LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM LÃNH đạo GIẢI QUYẾT mối QUAN hệ GIỮA PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP GIAI đoạn 1986 1996 - Pdf 39

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp và công nghiệp là hai ngành kinh tế cơ bản của xã hội, tuy
mỗi ngành có vai trò, vị trí khác nhau, nhưng giữa chúng có quan hệ chặt chẽ,
tạo điều kiện thúc đẩy nhau phát triển. Theo quan điểm của Mác, mối quan hệ
giữa hai ngành nông nghiệp và công nghiệp là một “tất yếu thép” bảo đảm
cho tái sản xuất xã hội.
Mối quan hệ giữa hai ngành nông nghiệp và công nghiệp liên quan trực
tiếp tới quá trình tái sản xuất xã hội, cho nên việc Đảng ta lãnh đạo giải quyết
mối quan hệ giữa hai ngành đó có một ý nghĩa hết sức to lớn trong hoạt động
kinh tế – xã hội ở nước ta. Nếu giải quyết đúng mối quan hệ đó sẽ bảo đảm
cho quá trình tái sản xuất xã hội được thực hiện, nền kinh tế phát triển, ngược
lại nếu lãnh đạo giải quyết không đúng sẽ kìm hãm, thậm chí “phá hoại” quá
trình tái sản xuất xã hội và nền kinh tế không phát triển được.
Thực tế quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng phát triển kinh tế nói chung,
lãnh đạo giải quyết mối quan hệ giữa phát triển hai ngành nông nghiệp và
công nghiệp ở nước ta nói riêng trong thời gian qua, đặc biệt trong 10 năm
đầu của thời kỳ đổi mới (1986 –1996) đã giành được nhiều thành tựu to lớn,
rất quan trọng. Bên cạnh đó còn tồn tại nhiều khuyết điểm, yếu kém, có nhiều
vấn đề cần tổng kết, đúc rút kinh nghiệm cả về lý luận và thực tiễn. Nhưng
cho đến nay chưa có công trình khoa học nào đề cập và nghiên cứu một cách
đầy đủ, hệ thống vấn đề đó, nhất là dưới góc độ bộ môn Lịch sử ĐCSVN.
Với ý nghĩa trên, tôi chọn đề tài: “Đảng Cộng sản Việt nam lãnh đạo
giải quyết mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và phát triển công
nghiệp từ 1986 đến 1996” làm luận văn Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch
sử Đảng Cộng sản Việt nam. Đề tài có ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài


Từ khi cả nước bước vào TKQĐ lên CNXH, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta từng bước thu được những thành

cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Công trình khoa
học “Có một Việt Nam như thế, đổi mới và phát triển” do GS. TS Trần Nhâm
chủ biên, Nxb CTQG xuất bản năm 1997, nghiên cứu sự phát triển nhanh
chóng của cách mạng nước ta, đặc biệt là sự phát triển hai ngành nông nghiệp
và công nghiệp sau 10 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng. Công trình
khoa học mang tính chất tổng kết của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh năm 1996 nghiên cứu tổng kết sự phát triển của “Nông thôn Việt Nam
sau 10 năm đổi mới”. Ngoài ra còn một số công trình khoa học, bài viết khác
đề cập tới một số vấn đề có liên quan tới đề tài nghiên cứu mà tác giả tham
khảo, kế thừa như: “Đổi mới để tiến lên” gồm 2 tập của cố Tổng Bí thư
BCHTƯ Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Nxb Sự thật, H.1988
và 1999, “Về công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của nguyên Tổng Bí
thư BCHTƯ Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười, Nxb CTQG năm 1995. “Về
cơ cấu công – nông nghiệp hợp lý” của Hoàng Lê, Nxb Thông tin Lý luận,
xuất bản năm 1986, “Suy nghĩ về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta –
một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của GS.TS Ngô Đình Giao, Nxb CTQG,
xuất bản năm 1996 “Công cuộc đổi mới với sự phát triển nhận thức về con
đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986 –
1994)” luận án PTS của Đoàn Ngọc Hải, Học viện Chính trị Quốc gia năm
1995, “Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam trong thời kỳ đổi mới
đất nước” của PTS Nguyễn Trọng Phúc, Nxb CTQG, xuất bản năm 1998;
“Quá trình phát triển công nghiệp ở Việt Nam, triển vọng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước” của Nxb KHXH, xuất bản năm 1994. Những công
trình khoa học trên đã làm rõ yêu cầu khách quan phải tiến hành đổi mới, nội
dung cơ bản mà đường lối đổi mới trong đó đi sâu về đổi mới kinh tế, nhưng
chưa tập trung làm rõ mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và công
nghiệp ở nước ta. Nhưng đó là các tài liệu, tư liệu quý tác giả vận dụng kế
thừa vào trong quá trình xây dựng luận văn của mình.



nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của ĐCSVN,
về mối quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp, lý luận về xây dựng và phát
triển kinh tế trong TKQĐ lên CNXH, lý luận về CNH, HĐH.
- Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn là: phương pháp lịch sử và
phương pháp lôgíc và sự kết hợp hai phương pháp đó. Ngoài ra còn sử dụng một
số phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, đối chiếu so sánh và thống kê...
6. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả đạt được của luận văn góp phần vào việc tổng kết quá trình
Đảng lãnh đạo giải quyết mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và phát
triển công nghiệp trong thời kỳ đổi mới từ 1986 đến 1996. Khẳng định tính
đúng đắn sáng tạo của Đảng. Góp phần xây dựng, củng cố lòng tin cho cán
bộ, chiến sĩ trong quân đội và quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng
trong quá khứ, hiện tại, tương lai. Đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh trên
mặt trận tư tưởng, lý luận chống lại các luận điệu phản động sai trái của các
thế lực thù địch nhằm xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của ĐCSVN, phủ
nhận con đường đi lên CNXH ở nước ta.
Luận văn là tài liệu nghiên cứu tham khảo, phục vụ giảng dạy môn
Lịch sử ĐCSVN trong các Học viện, Nhà trường quân đội.
7. Kết cấu luận văn
Luận văn gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1
QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỪ
1986 ĐẾN 1996


1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn Đảng lãnh đạo giải quyết mối quan
hệ giữa phát triển nông nghiệp và phát triển công nghiệp trong thời kỳ

gắng nỗ lực của bản thân mỗi ngành, phải có sự tác động hỗ trợ của ngành
kia. Đặc biệt sự tác động của công nghiệp trong việc tổ chức sản xuất tại chỗ
để đáp ứng nhu cầu của nông nghiệp. Một khi nền công nghiệp lớn đã hoàn
thành việc tách công nghiệp ra khỏi nông nghiệp, thì nó lại tạo ra những điều
kiện vật chất cho sự tổng hợp mới cao hơn, nghĩa là một sự kết hợp công
nghiệp – nông nghiệp trên cơ sở những thành tựu phát triển của mỗi ngành đã
đạt được. Tuy nhiên mối quan hệ giữa hai ngành công nghiệp và nông nghiệp
lại diễn ra trong phương thức sản xuất TBCN cho nên nó đã tác động làm rung
chuyển toàn bộ các quan hệ xã hội: Giai cấp phân hoá, nông thôn phục tùng
thành thị...
Dưới CNXH, mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp là mối
quan hệ kiểu mới giữa hai ngành sản xuất lớn dựa trên cơ sở kỹ thuật hiện đại.
Mối quan hệ đó được hình thành dựa trên cơ sở xoá bỏ chế độ tư hữu về tư
liệu sản xuất và mọi đối kháng giai cấp, nó thể hiện ra trong mối quan hệ giữa
thành thị và nông thôn qua việc trao đổi sản phẩm của hai ngành công nghiệp
và nông nghiệp. Mặt khác theo Lênin: Việc giải quyết mối quan hệ này còn là
một nhiệm vụ kiến lập một liên minh kinh tế giữa giai cấp công nhân và giai
cấp nông dân.
Thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH, sự tương tác quan hệ chặt chẽ
giữa hai ngành kinh tế cơ bản công nghiệp và nông nghiệp là điều kiện quan
trọng bảo đảm đáp ứng nhu cầu của xã hội. Sự kết hợp chặt chẽ thống nhất
giữa hai ngành đảm bảo cho mục tiêu chung của CNXH được thực thi một
cách nhanh chóng và hiệu quả nhất: là điều kiện để xây dựng một nền công
nghiệp, một nền nông nghiệp lớn hiện đại, góp phần tích cực củng cố khối
liên minh giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân; góp phần thực hiện
sự bình đẳng giữa các giai tầng trong xã hội, giữa nông thôn và thành thị,


miền núi và miền đồng bằng... Đó là những kết quả thành tựu mang tính đặc
trưng chỉ có dưới chế độ XHCN một khi thực hiện tốt mối quan hệ giữa hai

tiến hành trao đổi (chứ không phải trưng thu hay thuế) những sản phẩm công
nghiệp cần thiết cho nông dân để lấy những sản phẩm của họ. Tuy nhiên, thời
kỳ đầu do công nghiệp phát triển chưa đủ sản phẩm để đổi lấy đủ lượng lương
thực, thực phẩm mà Nhà nước vô sản cần, nên phải dùng chính sách thuế. Mặt
khác do chưa thể xây dựng ngay một nền đại công nghiệp được, cho nên
“trong một chừng mực nào đó phải giúp đỡ việc phục vụ hồi tiểu công
nghiệp, là công nghiệp không đòi hỏi phải có máy móc, phải có dự trữ lớn
của Nhà nước về nguyên liệu thực phẩm mà lại có thể giúp đỡ ngay một phần
nào cho nền kinh tế nông dân và nâng cao lực lượng sản xuất của nền kinh tế
ấy” [27, 445]. Song cái cốt lõi ở thời kỳ đầu của TKQĐ ở các nước chậm phát
triển lên CNXH là “phải đem hết sức lực, hết sức chú ý để tạo ra, phát huy
tính chủ động ở cơ sở... nhằm phục hồi lập tức kinh tế nông dân, thậm chí
bằng những phương tiện nhỏ trong phạm vi nhỏ hẹp, nhằm mục đích phát
triển công nghiệp địa phương để giúp đỡ kinh tế nông dân ” [27, 458]. Khi
nông nghiệp đã phát triển tới một chừng mực nào đó, đòi hỏi công nghiệp
không chỉ cung cấp thoả mãn những nhu cầu cá nhân (quần áo, giày dép...)
mà cần phải dốc hết sức ra để mà cung cấp những máy móc nông nghiệp,
phân bón... tất cả những thứ có liên quan trực tiếp tới việc cải tạo sản xuất
nông nghiệp trên một cơ sở kỹ thuật mới.
Theo lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, cơ sở vật chất của CNXH
chỉ có thể là nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp.
Để xây dựng được cơ sở vật chất đó, con đường duy nhất, đúng đắn nhất là
phải tiến hành công nghiệp hoá đất nước (nhất là ở các nước chậm phát triển
đi lên CNXH). “Nhiệm vụ công nghiệp hoá không những chỉ là phải tăng
thêm tỷ trọng của công nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân , mà còn
cần phải trong sự phát triển đó, bảo đảm được sự độc lập về mặt kinh tế” [41,


129]. Muốn vậy “Trung tâm của sự nghiệp công nghiệp hoá, cơ sở của công
nghiệp hoá phải là phát triển công nghiệp nặng (nhiên liệu, kim khí...) nói

mở mang công nghiệp thì phải có đủ lương thực, nguyên liệu. Nhưng công
nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa vẫn là mục tiêu phấn đấu chung, là con đường
no ấm thực sự của nhân dân ta ” [34, 40-41].
Về vai trò của từng ngành nông nghiệp và công nghiệp trong mối quan
hệ giữa chúng, Người chỉ rõ: “Nước ta trước hết phải phát triển nông nghiệp
để bảo đảm đủ lương thực giải quyết vấn đề ăn, sau đó là mặc và các vấn đề
khác. Theo Bác: nông dân giàu thì nước ta giàu, nông dân mạnh thì nước ta
mạnh. Nông dân và nông nghiệp là khởi điểm con đường đi tới chủ nghĩa xã
hội ở nước ta” [34, 544]. Còn “Công nghiệp phải phát triển mạnh để cung
cấp đủ hàng tiêu dùng cần thiết cho nhân dân, trước hết là cho nông dân,
cung cấp máy bơm nước, phân hoá học, thuốc trừ sâu, để đẩy mạnh nông
nghiệp và cung cấp dần dần máy cấy, máy bừa cho các hợp tác xã nông
nghiệp. Công nghiệp phát triển thì nông nghiệp mới phát triển được ” [34,
545].
Như vậy là các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin và Chủ tịch
Hồ Chí Minh đều khẳng định mối quan hệ giữa hai ngành kinh tế cơ bản:
nông nghiệp và công nghiệp trong TKQĐ lên CNXH là một tất yếu khách
quan; khẳng định thực chất của mối quan hệ đó cũng như xác định rõ vị trí vai
trò của từng ngành trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế ở từng
nước khác nhau; đồng thời còn chỉ ra các giải pháp cơ bản nhất để giải quyết
tốt nhất mối quan hệ đó trong TKQĐ. Các quan điểm lý luận đó đã đang và sẽ
là kim chỉ nam cho các Đảng Cộng sản nói chung, Đảng ta nói riêng trong
công tác lãnh đạo cách mạng đi lên CNXH.
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn một số nước trên thế giới trong giải quyết mối quan hệ
giữa phát triển nông nghiệp và phát triển công nghiệp.
- Thực tiễn ở Liên Xô.


Sau khi cách mạng XHCN tháng Mười thắng lợi, Lênin và Đảng

Nga phát triển nhanh chóng biến nước Nga trở thành một nước Liên Xô vĩ
đại, một cường quốc trên thế giới, thành trì của hệ thống XHCN cho đến
những năm 80 của thế kỷ XX.
- Thực tiễn giải quyết mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và
phát triển công nghiệp trong thời kỳ cải cách mở cửa của Trung Quốc từ năm
1978 đến nay.
Hội nghị lần thứ ba BCHTƯ khoá VI (tháng 12 năm 1978) của Đảng
cộng sản Trung Quốc đánh dấu sự bắt đầu công cuộc cải cách. Trên lĩnh vực
kinh tế, công cuộc cải cách bắt đầu bằng các chủ trương khuyến khích đẩy
mạnh phát triển nông nghiệp, nông thôn và kinh tế ngoài quốc doanh. Đến
năm 1984 trọng tâm cải cách chuyển từ nông thôn, nông nghiệp vào thành
phố và được triển khai một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực công
nghiệp, dịch vụ... Chính nhờ chủ trương giải quyết đúng đắn phù hợp mối
quan hệ giữa hai ngành kinh tế chủ yếu nông nghiệp và công nghiệp, cho nên
nền kinh tế của Trung Quốc luôn phát triển với tốc độ cao. Trong vòng 15
năm (từ 1978 đến 1993) tốc độ tăng trưởng bình quân của nền kinh tế Trung
Quốc luôn đạt xấp xỉ 9%. Ngày nay nền kinh tế Trung Quốc vẫn dẫn đầu thế
giới về tốc độ tăng trưởng khả năng một nước Trung Quốc – cường quốc thế
giới đã và đang trở thành hiện thực.
Những thành công trong chính sách kinh tế mà Đảng cộng sản Liên
Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc áp dụng trong thời gian qua đã để lại những
ấn tượng hết sức tốt đẹp, những bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá cho
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong quá khứ, hiện tại và tương
lai. Kinh nghiệm đó càng giá trị hơn đối với nước ta đi lên CNXH từ một nền
kinh tế nông nghiệp lạc hậu.
Thực tiễn quá trình Đảng ta lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, giải
quyết mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và phát triển công nghiệp từ
1954 đến 1985.



chiến tranh, phục hồi kinh tế quốc dân, khâu then chốt là phục hồi và phát
triển sản xuất nông nghiệp, đã là cơ sở quan trọng nhất bảo đảm cho công
cuộc khôi phục kinh tế và bước đầu củng cố miền Bắc (1954-1957) đạt được
kết quả khả quan. Đến năm 1957 các mục tiêu, nhiệm vụ trên cơ bản đã hoàn
thành, đặc biệt sản lượng lương thực năm 1956 đã đạt 4,73 triệu tấn, vượt xa
năm 1939 năm có sản lượng cao nhất ở thời Pháp thuộc là 2,6 triệu tấn.
Đánh giá về thời kỳ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Trải qua thời
gian 3 năm, nhân dân ta ở miền Bắc đã ra sức khắc phục khó khăn, lao động
sản xuất, thu được những thành tích to lớn trong công cuộc hàn gắn vết
thương chiến tranh, khôi phục kinh tế bước đầu phát triển văn hoá giảm bớt
khó khăn và dần dần cải thiện đời sống nhân dân ở cả miền đồng bằng và
miền núi...nông nghiệp đã vượt hẳn mức trước chiến tranh. Công nghiệp đã
khôi phục các xí nghiệp cũ, xây dựng một số nhà máy mới...” [34, 483].
Phát huy những kết quả đã đạt được trong 3 năm đầu khôi phục kinh tế
và bước đầu củng cố miền Bắc, để tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế văn
hoá, tháng 11/1958 Hội nghị lần thứ mười bốn BCHTƯ khoá II đã đề ra chủ
trương cải tạo XHCN đối với kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư doanh; tháng
4/1959 Hội nghị lần thứ mười sáu BCHTƯ khoá II đã đề ra chủ trương hợp
tác hoá nông nghiệp và chủ trương cải tạo công thương nghiệp tư bản tư
doanh. Mặc dù còn có những hạn chế nhất định trong chủ trương cải tạo
XHCN đối với các thành phần kinh tế phi XHCN, nhưng các chủ trương trên
của Đảng đã cho phép phát triển một cách mạnh mẽ các tổ đổi công và các
hợp tác xã sản xuất trong nông nghiệp. Chủ trương hợp tác hoá nông nghiệp
đã đẩy mạnh phong trào thủy lợi hoá và thúc đẩy mạnh mẽ việc cải tiến kỹ
thuật trong nông nghiệp. Mặc dù năm 1960 có thiên tai lớn nhưng sản xuất
nông nghiệp trong 3 năm 1958-1960, vẫn tăng bình quân mỗi năm 5,6%. Thu
nhập quốc dân tính theo đầu người năm 1960 gấp đôi năm 1955.


Thắng lợi của kế hoạch 3 năm 1958-1960 đã tạo lên những chuyển biến

đáng kể kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật. Các ngành công nghiệp
chủ yếu như điện, cơ khí, luyện kim, hoá chất, vật liệu xây dựng, hình thành
và phát triển nhanh.
Trên cơ sở những thành tựu kinh tế, trong thời kỳ 1961 – 1965 Đảng ta
còn lãnh đạo công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc thu được nhiều thành
tựu quan trọng trên các lĩnh vực văn hoá- xã hội, quốc phòng an ninh và hoạt
động đối ngoại ... miền Bắc thực sự trở thành hậu phương vững chắc cho cách
mạng cả nước.
Thời kỳ (1965-1973) đế quốc Mỹ leo thang mở rộng chiến tranh đánh
phá miền Bắc bằng không quân và hải quân, mặc dù trong điều kiện có chiến
tranh, nhưng Đảng ta vẫn lãnh đạo xây dựng nền kinh tế miền Bắc không
những đứng vững mà còn tiếp tục phát triển. Đầu năm 1970 Trung ương Đảng
phát động ba cuộc vận động lớn trong đó có cuộc vận động “Đẩy mạnh lao động
sản xuất, phát huy dân chủ và tăng cường chế độ làm chủ ở nông thôn”. Đầu
năm 1971 BCHTƯ khoá III họp Hội nghị lần thứ mười chín tiếp tục khẳng định
nhiệm vụ trung tâm của phát triển kinh tế là phát triển nông nghiệp.
Dưới bom đạn ác liệt, sản xuất nông nghiệp giải quyết vấn đề lương
thực vẫn được ưu tiên phát triển. Sản lượng lương thực hàng năm trong những
năm 1965-1968 vẫn đạt xấp xỉ bằng năm 1961, năm 1970 đạt gần 5,3 triệu
tấn, tăng 50 vạn tấn so với năm 1969. Hàng nghìn hợp tác xã đạt năng suất 5
tấn/ha, sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp được duy trì, các nhà máy
được sơ tán, bảo vệ để tiếp tục sản xuất. Giá trị sản lượng công nghiệp năm
1970 xấp xỉ bằng năm 1965, năm 1971 tăng 14% so với năm 1970. Việc xây
dựng và phát triển công nghiệp địa phương được Đảng ta đặc biệt chú trọng.
Hệ thống giao thông vận tải được khẩn trương khôi phục, bảo đảm vận
chuyển thông suốt trên các tuyến.
Các chủ trương đúng đắn trên của Đảng, tiếp tục được phát huy trong
những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1973-1975). Sự





đạo khôi phục và phát triển kinh tế thời kỳ từ 1954 đến 1975 ở nước ta, để
lãnh đạo phát triển kinh tế sau chiến tranh nhằm ổn định đời sống nhân dân và
từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH... Nhưng do quá nôn
nóng chủ quan, muốn có ngay, có nhiều CNXH trên đất nước ta, do chưa
nhận thức đầy đủ và đúng đắn các quy luật phát triển trong TKQĐ... cho nên
trong những năm đầu từ 1976 đến 1980 lãnh đạo phát triển kinh tế, Đảng ta
đã chủ trương tập trung ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, đầu tư xây dựng
hàng loạt các công trình lớn mà không tính đến các điều kiện đảm bảo và hiệu
qủa của nó, coi nhẹ việc đầu tư phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ...
nói cách khác là thời kỳ này Đảng ta đã giải quyết không phù hợp mối quan hệ
giữa phát triển hai ngành nông nghiệp và công nghiệp. Hậu quả là trong những
năm từ 1976 đến 1980 nền kinh tế nước ta hầu nhự giậm chân tại chỗ, nông
nghiệp chỉ tăng được 1,9%/năm, còn công nghiệp cũng chỉ tăng được 0,6%
/năm... hai ngành kinh tế cơ bản không phát triển được, nhưng tỷ lệ tăng dân
số thời kỳ này lại cao (hơn 2%/năm), đây là một trong những nguyên nhân cơ
bản khiến nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng
kéo dài...
Do sớm nhận thức được hậu qủa của các chủ trương chính sách phát
triển kinh tế không phù hợp với thực tiễn. Để đáp ứng lòng mong mỏi chính
đáng của nhân dân nhất là người nông dân. Trên cơ sở các Nghị quyết Trung
ương sáu khoá IV (8/1979), chỉ thị 100/CT-TƯ của Ban Bí Thư (1-1981) và
Quyết định 25/CP của Thủ tướng Chính phủ (1/1981), Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ V của Đảng (3/1982) đã có bước phát triển lớn trong việc đề ra
các chủ trương chính sách phát triển kinh tế, đặc biệt đã xác định đúng thứ tự
ưu tiên trong phát triển kinh tế ở nước ta là phải ưu tiên phát triển nông
nghiệp, phải coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đồng thời ra sức đẩy mạnh
sản xuất hàng tiêu dùng, tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp quan
trọng; kết hợp nông nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và công



lầm trong xác định cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư giữa hai ngành nông
nghiệp và công nghiệp, Đảng ta “thường chỉ xuất phát từ lòng mong muốn
đi nhanh, không tính đến điều kiện và khả năng thực tế, không kết hợp ngay
từ đầu công nghiệp với nông nghiệp thành một cơ cấu hợp lý” [7,20] là
những tác nhân cơ bản dẫn đến tình trạng kinh tế chậm phát triển, đời sống
nhân dân gặp khó khăn... đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế – xã
hội. Thực trạng đó đã trực tiếp tác động làm giảm lòng tin của quần chúng
nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của các cơ quan Nhà nước
và cũng là vấn đề hết sức hệ trọng đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của
nước ta. Song dường như là quy luật , chính trong những lúc khó khăn, gian
khổ nhất, trong lúc nguy nan nhất, bản lĩnh cách mạng, ý chí quật cường và
tinh thần độc lập, tự chủ sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta lại
được khơi dậy một cách vô cùng mạnh mẽ. Việc Đảng ta khởi xướng và lãnh
đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước từ năm 1986 đã phản ánh tinh
thần trên và bắt đầu mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước.
1.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng giải quyết mối quan hệ giữa
phát triển nông nghiệp và phát triển công nghiệp từ 1986 đến 1996.
1.2.1 Thời kỳ từ 1986 đến 1991.
Trước thực trạng nền kinh tế xã hội nước ta đã và đang lâm vào tình
trạng khủng hoảng trầm trọng nhất, những tác động của công cuộc cải tổ ở
Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
(tháng 12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó lấy
đổi mới kinh tế làm trọng tâm. Trong đường lối đổi mới kinh tế, Đại hội VI
xác định phải đổi mới toàn diện cả cơ cấu kinh tế, và đổi mới cơ chế quản lý
nền kinh tế, đổi mới trong xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất XHCN,
trong sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế. Trong chủ trương
đổi mới cơ cấu nền kinh tế, Đại hội VI xác định, phải sắp xếp lại nền kinh tế
quốc dân theo một cơ cấu hợp lý, các loại hình sản xuất có quy mô và trình độ



giãn tiến độ hoặc đình hẳn việc xây dựng những công trình chưa thật sự cấp bách
hoặc ít có tính khả thi. Ưu tiên đồng bộ vào đầu tư chiều sâu cho các cơ sở công
nghiệp hiện có.
Muốn phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với việc bố trí lại
cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư theo ngành và theo vùng, Đại hội VI xác định
phải xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất XHCN, sử dụng và cải tạo đúng
đắn các thành phần kinh tế. Thực hiện nhất quán chính sách cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần. Kinh tế XHCN bao gồm kinh tế quốc doanh và kinh tế tập
thể cùng với bộ phận kinh tế gia đình gắn liền với thành phần đó; các thành
phần kinh tế khác gồm kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá, kinh tế tư bản tư nhân,
kinh tế tư bản Nhà nước và kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc. Đại hội VI khẳng
định đây là giải pháp chiến lược lâu dài và hết sức quan trọng, nhằm giải
phóng sức sản xuất, khai thác mọi tiềm năng của đất nước và con người Việt
Nam, là sự vận dụng sáng tạo lý luận Mác-Lênin và điều kiện hoàn cảnh cụ
thể của nước ta. Đảng ta xác định: cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan
hệ sản xuất mới là nhiệm vụ thường xuyên liên tục trong suốt TKQĐ, cải tạo
XHCN và xây dựng quan hệ sản xuất mới phải bao gồm cả ba mặt: xây dựng
chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, xây dựng chế độ quản lý và chế độ phân
phối XHCN, khắc phục sai lầm trước đây chỉ nhấn mạnh xây dựng chế độ sở
hữu.
Về chủ trương đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Đại hội VI xác định
phương hướng đổi mới cơ chế quản lý kinh tế là xoá bỏ tập trung quan liêu
bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và trình độ
phát triển của nền kinh tế. Đặc trưng của cơ chế quản lý mới là: tính kế hoạch,
sử dụng đúng đắn mối quan hệ hàng hoá, tiền tệ, nền kinh tế được quản lý
bằng các biện pháp kinh tế là chủ yếu. Thực chất cơ chế quản lý kinh tế mới
là cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh XHCN, đúng
nguyên tắc tập trung dân chủ.



tạo các thành phần kinh tế nhất quán chính sách nền kinh tế nhiều thành phần,
coi đây là giải pháp chiến lược, lâu dài. Các thành phần kinh tế đều bình đẳng
trước pháp luật, trong đó thành phần kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo
chi phối được các thành phần kinh tế khác, đã tạo ra khả năng to lớn trong
việc khai thác phát huy mọi tiềm năng thế mạnh của đất nước, con người Việt
Nam vào lĩnh vực sản xuất, trong các ngành nghề kinh tế, tạo ra nhiều sản
phẩm cho xã hội.
Chủ trương của Đại hội VI trong đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nhằm
để tháo gỡ khó khăn, tạo ra động lực mới với nội dung chủ yếu là, xoá bỏ cơ
chế tập trung, quan liêu, bao cấp, sửa đổi các chính sách đòn bẩy kinh tế, hình
thành cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh XHCN,
đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Thiết lập trật tự, kỷ cương trong quản lý
kinh tế, xã hội. Khâu quyết định là bố trí đúng cán bộ, kiện toàn bộ máy quản
lý, đổi mới phong cách, lề lối làm việc phù hợp với yêu cầu đổi mới cơ cấu
kinh tế và cơ chế quản lý.
Trước sự phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học và kỹ
thuật, sự phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất và quá trình quốc tế hoá
các lực lượng sản xuất để đổi mới phát triển kinh tế, Đại hội VI chủ trương,
phát huy mạnh mẽ động lực khoa học – kỹ thuật, mở rộng và nâng cao hiệu
quả kinh tế đối ngoại. Đảng ta xác định nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế
trong chặng đường đầu tiên cũng như trong sự nghiệp phát triển khoa học –
kỹ thuật và công nghiệp hoá XHCN của nước ta tiến hành nhanh hay chậm,
điều đó phụ thuộc một phần quan trọng vào việc mở rộng và nâng cao hiệu
quả kinh tế đối ngoại.
Trên cơ sở những chủ trương cơ bản trên, Đại hội VI xác định các chủ
trương phương hướng, mục tiêu cụ thể trong chiến lược phát triển kinh tế xã
hội nói chung, trong giải quyết mối quan hệ giữa phát triển hai ngành nông
nghiệp và công nghiệp nói riêng như sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status