MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1:
3
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG
BỘ TỈNH BẮC GIANG VỀ XÂY DỰNG NÔNG
10
1.1.
THÔN MỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2013
Yêu cầu khách quan và chủ trương của Đảng bộ tỉnh
1.2.
Chương 2:
2.1.
Bắc Giang về xây dựng nông thôn mới (2008 - 2013)
Đảng bộ tỉnh Bắc Giang chỉ đạo xây dựng nông thôn mới
NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
Nhận xét quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo
10
30
48
xây dựng nông thôn mới (2008 - 2013)
Những kinh nghiệm chủ yếu
có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các
hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, phát triển nông nghiệp với phát triển nhanh
công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với phát triển đô thị theo quy
hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi
trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất
và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh từ năm 2008 đến nay nông nghiệp,
nông thôn tỉnh Bắc Giang đã có sự chuyển biến căn bản, tạo tiền đề vững chắc
đưa Bắc Giang hòa nhập vào sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, do nhiều lý
do khác nhau bên cạnh những thành tựu đã đạt được, quá trình lãnh đạo xây dựng
nông thôn mới của tỉnh Bắc Giang vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cần phải tập
trung khắc phục.
2
Nghiên cứu làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây
dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2013, trên cơ sở đó đánh giá ưu,
khuyết điểm, làm rõ nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm để vận dụng
trong thời gian tới là việc làm cần thiết.
Vì lý do trên tác giả chọn đề tài "Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo
xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2013" làm đề tài luận văn
thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đề tài
Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn của Đảng, nhằm phát
triển kinh tế - xã hội nâng cao đời sống nông dân. Xuất phát từ tầm quan
trọng và tính thời sự của vấn đề, trong những năm qua đã có nhiều công trình
khoa học nghiên cứu đề cập ở các cấp độ và mức độ khác nhau. Có thể chia
thành các nhóm sau:
Nhóm các công trình nghiên cứu chung về nông nghiệp, nông dân,
cho ngành nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng tổ
chức Ausaid nghiên cứu đã đi sâu phân tích những quy định của WTO về
thương mại nông sản. Nguyễn Từ, Phùng Hữu Phú (Chủ biên, 2009), Vấn
đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm
Trung Quốc, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Là dự án nghiên cứu
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của nó đến phát triển nông
nghiệp Việt Nam. Đặng Kim Sơn (2011), Công nghiệp hóa từ nông nghiệp
lý luận, thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông
nghiệp. Đỗ Kim Chung và Kim Thị Dung (2012), Chương trình nông thôn
mới ở Việt Nam - Một số vấn đề đặt ra và kiến nghị, Tham luận khoa học,
Hà Nội. Vũ Văn Phúc (Chủ biên, 2012), Xây dựng nông thôn mới những
vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Gồm
33 bài viết nêu lên những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế về
xây dựng nông thôn mới và thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở các địa
phương trong cả nước.
Những công trình trên đã cung cấp những luận cứ, luận chứng, những dữ
liệu rất quan trọng cho việc hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp, nông
thôn trong thời kỳ mới ở nước ta. Song các công trình chưa đi sâu nghiên cứu
4
quá trình triển khai, áp dụng các chính sách về nông nghiệp, nông thôn nói
chung và mô hình nông thôn mới nói riêng ở các địa phương đặc biệt là những
địa phương có tiềm năng nông nghiệp như tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên, những
kết quả nghiên cứu trên chính là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng mà tác
giả có thể tiếp thu, kế thừa trong quá trình hoàn thành luận văn.
Nhóm các công trình nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông
thôn ở các địa phương, cơ sở có: Nguyễn Vũ Bình (1999), "Gia Lâm trên
con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn", Tạp chí
Tạp chí Cộng sản, tháng 9. Quang Minh (2013), "Xây dựng nông thôn mới ở
các tỉnh miền núi phía Bắc: Kết quả bước đầu và một số vấn đề đặt ra", Tạp chí
Cộng sản, tháng 11; Minh Phước (2013), "Xây dựng nông thôn mới ở Cà
Mau: Cần những giải pháp mang tính đột phá", Tạp chí Cộng sản, tháng 11.
Bùi Thanh Tuấn (2014), "Bức tranh nông thôn tỉnh Tuyên Quang sau năm năm
thực hiện nghị quyết Trung ương 7 khóa X", Tạp chí Cộng sản, tháng 3. Gia Bảo
(2014), "Nam Định: Xây dựng nông thôn mới là một trong năm đột phá", Tạp
chí Cộng sản, tháng 4; Nguyễn Đăng Quang (2014), "Xây dựng nông thôn mới
ở xã Chư Ă-Play Cu", Tạp chí Cộng sản, tháng 6.
Nhóm các công trình nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở
các địa phương, cơ sở đã luận giải có luận cứ, luận chứng khoa học về thực
trạng xây dựng nông thôn mới ở các địa phương, cơ sở trên phạm vi cả nước,
tập trung vào những vấn đề nổi cộm nảy sinh, từ đó rút ra những kinh nghiệm
có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn sâu sắc. Qua đó cung cấp những sử liệu
quan trọng để tác giả đánh giá, so sánh ưu thế của từng địa phương và nhận xét
quá trình hoạch định chủ trương, chỉ đạo thực tiễn quá trình xây dựng nông
thôn mới của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang.
Nhóm các công trình nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn Bắc
Giang có: Vũ Đức Trung (1996), Những định hướng cho việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông thôn tỉnh Hà Bắc, Luận án khoa học Kinh tế, Hà Nội;
Nguyễn Văn Năng (2010), "Bắc Giang chung sức xây dựng nông thôn
mới", Cổng thông tin điện tử, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Giang; Lại
Thanh Sơn (2012), Triển khai kết quả bước đầu và những kiến nghị, đề
6
xuất đối với công tác xây dựng nông thôn mới của tỉnh Bắc Giang, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; Văn phòng huyện ủy Lạng Giang
(2012), "Một số kinh nghiệm bước đầu trong xây dựng nông thôn mới ở
Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG
VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2013
1.1. Yêu cầu khách quan và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang
về xây dựng nông thôn mới (2008 - 2013)
1.1.1. Yêu cầu khách quan lãnh đạo xây dựng nông thôn mới ở tỉnh
Bắc Giang
* Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Bắc Giang trước năm 2008
Địa lý hành chính: Bắc Giang là vùng đất cổ, có bề dầy lịch sử gắn bó
hữu cơ với cả nước trong quá trình dựng nước và giữ nước. Trải qua các thời
kỳ lịch sử, tỉnh Bắc Giang ngày nay có nhiều tên gọi và quy mô địa giới hành
chính khác nhau.
Thời kỳ Pháp thuộc ngày 10 tháng 10 năm 1895, Toàn quyền Đông
Dương ký quyết định thành lập tỉnh Bắc Giang gồm 2 phủ Đa Phúc, Lạng
Giang và 6 huyện Kim Anh, Yên Dũng, Phượng Nhỡn, Việt Yên, Hiệp Hòa,
Yên Thế. Tỉnh lỵ đặt tại Phủ Lạng Thương. Ngày 8 tháng 1 năm 1896, trả lại
hai huyện Đa Phúc và Kim Anh về tỉnh Bắc Ninh. Đến trước Cách mạng
Tháng Tám năm 1945, tỉnh Bắc Giang có 3 phủ (Lạng Giang, Yên Thế, Lục
Ngạn), 4 huyện (Việt Yên, Hiệp Hòa, Yên Dũng, Sơn Động), 1 châu (Hữu
Lũng) với 63 tổng, 453 xã.
Trong kháng chiến chống Pháp, để tiện cho việc chỉ đạo, tháng 7
năm 1947, Ủy ban hành chính khu XII cắt 10 xã tả ngạn sông Lục Nam cho
huyện Lục Ngạn và huyện Sơn Động cùng với huyện Hải Chi (Hải Ninh)
lập ra huyện Lục Sơn Hải trực thuộc liên tỉnh Quảng Hồng. Năm 1955,
huyện Sơn Động được cắt trả lại tỉnh Bắc Giang. Ngày 19 tháng 7 năm
1956, huyện Hữu Lũng được cắt về tỉnh Lạng Sơn. Ngày 27 tháng 1 năm
1957, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 24-TTg, chia Lục Ngạn, Sơn
thể dễ dàng lưu thương với các nước trong khu vực và trên thế giới.
10
Bắc Giang có tiềm năng lớn về đất đai nhất là đồi rừng, có nhiều thuận
lợi cho việc trồng cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp
ngắn ngày và dài ngày hay chăn nuôi gia súc, gia cầm. Địa lý tự nhiên Bắc
Giang chia thành hai vùng: vùng rừng núi và vùng trung du. Các huyện vùng
núi gồm: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Tân Yên, Lạng Giang và
Yên Dũng. Các huyện trung du gồm: Hiệp Hòa, Việt Yên và thành phố Bắc
Giang. Đó là điều kiện tốt cho một nền nông nghiệp phát triển phong phú,
đa dạng. Hiện nay ở Tỉnh đã hình thành những vùng trồng lúa, lạc, chè,
thuốc lá, đậu tương...có năng suất chất lượng cao như huyện: Việt Yên,
Hiệp Hòa, Tân Yên, Yên Thế. Trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật
nuôi, Bắc Giang đã trở thành vùng quê nổi tiếng về vải thiều (Lục Ngạn),
gà đồi (Yên Thế)...góp phần xóa đói giảm nghèo đi đến ấm no, tạo nên sự
trù phú của nhiều làng quê.
Bắc Giang có nhiều sông ngòi, phân bố đều giữa các vùng. Sông Lục Nam
(Minh Đức), bắt nguồn từ Đình Lập (Lạng Sơn) chảy qua các huyện Sơn Động,
Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Dũng rồi nhập vào Sông Thương. Sông Cầu (Như
Nguyệt) bắt nguồn từ tỉnh Bắc Cạn, chảy qua Thái Nguyên rồi vào Bắc Giang.
Ngoài ba con sông lớn trên, Bắc Giang còn có hàng trăm con suối, ngòi
lớn nhỏ chạy đan xen giữa các vùng. Bắc Giang có hơn 20 loại hình khoáng
sản, khoảng 40 loại mỏ trung bình và nhỏ gồm đồng, vàng, sắt, chì, kẽm, thủy
ngân... phong phú hơn cả vẫn là nhóm nguyên, nhiên liệu gồm than đá, than
bùn, các loại nguyên vật liệu cung cấp cho ngành công nghiệp hóa chất, gốm
sứ, vật liệu xây dựng...
Khí hậu Bắc Giang mang những đặc trưng của vùng khí hậu chuyển
tiếp, vừa có tính nhiệt đới nóng ẩm, vừa có tính chất Á nhiệt đới. Nhiệt độ
phương có làng nghề truyền thống còn duy trì đến ngày nay. Cơ cấu lao động
giữa các khu vực sản xuất công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp đang có sự
thay đổi theo quá trình thay đổi của Tỉnh.
12
Truyền thống: Nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang có truyền thống
yêu nước chống giặc ngoại xâm kiên cường bất khất. Trong suốt hàng ngàn
năm dựng nước và giữ nước, vùng đất Bắc Giang đã trở thành chiến trường
của quân và dân nước ta chống lại các cuộc xâm lược của các triều đại phong
kiến phương Bắc. Trong thời kỳ giành chính quyền Bắc Giang là một trong
những tỉnh tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công sớm
nhất trong toàn quốc. Bước vào cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp,
đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Thà hy sinh tất cả
chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", quân và
dân Bắc Giang đã cùng với quân và dân cả nước vượt lên muôn vàn khó khăn,
gian khổ, hy sinh và đã giành thắng lợi vẻ vang, góp phần ghi tiếp những chiến
công chói lọi vào trang sử vàng chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hàng triệu lượt người
trong Tỉnh đã được huy động phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho cuộc kháng
chiến. Ở tiền tuyến, nhiều người con của tỉnh Bắc Giang đã lập công xuất sắc.
Ở hậu phương, Nhân dân đã thi đua thực hiện thắng lợi khẩu hiệu: "Thóc
không thiếu một cân, quân không thiếu một người". Trong cuộc chiến đấu ấy,
hàng vạn người con Bắc Giang đã hy sinh anh dũng, biết bao tấm gương tiêu
biểu của chủ nghĩa anh hùng cách mạng đã trở thành biểu tượng của lẽ sống,
niềm tin của Nhân dân ta. Nhiều tên đất, tên người đã tạc vào lịch sử.
Nhân dân Bắc Giang có tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái. Do
những đặc điểm về vị trí, địa hình và do những biến cố lịch sử, đất Bắc Giang
trở thành một trong những nơi hội tụ của nhiều luồng cư dân đến sinh sống,
thời phong kiến, trên đất Bắc Giang đã xuất hiện những trung tâm trao đổi
hàng hóa (chợ), nhiều nhất vào thời Lê, Nguyễn như chợ Thổ Hà (Việt Yên)
vào loại lớn nhất Kinh Bắc thời Lê; chợ Đức Thắng (Hiệp Hòa); chợ Kế; chợ
Phú Xuyên (Lạng Giang), chợ Vô Tranh (Lục Nam); chợ Hữu Mục (Tân
Yên)... Điều này chứng tỏ việc sản xuất, buôn bán trong vùng rất tấp nập.
Ngoài ra, Bắc Giang là mảnh đất có bề dày truyền thống văn hóa và hiếu
học. Đây là thành quả của hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên
cường xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước, là kết quả giao lưu và hội tụ
với văn hóa của nhiều dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Truyền
14
thống văn hóa của Nhân dân Bắc Giang không ngừng phát huy, phát triển kết
tinh sâu đậm trong tâm hồn, khí phách của mỗi người dân Bắc Giang. Tự hào
về truyền thống quê hương, đất nước, Nhân dân Bắc Giang đã và đang ra sức
quyết tâm xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc.
Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội nêu trên cho
thấy, Bắc Giang vừa có nhiều thuận lợi, vừa có nhiều khó khăn trong quá
trình triển khai thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng nông thôn mới.
Về thuận lợi là Tỉnh có bề dày truyền thống yêu nước, cách mạng và truyền
thống văn hóa; Nhân dân cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất. Các thế
hệ người Bắc Giang đã tạo ra những cánh đồng mầu mỡ suốt từ xuôi lên
miền núi để cấy lúa, trồng hoa mầu và các loại cây ăn quả. Từ quá trình lao
động đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý trong phát triển, thâm canh
nông nghiệp, hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa tập trung lớn, có
giá trị kinh tế cao như: vải thiều Lục Ngạn, gà đồi Yên Thế, lúa thơm Yên
Dũng... Đó là những điều kiện thuận lợi cho quá trình xây dựng nông thôn
mới. Bên cạnh đó Bắc Giang là tỉnh miền núi, địa hình chia cắt, dân cư
phân bố không tập trung, đời sống Nhân dân khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo lớn
nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường. Triển khai Chương
trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước
đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huy truyền thống
văn hóa tốt đẹp của nông thôn Việt Nam. Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng
nông thôn. Tạo môi trường thuận lợi để khai thác mọi tiềm năng đầu tư vào
nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa,
thu hút nhiều lao động.
Như vậy, nông thôn mới được phân biệt với thị tứ, đó là nông thôn mới,
khác với nông thôn truyền thống. Nông thôn mới bao hàm cơ cấu và chức
năng mới, đó là chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại; chức năng giữ gìn
văn hóa truyền thống và chức năng sinh thái. Nông thôn mới là nông thôn
Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, được xây dựng
hướng tới Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
16
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định mục tiêu
xây dựng nông thôn mới là: "Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp,
dân chủ, công bằng, văn minh, có kết cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù
hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại" [39, tr.90].
Cụ thể hóa chủ trương của Đại hội X, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy
(Khóa X) ra Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 đã nêu một
cách toàn diện về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông thôn: "Nông nghiệp,
nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng
để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo
an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi
trường sinh thái của đất nước" [12, tr.48].
Nghị quyết 26/NQ-TW nhấn mạnh: các vấn đề nông nghiệp, nông dân,
giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn khó khăn; nông
dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong
khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định xây dựng nông thôn mới là
nhiệm vụ quan trọng trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã nêu rõ: "Tiếp tục triển khai Chương
trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước
đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn, giữ gìn và phát huy nét văn hóa bản
sắc của nông thôn Việt Nam" [40, tr.123].
Từ chủ trương của Đảng, Chính phủ đã cụ thể hóa bằng Nghị quyết số
24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 ban hành Chương trình hành động
của Chính phủ về phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Quyết định số
491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành
Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Theo đó, đối với xã nông thôn
mới gồm 19 tiêu chí theo 05 nhóm: "Quy hoạch; Hạ tầng kinh tế - xã hội; Kinh tế
và tổ chức sản xuất; Hệ thống chính trị. Huyện nông thôn mới có 75% số xã trong
huyện đạt nông thôn mới; tỉnh nông thôn mới có 80% số huyện trong tỉnh đạt
18
nông thôn mới" [7, tr.10]. Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4 tháng 6 năm 2010
của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây
dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 với mục tiêu: "Đến năm 2015 có 20%
số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Đến năm 2020 có 50% số xã đạt chuẩn nông thôn
mới (theo Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới)" [65, tr.1].
Những chủ trương, chính sách trên đây của Đảng và Nhà nước là cơ sở
nền tảng để Đảng bộ tỉnh Bắc Giang quán triệt, cụ thể hóa thành chủ trương
lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm, khả năng
nhà nước trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp; công nghiệp chế biến nông lâm,
thuỷ sản đang có chiều hướng phát triển mạnh.
Kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội ở nông thôn được tăng cường: cơ sở hạ tầng
về thuỷ lợi trên địa bàn 202 xã hiện có 607 trạm bơm; trong đó đạt yêu cầu 233
trạm. Có 710 hồ chứa, đập dâng đáp ứng được 85% nhu cầu nước cho sản xuất;
có 348 hố chứa, đập dâng đạt yêu cầu. Tổng chiều dài kênh mương do xã quản lý
là 5.553 km, đã kiên cố hóa 1.730 km đạt tỷ lệ 31%. Công tác thủy lợi đảm bảo
tưới tiêu cho 80% diện tích canh tác. Giao thông các xã hiện có 15.194 km đường
giao thông nông thôn, đã cứng hóa 7.293 km đạt 48%. Trong đó: đường trục xã là
1.540 km; đã cứng hóa 1.176 km chiếm tỷ lệ 76%. Đường trục thôn có 4.435 km;
đã cứng hóa 2.540 km, chiếm tỷ lệ 57%. Đường trục chính nội đồng có 2.812 km;
đã cứng hóa 499km, chiếm tỷ lệ 18%. Đến năm 2013 đã có 100% xã có đường
giao thông đến trung tâm xã. Các trạm y tế xã được xây dựng tương đối kiên cố,
tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế là 194/202 đạt 96%. Tỷ lệ người tham gia bảo
hiểm y tế là 48%. Giáo dục phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học
cơ sở là 100%. Tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp trung học cơ sở tiếp tục học trung học
phổ thông, trung học bổ túc, học nghề là 84%. Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào
tạo đạt 31%. Tỷ lệ xã có điểm bưu điện văn hóa là 100%; tỷ lệ xã có điểm truy
cập Internet là 100%; tỷ lệ thôn có điểm truy cập Internet là 87%; tỷ lệ diện tích
toàn tỉnh được phủ sóng phát thanh, sóng truyền hình là 100% và các công trình
văn hóa xã hội khác được đầu tư cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới..., bộ mặt
nông thôn có nhiều thay đổi; đời sống vật chất và tinh thần của nông dân ở hầu hết
các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện. Công tác xoá đói giảm nghèo đạt
kết quả khá, tỷ lệ hộ nghèo đến hết năm 2007 còn 21,28%, tỷ lệ sử dụng thời gian
20
sử dụng lao động ở khu vực nông thôn tăng từ 82% lên 87%. Hệ thống chính trị ở
nông thôn được củng cố và tăng cường, an ninh chính trị được giữ vững.
Diện tích đất lâm nghiệp lớn nhưng đóng góp của ngành lâm nghiệp vào tăng
trưởng kinh tế của địa phương còn rất nhỏ.
Hai là, ruộng đất ở nông thôn bị chia nhỏ, không phù hợp với yêu cầu
của việc sản xuất hàng hoá lớn, tập trung. Quá trình cơ giới hoá nông nghiệp
và việc áp dụng các quy trình kỹ thuật sản xuất tiên tiến còn diễn ra chậm.
Hầu hết các khâu sản xuất đều làm thủ công, dẫn đến năng suất lao động ở
nông thôn rất thấp. Nguy cơ phát sinh các dịch bệnh còn cao.
Ba là, tình trạng sử dụng phân hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và
các chất kích thích sinh trưởng không đúng quy trình kỹ thuật đã dẫn đến ô
nhiễm môi trường, không đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm;
khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá thấp.
Bốn là, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất chưa thực sự
mạnh mẽ, chưa tạo bước đột phá trong phát triển; chưa gắn kết giữa đơn vị
chế biến với việc hình thành các vùng nguyên liệu.
Năm là, kết cấu hạ tầng nông thôn tuy được tăng cường song chất lượng
còn thấp, thiếu đồng bộ. Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch; chất lượng lưới
điện, đường giao thông nông thôn, hệ thống trạm bơm và kênh mương xuống
cấp nghiêm trọng nhưng chưa được đầu tư sửa chữa kịp thời. Đời sống vật chất
tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, nhất là ở vùng núi, vùng ngoài đê;
tỷ lệ hộ nghèo cao; tỷ lệ lao động nông nghiệp qua đào tạo còn thấp.
Những hạn chế, yếu kém trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan
nhưng chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan. Chương trình hành động chỉ rõ:
Một số cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, ban, ngành chưa tích cực, chủ động
trong việc tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ về phát triển nông
nghiệp, nông thôn. Một bộ phận nông dân vẫn còn tư tưởng bao cấp, trông
chờ, ỷ lại vào Nhà nước; chưa thích ứng nhanh với cơ chế thị trường. Cơ
chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân chưa đồng bộ,
thiếu tính đột phá; tỷ lệ đầu tư ngân sách cho nông nghiệp, nông thôn còn
thấp. [70, tr.2]
thống chính trị cơ sở vững mạnh. [72, tr.3]
23
Xây dựng nông thôn mới với phương châm: Kinh tế phát triển - Đời
sống ấm no - Thôn bản văn minh - An ninh ổn định - Quản lý dân chủ.
Mục tiêu cụ thể:
Một là, đến năm 2015: 20% tổng số xã (40 xã) đạt xã nông thôn mới;
Tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông - lâm - thủy sản còn 56%; Thu nhập của
người dân nông thôn gấp 1,8 lần trở lên so với hiện nay.
Hai là, đến năm 2020: 50% tổng số xã đạt xã nông thôn mới; Tỷ lệ lao
động trong lĩnh vực nông - lâm - thủy sản còn 45%; Thu nhập của người dân
nông thôn gấp 2,5 lần trở lên so với 2010.
*Nhiệm vụ, giải pháp
Để đạt được mục tiêu nêu trên, Đảng bộ tỉnh Bắc Giang xác định phải
kiên quyết thực hiện tốt những nhiệm vụ, giải pháp cơ bản sau:
Một là, công tác tuyên truyền, vận động
Xác định thông tin tuyên truyền là công tác quan trọng trong quá trình
xây dựng nông thôn mới. Vì vậy, tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong cán
bộ, đảng viên, hội viên và Nhân dân, nhất là nông dân nhận thức đúng các
chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng nông thôn mới là
Chương trình phát triển toàn diện, bền vững, tổng hợp cả về kinh tế, văn
hoá, chính trị và xã hội, với mục đích nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần cho người dân ở nông thôn. Đồng thời, cụ thể hóa những chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước để triển khai thực hiện thắng lợi các chỉ
tiêu, nhiệm vụ của các kế hoạch, nghị quyết về phát triển nông thôn mới tỉnh
Bắc Giang đến năm 2020.
Phát động các phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới sâu rộng trong
toàn xã hội, cụ thể ở từng ngành, từng cấp. Xác định đó là nhiệm vụ của cả hệ
và ngày công lao động của Nhân dân để xây dựng nông thôn mới.
Ủy ban nhân dân các cấp tiến hành rà soát, đánh giá hiệu quả của những
cơ chế chính sách đã đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn. Trên cơ sở đó đề
xuất các giải pháp cụ thể để tiếp tục thực hiện trong thời gian tiếp theo. Ủy
ban nhân dân tỉnh tổng hợp, phân tích, dự báo và xây dựng các cơ chế, chính
sách phù hợp với từng giai đoạn trình Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét, quyết
25