ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI (2009 - 2014 - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
---------------------

NGUYỄN THỊ QUÝ

ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
(2009 - 2014)

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
THS TRẦN THỊ THU HÀ

HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN

.
X



ý

p ạ H Nộ 2





Thu Hà này.
e







p ạ







H Nộ 2



p

.

e

!
H Nộ

H Nộ

05 ă 2015

Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Quý


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1CƠ SỞ ĐỂ ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH LÃNH ĐẠO XÂY
DỰNG NÔNG THÔN MỚI (2009 - 2014) .................................................... 5
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỈNH THÁI BÌNH ..............................................5
1.1.1. Điều kiện tự nhiên .............................................................................. 5
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Thái Bình trước năm 2009 ................ 8
1.2. THỰC TRẠNG VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM
TRƯỚC NĂM 2009 ................................................................................................17
1.2.1. Các quan điểm của Đảng về xây dựng nông thôn mới trước Đại hội VI
(1986)........................................................................................................................18
1.2.2. Các quan điểm của Đảng về xây dựng Nông thôn mới từ Đại hội VI
đến 2009 ...................................................................................................................20
1.2.3. Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam trước 2009 ........ 26
1.3. THỰC TRẠNG VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở THÁI BÌNH
TRƯỚC NĂM 2009 ................................................................................................28
1.4 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI GIAI ĐOẠN 2009 - 2014 ....................................................28
Chương

2ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI


nước và giữ nước nên phần lớn cư dân nước ta sống quần tụ theo từng dòng
họ và theo phạm vi làng xã. Cùng với văn minh lúa nước, làng (bản, thôn,
xóm…) đã trở thành nét văn hoá riêng của người Việt Nam từ muôn đời nay.
Đến nay quá trình đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ nhưng vẫn còn hơn 70%
dân số sinh sống và hơn 54% lao động việc làm ở nông thôn.
Nông thôn nước ta luôn chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình
dựng nước và giữ nước. Trong các cuộc chiến tranh chống lại các cuộc xâm
lược ngoại bang, nông thôn là nơi cung cấp người và của để chiến thắng quân
thù. Trong hàng ngàn năm phát triển, nông thôn là nơi hình thành và lưu giữ
những nét bản sắc văn hoá của dân tộc. Ngày nay nông thôn vừa là nơi cung
cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp
chế biến, nông sản hàng hoá cho xuất khẩu, nhân lực cho các hoạt động kinh
tế và đời sống của đô thị, vừa là nơi tiêu thụ hàng hoá do các nhà máy ở thành
phố sản xuất ra.
Thái Bình là một tỉnh đồng bằng ven biển, là vựa lúa chính của đồng
bằng Bắc Bộ, có đồng ruộng bằng phẳng, đất đai màu mỡ. Thái Bình nằm
trong phạm vi ảnh hưởng của địa bàn kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có đường bờ
biển và hệ thống sông ngòi thuận lợi cho giao lưu kinh tế. Thành phố Thái
Bình cách thành phố Hải Phòng 70km và cách thủ đô Hà Nội 110km, là
những thị trường tiêu thụ rộng lớn trong việc hỗ trợ đầu tư kĩ thuật, kinh
nghiệm quản lý, chuyển giao công nghệ và thông tin cho tỉnh. Vị trí địa lý
trên đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho Thái Bình phát triển và mở rộng giao
lưu kinh tế trong mọi lĩnh vực với các tỉnh trong cả nước và quốc tế.

1


Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam nói chung và Thái Bình nói riêng
là chủ trương lớn, đúng đắn của Đảng và nhà nước ta, vì trong quá trình này
đã thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển, tạo công ăn việc làm, tăng thu

3.1. Mục đích
Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình trong quá trình xây
dựng nông thôn mới từ năm 2009 đến năm 2014 qua đó đánh giá được những
thuận lợi, khó khăn, đưa ra phương hướng, giải pháp xây dựng nông thôn mới
ở địa phương.
3.2. Nhiệm vụ
Khóa luận nghiên cứu:
- Cơ sở Đảng bộ Thái Bình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới (2009 2014)
- Đảng bộ Thái Bình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới (2009 - 2014)
- Nhận xét
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2009 đến năm 2014
- Không gian nghiên cứu: trên cơ sở cả nước nói chung, tìm hiểu về Thái
Bình nói riêng.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu chủ yếu là các văn kiện Đại hội Đảng và chuyên khảo về
Lịch sử Đảng bộ, các báo cáo tổng kết kinh tế hàng năm của huyện, tỉnh và
các Nghị quyết của Huyện uỷ và Tỉnh uỷ Thái Bình.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Là một đề tài nghiên cứu lịch sử Đảng bộ địa phương, phương pháp sử
dụng trong khoá luận bao gồm các phương pháp: Nghiên cứu chủ nghĩa Mác
– Lênin với tư tưởng Hồ Chí minh, kết hợp phương pháp lịch sử, phương

3


pháp logic, phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp tổng hợp, phân tích
cùng với phương pháp điền dã.
5. Đóng góp của khoá luận

Tây và Tây Nam. Phía Đông là biển Đông (vịnh Bắc Bộ). Theo quy hoạch
phát triển kinh tế, Thái Bình thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ.
1.1.1.2. Điều kiện tự nhiên
Địa hình
Địa hình khá bằng phẳng với độ dốc thấp hơn 1%; độ cao phổ biến từ 1
- 2 mét trên mực nước biển, thấp dần từ Bắc xuống Đông Nam. Thái Bình có
bờ biển dài 52 km.
Tỉnh có 4 con sông chảy qua: phía Bắc và Đông Bắc có sông Hóa dài
35 km, phía Bắc và Tây Bắc có sông Luộc (phân lưu của sông Hồng) dài
53 km, phía Tây và Nam là đoạn hạ lưu của sông Hồng dài 67 km, sông Trà
Lý (phân lưu cấp 1 của sông Hồng) chảy qua giữa tỉnh từ Tây sang Đông dài
65 km. Các sông này tạo ra 4 cửa sông lớn: Diêm Điền (Thái Bình), Ba Lạt,
Trà Lý, Lân. Do đặc điểm sát biển nên chúng đều chịu ảnh hưởng của chế độ
thủy triều, mùa hè mức nước dâng nhanh với lưu lượng lớn và hàm lượng phù

5


sa cao, mùa đông lưu lượng giảm nhiều và lượng phù sa không đáng kể khiến
nước mặn ảnh hưởng sâu vào đất liền từ 15 - 20 km.
Khí hậu - Thủy văn
Thái Bình nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm: mùa hè nóng ẩm,
mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 9; mùa đông khô lạnh từ tháng 11 năm trước
đến tháng 3 năm sau; tháng 10 và tháng 4 là mùa thu và mùa xuân tuy không
rõ rệt như các nước nằm phía trên vành đai nhiệt đới. Nhiệt độ trung bình:
23,5 °C. Số giờ nắng trong năm: 1.600-1.800 giờ. Độ ẩm tương đối trung
bình: 85-90%
Tỉnh Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nên hàng năm đón
nhận một lượng mưa lớn (1.700-2.200mm), lại là vùng bị chia cắt bởi các con
sông lớn, đó là các chỉ lưu của sông Hồng, trước khi chạy ra biển

tạo thành vườn tược, và tận dụng nguồn nước từ ao hồ quanh nhà để lấy nước
sinh hoạt. Vì vậy phần lớn làng xóm, cư dân của Thái Bình (nhà cửa, ruộng
vườn) đều gần với ao đầm. Tổng diện tích ao hồ gần 6.575ha, chiếm 4,25%
đất đai của tỉnh. Các ao hồ của Thái Bình thường có diện tích không lớn
(khoảng 200-300m2). Những năm gần đây, diện tích một số ao hồ được cải
tạo, có xu hướng tập trung thành quy mô trang trại để nuôi tôm cá theo quy
trình bán công nghiệp. Bước đầu một số ao hồ nuôi tôm cá đã đem lại hiệu
quả kinh tế cao, nhất là các vùng nuôi tôm ở các ao đầm ven biển (tôm sú,
tôm rảo..).
Biển
Biển Thái Bình nằm trong vùng biển vịnh Bắc Bộ, là một phần của
Biển Đông. Biển Đông là một biển lớn thông với Thái Bình Dương qua các
eo biển rộng. Vịnh Bắc Bộ nằm ở phía Tây Bắc biển Đông, thực ra là phần
lục địa bị chìm dưới nước biển do đó biển nông, nơi sâu nhất không quá
200m.
7


Thái Bình là bộ phận của tam giác châu thổ sông Hồng, thuộc trầm tích
bờ rời Đệ Tứ có nguồn gốc song - biển hỗn hợp. Xét về mặt tổng thể thì trầm
tích này có khả năng chứa nước rất lớn, mực nước ngầm nông, dễ khai thác.
Tài nguyên thiên nhiên
Khí mỏ: Thái Bình có mỏ khí đốt Tiền Hải đã được khai thác từ
năm 1986 với sản lượng khai thác hàng năm vài chục triệu m³ khí thiên nhiên.
Nước khoáng: Mỏ Tiền Hải ở độ sâu 450 m có trữ lượng khoảng 12
triệu m³, đã khai thác từ năm 1992, sản lượng 9,5 triệu lít với các nhãn
hiệu nước khoáng Vital, nước khoáng Tiền Hải.
Nước khoáng nóng: Đã thăm dò và phát hiện ở làng Khả xã Duyên Hải
huyện Hưng Hà mỏ nước nóng 57 °C ở độ sâu 50 m và nước nóng 72 °C ở độ
sâu 178 m có thể sẽ được đầu tư khai thác phục vụ phát triển du lịch và chữa

vực có năng suất thấp và chịu ảnh hưởng nhiều do tác động của thiên nhiên)
chiếm tới 42% tổng GDP.
GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 5,70 triệu đồng (370 USD), so
với năm 2004 tăng 18%; so với năm 2000 tăng 75,4%. Tuy tăng nhanh qua
các năm, nhưng so với mục tiêu Đại hội XVI tỉnh Đảng bộ đề ra thì chỉ tiêu
này mới đạt 92,5% (mục tiêu 400 USD) và thấp hơn mức bình quân chung
của cả nước (5,70 triệu đồng so với 8,69 triệu đồng).
Cơ cấu theo nhóm ngành kinh tế của Thái Bình đang có sự chuyển dịch
theo hướng và mục tiêu đã đề ra. Tỷ trọng khu vực công nghiệp xây dựng từ
14,75% năm 2000, tăng lên 22,86% năm 2005, so với mục tiêu đại hội vượt
5,86%. Khu vực dịch vụ tăng từ 31,56% năm 2000 lên 34,87% năm 2005,
chưa đạt được mục tiêu đại hội đề ra (mục tiêu 35%) [13, tr.5].
Sự tăng trưởng của nền kinh tế đã góp phần quan trọng trong việc huy
động GDP vào ngân sách của tỉnh.

9


Lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản năm 2005 đạt 4821 tỷ đồng (giá cố
định 1994), so với năm 2004 tăng 2,49% và tăng 21,59% so với năm 2000,
bình quân 5 năm tăng 4,0%, vượt mục tiêu đại hội 0,54%. GDP khu vực
nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2005 đạt 3138 tỷ đồng tăng 1,26% so với
năm 2004 và tăng 17,2% so với năm 2000. Mức tăng bình quân 5 năm là
3,23%.
- Riêng nông nghiệp giá trị sản xuất năm 2005 đạt 4354 tỷ đồng, so với
năm 2004 tăng 1,65%, so với năm 2000 tăng 18,8%, bình quân 5 năm tăng
3,51%. Mức tăng trưởng sản xuất nông nghiệp của tỉnh những năm vừa qua
thấp (trong khi nông nghiệp cả nước tăng bình quân khoảng 4,4%). Nguyên
nhân khách quan do thiên tai xảy ra đối với trồng trọt 2 năm 2001 và 2003;

Khó khăn và hạn chế của nông nghiệp là: Hệ thống cơ sở vật chất kỹ
thuật phục vụ nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản chưa đáp ứng được yêu cầu
phát triển bền vững, khả năng chống đỡ thiên tai còn hạn chế; kinh tế hộ gia
đình, kinh tế tư nhân trong nông nghiệp, nông thôn còn yếu. Tác động của
công nghiệp vào nông nghiệp và thuỷ sản chưa rõ nét, công nghiệp chế biến
nông, hải sản chậm phát triển. Giá cả vật tư nông nghiệp, phân hoá học, thuốc
trừ sâu, tăng cao hơn hẳn giá nông sản, nên tỷ lệ lãi của người nông dân thấp.
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp của Thái Bình năm 2005 đạt 3317 tỷ đồng
(theo giá cố định 1994), so với năm 2004 tăng 20,83%, so với năm 2000 tăng
gấp 2,3 lần, bình quân 5 năm tăng 17,8%. So với thời kỳ (1996-2000) tăng gấp
2,2 lần; năm 2005 toàn tỉnh có 173 làng nghề đạt tiêu chuẩn 100% số xã có
nghề (năm 2001 có 82 làng nghề) [13, tr.10]. Nghề và làng nghề được mở rộng
và phát triển, đã giải quyết việc làm tại chỗ, giảm hộ thuần nông, tăng thu nhập
cho người lao động và góp phần từng bước đô thị hoá nông thôn. Đồng thời
11


tỉnh có chủ trương phát triển mạnh các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập
trung. Đến nay có 5 khu công nghiệp là Phúc Khánh, Nguyễn Đức Cảnh, Tiền
Hải, Cầu Nghìn, Xuân Hoà và phát triển các cụm công nghiệp ở tất cả các
huyện, thành phố.
Thái Bình đã tập trung vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công
nghiệp và cụm công nghiệp bằng mọi nguồn vốn huy động được và xây dựng
các khu này để làm nòng cốt cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển đô thị. Từ năm 2001 đến 2005, có
109 dự án hoàn thành, đi vào sản xuất, với số vốn đầu tư 1600 tỷ đồng, tạo
việc làm cho gần 2,5 vạn lao động.
Thái Bình đã tích cực sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước theo Nghị
định 103/CP, đa dạng hoá các loại hình sản xuất công nghiệp. Từ năm 2001

tỷ đồng cho tỉnh. Các tầng lớp dân cư cũng đã đầu tư xây dựng và mua sắm
thiết bị với số vốn khá lớn, chiếm khoảng trên 60% tổng số vốn đầu tư toàn xã
hội, làm cho nền kinh tế của tỉnh có nhiều khởi sắc, bộ mặt thành phố và nông
thôn có nhiều thay đổi.
Giá trị sản xuất ngành xây dựng từ năm 2001 đến 2009 luôn tăng ở mức
khá: năm 2005 tăng 14,7% so với năm 2004 và gấp 1,5 lần so với năm 2000,
bình quân hàng năm tăng 8,8% [13,tr.18].
Giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, thương mại, dịch vụ
Các công trình giao thông vận tải trong những năm qua được đầu tư
đúng mức. Cầu Tân Đệ, quốc lộ 10, các cầu cống, bến phà, bến bãi,... được
hoàn thành, hệ thống giao thông nông thôn tiếp tục đầu tư cải tạo, nâng cấp.
Đặc biệt các tuyến đường nối các thôn xóm do xã quản lý (có trên 2000 km)
hầu như đã được rải nhựa và bê tông.

13


Về vận tải, đã cổ phần hoá công ty xe khách, giải thể xí nghiệp vận tải
hàng hoá, cho phép thành lập các công ty tư nhân, liên doanh, liên kết với tỉnh
ngoài và có đủ các thành phần kinh tế tham gia vận tải.
Phương tiện vận tải được đầu tư, nâng cấp, vận tải hành khách phần lớn
bằng xe có chất lượng cao, đảm bảo vận chuyển an toàn và đáp ứng đầy đủ
mọi nhu cầu đi lại của nhân dân.
Vận tải hàng hoá, phát triển mạnh cả đường bộ, đường sông, đường
biển. Khối lượng vận tải và doanh thu vận tải những năm qua tăng nhanh.
Năm 2005 vận tải hàng hoá đạt 8 triệu tấn, tăng gấp 3,2 lần so với năm 2000,
khối lượng hành khách vận chuyển đạt 6,7 triệu lượt người. Doanh thu vận tải
hàng hoá và hành khách đạt 540 tỷ đồng, tăng gấp 5 lần so với năm 2000.
Giá trị sản xuất ngành vận tải năm 2005 tăng gấp 2,7 lần năm 2000, bình
quân hàng năm tăng 21,65%.

năm 2001 đạt 47 triệu USD, năm 2002 đạt 53 triệu USD, năm 2003 đạt 64
triệu USD, năm 2004 đạt 81,9 triệu USD. Đến năm 2005 đạt 95 triệu USD, so
với năm 2004 tăng 15,8%, so với năm 2000 gấp 2,8 lần, bình quân 5 năm tăng
21,5%/năm, vượt mục tiêu Đại hội XVI là 27% (vượt 20 triệu USD). Tổng
kim ngạch xuất khẩu 5 năm (2001 - 2005) đạt 341 triệu USD.
Tổng trị giá nhập khẩu năm 2009 đạt 195 triệu USD, tổng trị giá nhập
khẩu 5 năm (2001 - 2005) là 311 triệu USD. Bình quân tăng 12,8%/năm.
Những mặt hàng chủ yếu nhập trong năm qua là nguyên liệu cho sản xuất
công nghiệp như: sắt, thép, bông, men sản xuất gạch, nguyên phụ liệu ngành
dệt, may, hoá chất, chất phụ da, thuốc chữa bệnh và một số hàng phục vụ tiêu
dùng,v.v...
Thu ngân sách nhà nước năm 2005đạt 2902 tỷ đồng, thu trên địa bàn
tỉnh đạt 1202 tỷ đồng, gấp 4,0 lần so với năm 2000. Tổng chi ngân sách địa
phương ước năm 2005 là 1836 tỷ đồng, chi cho phát triển kinh tế 1126 tỷ
15


đồng, tăng 35,9% so với năm 2004. Chi cho tiêu dùng thường xuyên 825 tỷ
đồng tăng 0,5% so với năm 2004. Nguồn vốn tín dụng huy động 2880 tỷ
đồng, gấp 2,3 lần, cho vay đạt 4083 tỷ đồng, gấp 3,3 lần so với năm 2003.
Nhìn chung các ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng ổn định, giá trị sản
xuất năm 2009 đạt 3769 tỷ đồng (giá so sánh 1994), tăng 11,7% so với năm
2006, tăng 58,5% so với năm 2000, bình quân 5 năm tăng 9,65%/năm, so với
mục tiêu Đại hội XVI chưa đạt, còn thấp hơn 1,35% (mục tiêu đại hội tăng
11%) [13, tr.21 - 23].
1.1.2.2. Dân số và lao động
Dân số
Dân số trung bình của Thái Bình là 1.786 ngàn người, chiếm 0,5% về diện
tích, chiếm 9,85% dân số vùng Đồng bằng sông Hồng và khoảng 2,23% của cả
nước.

Lao động
Năm 2007 lao động trong độ tuổi 1.092 nghìn người, Lao động đang
làm việc trong các ngành kinh tế:
- Ngành nông nghiệp: 640,2 nghìn người, ngành công nghiệp 178,7
nghìn người, xây dựng 30,6 nghìn người, công nghiệp và xây dựng chiếm
21%, Dịch vụ 461,5 nghìn chiếm 14,6%
Lao động có trí thức chiếm 6,5%, lao động có nghề chiếm 30%, lao
động phổ thông 63,5%
Tỉnh có hơn 146.000 công nhân viên chức,trong lĩnh vực sản xuất kinh
doanh có 77.000 lao động
Tiềm lực khoa học công nghệ :(7/2007) Toàn tỉnh có trên 30.453 người
có trình độ từ cao đẳng Đại học trở lên (tăng 28% so 2005), Trí thức có trình
độ trên đại hoăc (Thạc sỹ, Bác sỹ, dược sỹ chuyên khoa I,II ) là 852 người
(tăng 47% 2005) và 98 tiến sỹ (tăng 237% 2005).
1.2. THỰC TRẠNG VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM
TRƯỚC NĂM 2009
Đến nay, khái niệm nông thôn được thống nhất theo Thông tư số
54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn. Cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị
các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban
nhân dân xã".
"Nông thôn mới là nông thôn văn minh hiện đại nhưng vẫn giữ được
nét đẹp của truyền thống Việt Nam.
Nông thôn mới là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh
thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa
nông thôn và thành thị. Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật

17



nghiệp hợp lí”.
Như vậy, từ Đại hội III đến Đại hội IV và Đại hội V của Đảng, chúng
ta có thể khẳng định rằng, tuy chưa đề cập đến cụm từ “Nông thôn mới”
nhưng Đảng ta luôn xác định nông nghiệp có một vị trí rất quan trọng, là mặt
trận hàng đầu, đồng thời đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối để phát triển
nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại.
1.2.2. Các quan điểm của Đảng về xây dựng Nông thôn mới từ Đại hội VI
đến 2009
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI: Đại hội VI đã đề ra những quan
điểm và chính sách đổi mới, trước hết là đổi mới kinh tế; phấn đấu đưa nông
nghiệp trở thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa; thừa
nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần; xác định cải tạo xã hội chủ nghĩa là
nhiệm vụ thường xuyên liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội; xoá bỏ cơ chế kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới
phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế.
Đại hội chỉ rõ: “… nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những
năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công
nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo” [17, tr.20].
Từ những tư tưởng chỉ đạo trên và rút kinh nghiệm từ khoán theo Chỉ
thị 100 của Ban Bí thư (khoá IV), Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khoá VI)
đã thổi vào nông nghiệp, nông thôn nước ta một luồng gió mới, cuộc sống của
người dân đã được cải thiện nhanh chóng.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII:
Đại hội VII đã chỉ rõ: “Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công
nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status