LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM LÃNH đạo xây DỰNG đội NGŨ TRÍ THỨC từ năm 1991 đến năm 2001 - Pdf 38

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
----------o0o-----------

TRẦN TRUNG TÂM

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2001

NGÀNH LỊCH SỬ
LUẬN VĂN CỬ NHÂN

CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60 22 56 01

1


MỞ ĐẦU
1. lý do chọn đề tài.
Trong quá trình lịch sử xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, nhất là từ
khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời (1930), dưới sự lãnh đạo của đảng đội ngũ trí
thức luôn được phát huy, có vai trò to lớn, đóng góp nhiều công sức, trí tuệ cho
sự ngiệp cách mạng dân tộc.
Các nhà kinh điển đã từng dự báo: tri thức khoa học sẽ trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp, chuyển sang nền kinh tế tri thức thì vai trò của đội ngũ trí thức
ngày càng quan trọng. Phát huy nguồn lực tri thức là xu thế của thời đại, là chiến
lược phát triển của các quốc gia. Sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại
hoá của nước ta nhằm từng bước phát triển kinh tế tri thức đòi hỏi phát huy hơn
nữa vai trò to lớn của đội ngũ tri thức trên tất cảc các lĩnh vực của đời sống xã
hội.
Trong công cuộc đổi mới đất nước đội ngũ trí thức có vai trò quan trọng công tác

Nhóm đề tài các đề tài nghiên cứu luận giải về vị trí, vai trò,đặc điểm và
động lực sáng tạo của đội ngũ trí thức trong quá trình cách mạng có các công
trình: “Vị trí vai trò của tầng lớp trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam của Phạm Việt Dũng, luận án PTS triết học, Hà Nội, 1988. “Vai
trò của trí thức trong sự nghiệp đổi mới của Hà Học Trạc, Tạp chí Khoa học và
Tổ quốc, số 1, 1994
Nhóm các công trình nghiên cứu về vấn đề đội ngũ trí thức trong quân
đội đã có: “Mấy ý kiến về đội ngũ trí thức quân đội ta hiện nay” của Nguyễn
Hữu An, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 4, 1994. “Tăng cường đội ngũ trí
thức khoa học xã hội và nhân văn trong lực lượng vũ trang nhân dân ta của
Lê Hồng Quang, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 9, 1994. Phát huy nguồn
lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự trẻ trong xây dựng Quân đội nhân dân
Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Minh Thắng, luận văn thạc sĩ chủ nghĩa xã
hội khoa học, Hà Nội, 2001.
Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng, chưa có một công trình
nào nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong công cuộc đổi mới từ năm
1991 đến năm 2001.
Các công trình khoa học trên là nguồn tư liệu quý để tác giả kế thừa và phát
triển trong quá trình thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Luận giải làm sáng tỏ quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong công cuộc đổi mới từ năm 1991

3


đến năm 2001. Trên cơ sở đó rút ra kinh nghiệm nhằm phát huy hơn nữa vai trò
của đội ngũ trí thức trong thời kỳ mới.
Nhiệm vụ:


Gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục.
Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ
TRÍ THỨC TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2001

1.1. Yêu cầu khách quan xây dựng đội ngũ trí thức trong công cuộc đổi mới
1.1.1 Vị trí vai trò của đội ngũ tri thức trong lịch sử Việt Nam
* Tri thức và đội ngũ tri thức.
+ Tri thức:
Thuật ngữ “Tri thức” được sử dụng trên nhiều quốc gia khác nhau và có
nguồn gốc từ tiếng la tinh: “Inteuientia” là tri thức, trí lực cũng có nghĩa là
thông minh, hiểu biết.
Thuật ngữ này chủ yếu dùng để chỉ những người có học vấn cao trong xã hội.
ở mỗi quốc gia và trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể thì cách tiếp cận
trí thức và quan điểm về trí thức cũng không giống nhau, hiện nay trên thế
giới có khoảng 60 định nghĩa về “Trí thức” theo định nghĩa trong đại từ điển
bách khoa Xô viết: “Trí thức là tầng lớp xã hội của những người làm nghề
nghiệp bằng lao động trí óc, chủ yếu là lao động phức tạp, sáng tạo,là phát
triển và phổ biến văn hoá”. Trong từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học: “
Trí thức – một nhóm xã hội bao gồm những người chuyên làm nghề lao động
trí óc phức tạp và có học vấn chuyên môn cần thiết cho ngành lao động đó”.
Trong từ điển triết học viết: “ Trí thức – tập đoàn xã hội gồm những người
làm nghề lao động trí óc. Giới tri thức bao gồm: kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy
thuốc, luật sư, nghệ sỹ, thầy giáo và những người làm công tác khoa học,
một bộ phận lớn viên chức”.

5




Vì vậy họ phải là những người có trí tuệ, có năng lưc sáng tạo, có trình
độ học vấn cao và chuyên môn sâu nhất định. Trình độ học vấn ấy đòi hỏi tới
mức nào là tuỳ thuộc vào thời đại, vào điều kiện kinh tế - xã hội và văn hoá
của mỗi quốc gia dân tộc. Ngày nay người ta đã có bản thống nhất rằng,để có
khả năng trở thành trí thức phải có trình độ học vấn ít nhất là cao đẳng, đại
học. Họ có được học vấn phần lớn là được đào tạo từ các trường đại học, cao
đẳng tuy nhiên cũng có một số người tự học mà hình thành nên.
Học vấn, bằng cấp chỉ là một dấu hiệu, một điều kiện cần chứ chưa đủ
để trở thành trí thức. Vì nhiều khi bằng cấp không tương xứng với trình độ
vốn có, ngay cả những người trình độ học vấn cao với nhiều bằng cấp
nhưng vẫn không đóng vai trò của trí thức do họ không vươn tới mức độ lao
động kiểu trí thức. Ngược lại có những người không có bằng cấp nhưng tự
học hỏi vươn lên có được trí thức cần thiết và đảm nhiệm được nhiệm vụ của
người trí thức, tham gia lao động sáng tạo như: nghiên cứu khoa học, sáng
tác văn học-nghệ thật, giảng dạy, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận,
nghiên cứu ứng dụng khoa học nên đã trở thành trí thức, thậm chí còn trở
thành nhà trí thức lớn. Do vậy,điều chủ yếu nhất để nói lên trí thức khác với
bộ phận lao động xã hội khác là ở kiểu lao động của họ. đó là lao động trí óc,
lao động sáng tạo khoa học.
Lao động sáng tạo của tri thức được thực hiện trên nhiều lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội.
Sản phẩm lao động sáng tạo cũng rất đa dạng phong phú,mang tính kế
thừa nhưng không lặp lại và có giá trị xã hội, những sản phẩm lao động sáng
tạo là những giá trị tinh thần.nó được sáng tạo ở trình độ tuy duy lý luận,là
một nấc thang mới của nhận thức mang tính khoa học chứ không dừng lại ở
mức kinh nghiệm,là sự phản ánh sâu sắc hơn bản chất của sự vật hiện tượng.
Trí thức chân chính phải là người thực học, để có thực lực và thực tài,
có năng lực tự đào tạo một cách chủ động, sáng tạo có cấu trúc nhân cách

Trí thức được xem là một bộ phận tinh hoa của xã hội mà thời đại nào
cũng cần đến và luôn được đánh giá rất cao.

8


Các nhà kinh điển đã đề cập đến rất nhiều về đội ngũ trí thức và vai trò
của trí thức trong sự nghiệp cách mạng, đây cũng là động lực quan trọng
thúc đẩy sự phát triển sự phát triển của xã hội loài người,đặc biệt là trong sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa
học quan niệm trí thức là một “tầng lớp xã hội đặc biệt”, gồm những người
“có học thức” và “ lao động trí óc”, những người có khả năng lao động độc
lập, sáng tạo.
Trong cơ cấu xã hội, trí thức “ Không hợp thành một giai cấp độc lập về
kinh tế”, không có hệ tư tưởng riêng và địa vị kinh tê-xã hội độc lập, song ở
bất kỳ chế độ nào trí thức cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng
và truyền bá hệ tư tưởng, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, trang bị trí
thức khoa học ,văn hoá, nâng cao dân trí trong xã hội. Tuy nhiên, việc sử
dụng và phát huy vay trò của trí thức như thế nào còn tuỳ thuộc vào bản chất
của chế độ chính trị, xã hội và bị quy định bởi các đặc điểm về kinh tế,
truyền thống văn hoá, lịch sử…của mỗi xã hội cụ thể, vào thái độ, chủ
trương chính sách với khoa học và trí thức của giai cấp cầm quyền.
Trong xã hội tư bản,khoa học và đội ngũ trí thức cũng trở thành đối
tượng bị bóc lột làm công cụ để làm tăng thêm lợi nhuận cho giai cấp tư sản.
trong tuyên ngôn của đảng cộng sản C.Mác và ph Ăngghen chỉ rõ: “ Giai cấp
tư sản tước hết hào quang thần thánh của tất cả những hoạt động xưa nay vẫn
được trọng vọng và tôn sùng. Bác sĩ, luật gia, tu sĩ, thi sĩ, bác học đều bị giai
cấp tư sản biến thành những người làm thuê được trả lương của nó”. Phân
tích địa vị thân phận của tầng lớp trí thức dưới chủ nghĩa tư bản, Lênin viết:
“người trí thức không phải là người tư sản,và họ còn bắt buộc duy trì mãi

đến những người vô sản tiên tiến nhất về mặt trí thức, những người vô sản
này sau đó đem chủ nghĩa xã hội đưa vào cuộc đấu tranh của giai cấp vô
sản…” thực tiễn cho thấy Mac, Ăngghen, Lênin và rất nhiều nhà hoạt động
cách mạng vốn là những trí thức đã dành cả cuộc đời phấn đấu, hy sinh vì lý
tưởng xã hội chủ nghĩa,vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và nhân loại, đóng

10


vai trò có ý nghĩa quyết định trong việc nghiên cứu lý luận, truyền bá hệ tư
tưởng tiên tiến, nâng cao tính tự giác cách mạng trong các tầng lớp nhân dân.
Không chỉ trên lĩnh vực nghiên cứu, phát triển lý luận, truyền bá hệ tư
tưởng tiên tiến, trí thức còn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong các lĩnh
vực phát triển khoa học, giáo dục mở mang văn hoá, nâng cao dân trí. Chủ
nghĩa xã hội rất cần trí thức, cần phát triển khoa học, đồng thời tạo mọi điều
kiện để đội ngũ trí thức phát huy vai trò của mình.
Trong thư gửi đại hội quốc tế các sinh viên xã hội chủ nghĩa đề ngày
19/12/1893 Ph Ăngghen viết “Sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân còn
cần phải có bác sĩ, kỹ sư, nhà boá học…và các chuyên gia khác, vì vấn đề là
phải nắm lấy việc quản lý không phải chỉ bộ máy chính trị mà còn toàn bộ
nền sản xuất xã hội nữa…”
Tư tưởng coi trọng khoa học, coi trọng trí thức nhân loại đã được Lênin
nhấn mạnh khi nói chuyện với thế hệ trẻ, Lênin đã từng viết: thật là sai lầm
khi nghĩ rằng chỉ cần thấm nhuần những khẩu hiệu cộng sản, những kết luận
của khoa học cộng sản,chứ không cần phải thấm nhuần tổng số những kiến
thức mà chính bản thân chủ nghĩa cộng sản cũng là kết quả…người ta chỉ có
thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu
biết tất cả những kho tàng trí thức mà nhân loại đã tạo ra.
Theo Lênin,nếu không có một nền học vấn hiện đại, không có trí thức
thì chủ nghĩa cộng sản vẫn chỉ là một nguyện vọng mà thôi. Để có trí thức,

càng làm chủ được thiên nhiên,cũng như làm chủ được vận mệnh của xã hội
và của bản thân mình. Hồ Chí Minh yêu cầu phải biết vận dụng những thành
tựu của khoa học mà loài người đạt được nhằm thiết thực giải quyết các vấn
đề do cách mạng nước ta đề ra và trong một thời gian không xa, đạt những
đỉnh cao của khoa học và kỹ thuật. Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa
Mac-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo cách mạng,
nhất là khi đất nước bước vào xây dựng CNXH,đảng ta đã có một số nghị
quyết chuyên đề để nhằm phát triển khoa học công nghệ và xây dựng đội
ngũ trí thức.

12


Đặc biệt trí thức có vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển lực
lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế-xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng
nói: Chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học, chắc chắn sẽ đưa loài người đến
hạnh phúc vô tận. Trong thời đại ngày nay, khoa học mà chủ thể quan trọng
là trí thức đã trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp,do đó lao động trí óc
cũng là lực lượng sản xuất trực tiếp. Trước đây trong dân gian có câu: Nhất
sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông lại nhất nông nhì sĩ. điều đó xuất phát từ quan
niệm cho rằng chỉ có người nông dân mới thực sự làm ra lúa gạo nuôi sống
con người, cũng như người nông dân cho ta vải vóc và vật phẩm khác,còn
người trí thức tuy được trọng vọng, nhung nhìn chung họ chỉ là loại “dài
lưng tốn vải, ăn no lại nằm”. vị trí vai trò người trí thức và đội ngũ trí thức
tuy rất quan trọng nhưng không phải trong lĩnh vực sản xuất vật chất. Ngày
nay suy nghĩ đó đã lỗi thời nhưng không phải ai cũng thấy được vị trí, vai trò
của trí thức trong việc sản xuất ra của cải vật chất như một lực lượng sản
xuất trực tiếp.
Trong những năm gần đây với sự phát triển vượt bậc của khoa học công
nghệ thì công nghiệp trí thức đã ra đời và giữ vai trò quyết định, nó giữ vai

với nhân dân, giàu lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có chí khí và hoài
bão lớn là trách nhiệm của đảng nhà nước.
trí thức chỉ thực sự có vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta khi họ là lực lượng và nền tảng trong khối
đại đoàn kết gắn bó dân tộc. Sự gắn bó giữa họ với công nhân và nông dân
không phải là một đồng minh chiến thuật mà thực sự là người đồng hành
trong sự nghiệp xây dựng đất nước ta vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghiã.
Trí thức còn có vai trò vô cùng quan trọng sáng tạo văn hoá, giữ vững
nền tảng tinh thần của xã hội, phát huy bản sắc dân tộc trong công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.

14


Nói đến sáng tạo văn hoá là nói đến nhiều mặt của cuộc sống xã hội
như: tư tưởng, đạo đức, giáo dục, khoa học, nghệ thuật…
Viên kiện hội nghị lần thứ V BCH TW ( Khoá VIII) đã nhấn mạnh: xây
dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do đảng lãnh đạo, trong
đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng. Tuy nhiên không chỉ trí thức mới
biết sáng tạo văn hoá mà còn có nhiều lực lượng khác,của mọi quần chúng
nhân dân. với vai trò và đặc trưng riêng của mình, bằng lao động trí tuệ
mang tính chất chuyên nghiệp của mình, đội ngũ trí thức sáng tạo ra những
sản phẩm tinh thần như những phát minh khoa học, những sáng tác văn học,
nghệ thuật…tạo nên diện mạo nền tảng tinh thần của xã hội, góp phần quan
trọng vào việc định hướng tư tưởng, xây dựng đạo đức lối sống, phát triển
đời sống văn hoá, xã hội. Mặt khác, với tư cách là một lực lượng sản xuất
trưc tiếp, đội ngũ trí thức cũng tham gia lao động sáng tạo ở bình diện văn
hoá vật thể hay văn hoá sản xuất. đó là hai mặt không thể thiếu, không thể
xem nhẹ mặt nào. tuy nhiên ở đây chỉ nói đến vị trí, vai trò của trí thức trong

nghệ thuật, trong công trình khoa học…người trí thức chuyển hệ tư tưởng
thành nền tảng tinh thần của xã hội.đó là con đường phổ biến tuyên truyền và
giáo dục hệ tư tưởng, học thuyết chủ nghĩa Mac-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh cũng như nhân sinh quan và thế giới quan mới cho nhân dân.
Trong sáng tạo văn hoá, đạo đức thì người trí thức không chỉ giữ cho
mình có phẩm chất đạo đức theo quan điểm mới của đảng mà còn có trách
nhiệm trong việc giữ vững nền tảng đạo đức xã hội. Bên cạnh đó trí thức
Việt nam còn có trách nhiệm bảo vệ truyền thống văn hoá, đạo đức dân tộc,
phê phán hiện tượng vô văn hoá về đạo đức và sự định hướng giá trị lệch lạc.
Trong sáng tạo văn hoá, xây dựng con người Việt nam mới giàu trí năng
văn hoá trí thức đóng vai trò quan trọng nhất. Cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ sẽ tạo điều kiện cho đất nước ta đi vào công nghiệp hoá, hiện đại
hoá với tốc độ nhanh hơn với phương thức khác hơn so với các nước đã trải
qua con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

16


Vai trò của trí thức trong lãnh đạo và quản lý đất nước, điều hành sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nói đến vai trò của trí thức trong vấn
đề này hoàn toàn không có nghĩa là coi trí thức như một tầng lớp xã hội đứng
ngoài hoặc đứng cao hơn người lãnh đạo và quản lý đất nước.
Khi phê phán quan điểm xem trí thức như một giai cấp thì đồng thời
cũng cần phê phán quan điểm coi trọng trí thức như một giới thượng đẳng
đứng ngoài hoặc đứng trên các giai cấp xã hội. trí thức cũng chỉ là những con
người bình thường trong nhân dân, họ có thể tham gia sản xuất như một công
nhân thực thụ, họ cũng có thể là nhà bác học nhờ những sáng tạo văn hoá có
giá trị của mình. đương nhiên họ cũng có thể trở thành nhà lãnh đạo, thậm
chí là người lãnh đạo cao nhất nắm nhiều quyền lực trong tay.
Người trí thức vốn có mặt ở mọi lĩnh vực của cuộc sống và trong thực tế

và sự hiểu biết của những người quản lý đất nước đủ tầm trí tuệ để đảm
đương tốt được trách nhiệm của mình phụ trách mà chúng ta thường gọi là trí
thức hoá.
Tóm lại, trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước không
thể không quan tâm đến việc xây dựng và củng cố đội ngũ trí thức, họ là một
lực lượng xã hội quan trọng , có vai trò trên nhiều lĩnh vực cuộc sống, đặc
biệt trên lĩnh vực phát triển văn hoá, xây dựng nền tảng tinh thần của xã
hội,cùng với đó trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ phát triển
nhanh như hiện nay, muốn phát triển nhanh và bền vững, muốn tăng trưởng
kinh tế của đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước ngoài
việc quan tâm xây dựng đội ngũ trí thức còn phải bằng nhiều cách trí thức
hoá đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trí thức hoá đảng, trí thức hoá
công, nông.
Tong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc trí thức cũng có vai trò quan trọng, đây
vừa là lực lượng tiên phong trong việc nghiên cứu áp dụng các tiến bộ khoa
học kỹ thuật công nghệ quân sự vào phục vụ cho quốc phòng, bên cạnh đó trí
thức còn là lực lượng đông đảo có mặt ở mọi nơi phản ánh những vấn đề

18


nóng bỏng của nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, góp phần định hướng, đề xuất các
giải pháp cho đảng và nhà nước trong nhiệm vụ quốc phòng an ninh.
1.1.2 thực trạng đội ngũ trí thức trước năm 1991 và yêu cầu xây dựng
đội ngũ trí thức trong giai đoạn mới.
Trải qua hơn nữa thế kỷ, từ cách mạng tháng 8.1945 đội ngũ trí thức
nước ta phát triển rất nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng. Ngày nay trí thức
có mặt trong hầu hết các lĩnh vực hoạt động của toàn xã hội. trí thức không
những công tác trong ngành giáo dục, văn hoá, khoa học mà còn tham gia
ngày càng nhiều vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… số trí làm

lượng cách mạng. từ quan điểm này Đảng ta đã có những chính sách đúng
đắn nên đã đoàn kết, tập hợp được một đội ngũ trí thức đông đảo, gắn bó với
nhân dân, với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, góp phần tích cực
vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Thấy rõ vị trí vai trò của trí thức
đối với cách mạng, ngay sau cách mạng tháng 08/1945, Chủ Tịch Hồ Chí
Minh đã trình bày quan điểm của đảng:những người trí thức tham gia cách
mạng,tham gia kháng chiến rất quý báu cho đảng, không có những người đó
thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều. Người đã trực tiếp tìm chọn
người tài, có đức trong giới trí thức và tin cậy giao cho họ nhiều nhiệm vụ
quan trọng.
Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) Đảng ta xác định rõ vị
trí của trí thức trong khối liên minh giữa giai cấp công dân với nông dân và
tầng lớp trí thức: “ Trong cách mạng dân tộc dân chủ, vai trò giới trí thức đã
quan trọng, trong xây dựng CNXH, vai trò của giới trí thức ngày càng quan
trọng, giai cấp công nhân nếu không có đội ngũ trí thức của mình và nếu bản
thân công nông không được nâng cao kiến thức, không dần dần được trí thức
hoá, thì không thể xây dựng CNXH “………………”. Có thể khẳng định
rằng, từ trong đường lối cách mạng đến hoạt động thực tiễn, Đảng và Nhà
nước ta đều có sự nhất quán trong việc đánh giá vị trí , vai trò của trí thức
trong sự nghiệp cách mạng và xây dựng đất nước.

20


Chính sách của Đảng và nhà nước trước sau như một coi trí thức là một
lực lượng cách mạng.
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng ở lúc này hay lúc khác cũng có người
chưa thực sự thấy hết vị trí, vai trò của trí thức đối với cách mạng. nhất là
trong những lúc cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, nhiều chính sách đối
với trí thức tỏ ra không còn thích hợp nữa, không tạo được động lực để phát

văn hoá, khoa học kỹ thuật của công nông, đào tạo những trí thức xuất thân
từ công nông là rất cần thiết để nâng cao giá trị, hàm lượng trí tuệ trong sản
phẩm lao động, dich vụ. Đối với nước ta, trí thức hoá công nông còn có tác
dung củng cố khối liên minh chiến lược công- nông- trí, đảm bảo cho đất
nước phát triển theo định hướng XHCN. Tuy nhiên những năm gần đây việc
bồi dưỡng nâng cao trình độ cho công nhân gặp nhiều hạn chể, khó khăn vì tỉ
lệ công nhân có học vắn thấp còn cao, tỉ lệ sinh viên là công nhân, nông dân
còn hạn chế. Nguyên nhân căn bản là do trong tình hình mới, Đảng chưa có
chiến lược kịp thời và đồng bộ để bồi dưỡng giai cấp công nhân, nông dân;
chính sách ưu đãi với học sinh, sinh viên là công nông còn chưa hợp lý.
* Về chế độ đãi ngộ vật chất đối với trí thức
Do chưa nhận thức rõ giá trị của lao động trí tuệ trong thời đại thông tin,
không thấy đầy đủ vai trò, chức năng, ngiệm vụ của trí thức trong sự nghiệp
CNH, HĐH nên khi hoạch định chính sách chỉ xem trí thức cũng như công
chức bình thường. Do vậy, lương của trí thức còn thấp. Tuy nhiên, tại Hội
nghị TW 2 (khoá VIII) Đảng đã có Nghị quyết 02/NQ – HNTW (khoá VIII)
chỉ tính riêng lương của giáo viên được xếp vào bậc cao nhất của thang
lương hành chính, còn các bất hợp lý trong chế độ lương của trí thức vẫn
chưa được khắc phục.
Với chế độ lương và phụ cấp nghề nghiệp hiện nay, chỉ một số ít nhà
khoa học, nhà văn hoá có trình độ cao, có đề tài nghiên cứu, có điều kiện hợp
tác với nước ngoài mới có mức sống bình thường. Do vậy, rất đông lực
lượng tri thức phải xoay xở bằng mọi cách để cải thiện cuộc sống, cũng do

22


vậy mà chưa thật tâm huyết với nghề nghiệp, trình độ chuyên môn xuống
cấp, đạo đức nghề nghiệp bị xói mòn, một số ít bị tha hoá không làm đúng
vai trò trí thức của mìn. Điều này đòi hỏi phải có sự thay đổi căn bản chế độ

tư tưởng để phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mình.
Trong thời gian qua, các xử lý cụ thể đối với một số trường hợp đã gây
nhiều băn khoăn, mặc cảm đối với không ít trí thức. Nhiều trí thức chưa
mạnh dạn thẳng thắn trình bày ý kiến, quan điểm, nhất là khi họ thấy ý kiến
của mình khác với quan điểm của Đảng. Trong các cuộc đấu tranh tư tưởng,
không ít cán bộ khoa học xã hội đã không bộc lộ suy nghĩ, tư tương của
mình. Họ đã không có điều kiện làm tốt chức năng sáng tạo của mình, đồng
thời không làm được một chức năng cũng rất cơ bản của người trí thức là
phê bình xã hội, nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ văn minh” mà Đảng ta đã đề ra.
Trong các đề tài nghiên cứu, các công trình khoa học về cơ bản vẫn theo
cơ chế giao nhiệm vụ nghiên cứu, không qua đấu thầu tuyển chọn, hoặc đấu
thầu một cách hình thức gây bất bình trong cán bộ khoa học.
* Về chính sách cơ chế quản lý hoạt động khoa học, công nghệ và văn
hoá.
Công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ và văn hoá
tuy đã có những đổi mới nhất định nhưng vẫn còn nhiều dấu ấn của đường
lối quản lý hành chính, quan liêu bao cấp. Chính sách của Nhà nước đối với
người tài chưa thật rõ ràng, đồng bộ. Phần lớn các đơn vị nghiên cứu, hành
chính sự nghiệp chưa có chính sách đối với người tài, bởi vậy người thực tài
vươn lên rất khó khăn. Đồng thời, Nhà nước cũng thiếu những cơ chế đủ
mạnh để chuyển những người không có khả năng nghiên cứu sang làm công
việc khác thích hợp hơn, cơ chế hiện nay vẫn còn chỗ đứng cho người làm
việc cầm chừng, dung túng cho người lười biếng. Đầu tư cho nghiên cứu vẫn
mang tính bình quân, cào bằng. Hiện nay, không ít chính sách và cơ chế
quản lý hoạt động khoa học và công nghệ đã trở nên lạc hậu, đang cản trở
hoạt động sự phát triển của đội ngũ trí thức. Nhiều văn bản còn lạc hậu và

24


tạo là lĩnh vực có đội ngũ trí thức đông đảo nhất. Chỉ tính riêng giáo viên
trực tiếp giảng dạy ở cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông, các trường

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status