền Trung về định cư trong vùng căn cứ dưới hình thức các khu dinh điền
(sau có thêm các khu trù mật); cuối năm 1956, sau khi đã dẹp xong các phe phái
thân Pháp, gồm lực lượng Bình Xuyên, Cao Đài, Hoà Hảo, quân ngụy bước đầu
thiết lập hệ thống đồn bốt, khu dinh điền, hệ thống ngụy quân, ngụy quyền ở các
vùng căn cứ, quân ngụy tiếp tục tiến thêm một bước trong hoạt động phá hoại căn
cứ; mở các con đường mới ngang dọc trong lòng căn cứ để chia cắt, tiện việc
kiểm soát cũng như việc chuyển quân tiến công khi cần. Ở Chiến khu Dương
Minh Châu (Bắc Tây Ninh), địch mở thêm hàng loạt các con đường bộ, còn ở khu
vực Đông Nam Tây Ninh do địa hình sông rạch nhiều nên ngoài việc đắp đường,
địch cho nạo vét các con kênh cũ và đào thêm các con kênh mới để tiện cho việc
lưu thông. Trong việc lập các khu dinh điền và mở đường, Diệm và Nhu công
khai bộc lộ ý định của mình: “Biện pháp xẻ đường, đưa dân vào khu Việt cộng là
20
để dùng dân đẩy cộng sản ra khỏi vùng đất đó. Dinh điền là nơi cung cấp tin tức
tình báo, nơi xuất phát để hành quân, rào chặn xâm nhập” [24, tr. 176].
Trước âm mưu và thủ đoạn của địch, ngày 5/9/1954, hơn một tháng kể từ khi
Hiệp nghị Giơ-ne-vơ có hiệu lực. Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã họp hội nghị
và đề ra nhiệm vụ của Đảng bộ miền Nam. Hội nghị xác định kẻ thù cụ thể trước
mắt của ta là đế quốc Mỹ, hiếu chiến Pháp và tay sai của chúng. Nhiệm vụ của
Đảng ở miền Nam trong giai đoạn hiện nay là lãnh đạo nhân dân miền Nam đấu
tranh thực hiện Hiệp định đình chiến, củng cố hoà bình, thực hiện tự do dân chủ
cơ sở cách mạng vùng căn cứ, bảo vệ ruộng đất mới được cấp cho nông dân.
Bước sang năm 1955 do nhu cầu bảo vệ cán bộ, bảo vệ phong trào cách
mạng, chống bắt bớ cán bộ, cướp bóc tài sản nhân dân. Xứ uỷ chủ trương lập các
đơn vị tự vệ vũ trang, “xây dựng, mở rộng các căn cứ địa cách mạng làm chỗ
đứng chân cho các cơ quan lãnh đạo và lực lượng vũ trang”[8, tr. 41]. Chủ trương
xây dựng lực lượng tự vệ vũ trang tuyên truyền và các căn cứ địa cách mạng đã
hạn chế một phần sự khủng bố của địch, giữ gìn lực lượng cách mạng trong thời
gian đầu và chuẩn bị điều kiện cho việc kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh
vũ trang trong những năm tiếp theo.
Nhìn chung các cố gắng giữ gìn và duy trì các vùng căn cứ của lực lượng
cách mạng chỉ hạn chế được phần nào địch phá hoại căn cứ của ta. Tuy nhiên, sự
tái lập và phát triển của lực lượng vũ trang trên các vùng căn cứ đã cho thấy một
thực tế bức xúc cần phải gấp rút tái vũ trang và khôi phục lại các căn cứ địa cũ.
Chủ trương khôi phục lại hệ thống căn cứ địa đã có trong kháng chiến chống
Pháp, bảo tồn và phát triển lực lượng, chuẩn bị cho cuộc Đồng khởi 1960
Trước những hành động phá hoại Hiệp định Giơnevơ, đàn áp những người
cách mạng và yêu nước của chính quyền Mỹ - Diệm, Nghị quyết Bộ Chính trị
tháng 6 năm 1956 đã đề ra chủ trương cho cách mạng miền Nam, chủ trương chỉ
rõ: Hình thức đấu tranh của chúng ta trong toàn quốc hiện nay là đấu tranh chính
22
trị, không phải là đấu tranh vũ trang, nói như thế không có nghĩa là tuyệt đối
không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định, Nghị quyết xác định:
“Phải củng cố lực lượng vũ trang, nửa vũ trang hiện có, xây dựng căn cứ địa cách
mạng làm chỗ dựa, đồng thời xây dựng các cơ sở quần chúng vững mạnh là điều
kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang”[15, tr.228]. Bộ Chính trị
đã sớm nhìn thấy khuynh hướng phát triển tất yếu của cách mạng miền Nam. Tuy
vậy, trong hoàn cảnh địch đánh phá ác liệt, nhiều cơ sở đảng ở các địa phương đã
không nhận được Nghị quyết này để sớm hành động bảo vệ lược lượng.
Xét về vùng Tây Bắc, tức Chiến khu Dương Minh Châu (Tây Ninh) mở rộng
lên phía bắc, ở đây địa hình có rừng rậm lại bằng phẳng. Rừng của Bắc Tây Ninh
chiếm 2/3 diện tích của tỉnh, nối toàn bộ vùng rừng núi Đông Bắc Campuchia và
hạ Lào. Toàn bộ phía tây tỉnh tiếp giáp Campuchia và hạ Lào, với đường biên giới
dài 232km. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng cách mạng miền Nam
hoạt động và qua lại vùng biên giới. Xây dựng căn cứ lớn ở Bắc Tây Ninh sẽ tiện
cho việc liên lạc vào Nam ra Bắc, lên Lào và sang Campuchia. Căn cứ có rừng
rậm che chở, địa hình bằng phẳng tiện cho việc di chuyển vật chất, cơ động các cơ
quan và đơn vị vũ trang quân đông, súng lớn, lại có thế dựa lưng vào Campuchia.
Việc cung cấp hậu cần cũng thuận lợi do nằm tiếp giáp với hai vựa lúa của bán
đảo Đông Dương đó là đồng bằng sông Cửu Long và Campuchia.
Xét về căn cứ Bời Lời nằm ở phía Đông tỉnh Tây Ninh. Phía Tây giáp với
vùng dân cư của hai huyện Gò Dầu, Trảng Bàng; phía Đông giáp sông Sài Gòn (là
ranh giới của hai tỉnh Tây Ninh và Bình Dương); phía Đông Nam giáp căn cứ Lộc
Thuận (Tây Ninh). Vùng trung tâm căn cứ rộng khoảng 150km 2 và cách Sài Gòn
khoảng 80 km. Căn cứ Bời Lời có thế liên hoàn với vùng rừng núi Chiến khu
Dương Minh Châu. Căn cứ Bời Lời có thế liên hoàn, tiến, lui, công, thủ, có cơ sở
hậu phương vững chắc, các xã xung quanh căn cứ đại đa số là dân chí cốt cách
mạng.
24
Bời Lời có vị trí đặc biệt quan trọng, là “bàn đạp” vùng trung tuyến để các lực
lượng của ta từ phía sau xuyên xuống áp sát vùng ven, tiến công Sài Gòn - thủ đô
ngụy. Ngoài ra, Bời Lời được coi như là vị trí “trung chuyển” của ta từ “R” xuống
miền Tây Nam Bộ và ngược lại. Bởi căn cứ này nằm trên “đường dây nội địa” đi về
hướng quốc lộ 4 (nay là quốc lộ 1) để tiếp cận vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Từ sự phân tích, cân nhắc mọi mặt, Xứ uỷ đặt mục tiêu xây dựng hai vùng căn
cứ Bời Lời và Dương Minh Châu thành căn cứ Miền từ tháng 12/1956. Mặc dù Bời
Lời trước đó là căn cứ của tỉnh, nhưng với vị trí chiến lược quan trọng là cửa ngõ vào
lại với chính sách vũ lực quy mô và chính sách phát xít trắng trợn của địch giữ
vững và phát triển phong trào, Xứ uỷ cần nắm vững đường lối, phương châm,
sách lược của Đảng, hết sức linh hoạt trong chỉ đạo để thích ứng với sự chuyển
biến của tình hình hiện nay, ra sức xây dựng căn cứ địa cách mạng. Chủ trương
nhấn mạnh: “Nam Bộ có thể phải lập căn cứ địa cách mạng để xây dựng và xúc
tiến phong trào cách mạng. Cần phải đặc biệt chú trọng căn cứ miền Đông, nhưng
đồng thời phải củng cố các vùng căn cứ khác ở miền Tây và miền Trung” [16, tr.
516]. Chủ trương còn chỉ rõ: Xây dựng căn cứ là để làm cơ sở vững chắc cho lực
lượng cách mạng, là chỗ ở vững chắc của bộ tham mưu, là nơi đào tạo và giáo dục
cán bộ, xây dựng lực lượng để tiến tới làm nơi trung tâm hoạt động của Mặt trận
dân tộc thống nhất, để nêu cao ngọn cờ giải phóng cứu nước, đánh đổ Mỹ - Diệm.
“Căn cứ càng mở rộng thì uy thế chính trị của ta càng lên cao, càng tạo điều kiện
thuận lợi để đấu tranh chính trị”[19, tr. 516]. Xứ uỷ cần phải đặc biệt chú trọng
nắm công tác này trong khi lãnh đạo cuộc đấu tranh chính trị chung của toàn dân
và phải coi việc xây dựng căn cứ là một nhiệm vụ rất quan trọng hiện nay để bảo
vệ và đẩy mạnh phong trào cách mạng tiến lên.
Quán triệt chủ trương của Ban Bí thư. Tháng 11 và tháng 12 năm 1959,
Xứ uỷ Nam Bộ họp bàn thực hiện Nghị quyết 15. Nghị quyết xác định đẩy